Mô hình « Đồng thuận Bắc Kinh » phá sản ?

Posted on February 26, 2011

0



"Đồng thuận Bắc Kinh": chủ nghĩa tư bản và độc đảng, công an trị

Phải chăng cái gọi là mô hình « Đồng thuận Bắc Kinh » đã đến ngày tàn ? Đó là câu hỏi mà giới phân tích đặt ra, trước phong trào phản kháng trong thế giới Ả Rập hiện nay. Bên cạnh những bình luận, nhận định về nguyên nhân dẫn tới những cuộc nổi dậy tại Tunisia, Ai Cập, Libya, Yemen …thì còn có tranh luận về mô hình phát triển.

Từ nhiều năm nay, một số chuyên gia thường nói đến mô hình phát triển được gọi là « Đồng thuận Bắc Kinh ». Mô hình này chủ trương phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa và duy trì chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo. Tại nhiều nước đang phát triển, mô hình này được thể hiện cụ thể như sau : chủ nghĩa tư bản đi kèm với sự hiện diện của cảnh sát, mật vụ khắp nơi, một chế độ công an trị.

Các thành công về kinh tế của Trung Quốc, nơi mà đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo đất nước từ năm 1949 đến nay đã tạo thêm tính chính đáng cho mô hình này. Sau ba thập niên cải cách, phát triển, mở cửa kinh tế, Trung Quốc đã trở thành đối thủ đáng gờm của Hoa Kỳ về kinh tế và trong tương lai, cả về quân sự.

Đối với các chính thể chuyên quyền, độc đoán thì đây là giải pháp mầu nhiệm, phù hợp hơn là nền dân chủ « theo kiểu phương Tây » : Vừa phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập vào nền kinh toàn cầu, vừa duy trì được sự độc quyền lãnh đạo đất nước. Chính vì vậy, mô hình « Đồng thuận Bắc Kinh » đã được sao chép, áp dụng, tại nhiều quốc gia đang phát triển – hay còn gọi là các nền kinh tế phương Nam và kể cả Nga.

Thậm chí, một số chuyên gia Mỹ, châu Âu cũng tán dương, ca ngợi mô hình này. Năm ngoái, 2010, giáo sư Stefan Halper, thuộc đại học Cambridge – Anh Quốc – còn có một tiểu luận nhan đề « Đồng thuận Bắc Kinh hay mô hình chuyên quyền Trung Quốc sẽ ngự trị thế kỷ XXI ra sao. Theo vị giáo sư này, mô hình « Đồng thuận Bắc Kinh » là một gỉai pháp khả tín, thay thế cho mô hình « Đồng thuận Washington ». Trường hợp của Trung Quốc cho thấy là chỉ cần tự do kinh doanh đầu tư và độc đảng lãnh đạo, không cần phát triển các quyền tự do phổ cập khác của công dân.

Dường như thành ngữ « Đồng thuận Bắc Kinh » do nhà tư vấn người Mỹ Joshua Cooper Ramos nhào nặn ra vào năm 2004 để đối lập với cái gọi là « Đồng thuận Washington ».

Mô hình « Đồng thuận Washington » được nói đến nhiều vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, đề cao phương thức lãnh đạo quản lý một cách dân chủ nhất, tự do kinh doanh đầu tư, tự do trao đổi thương mại quốc tế. Hoa Kỳ và đặc biệt là Quỹ Tiền tệ Quốc tế – IMF, cổ vũ cho mô hình được coi là các bên cùng có lợi, phù hợp với nền kinh tế của các nước nghèo, đang phát triển, với nước Nga và các quốc gia Trung Đông Âu trong thời kỳ phi Sô viết hóa.

Theo phân tích của nhà báo Alain Franchon, trên báo Le Monde, thì tại Ai Cập, có lẽ chính quyền Mubarak cũng nghĩ như vậy. Thế nhưng, cuộc nổi dậy của giới trẻ Ai Cập tại quảng trường Tahrir – Giải phóng, ở thủ đô Cairo đưa ra một thông điệp rõ ràng : Mô hình « Đồng thuận Bắc Kinh » không phải là một giải pháp màu nhiệm, không bảo đảm ổn định chính trị trong tương lai, cho dù chế độ chuyên quyền có tạo thuận lợi phát triển kinh tế, nhưng không có gì chắc chắn là mô hình này mang lại hạnh phúc cho người dân. Nói tóm lại, những giá trị được quảng bá, tuyên truyền của mô hình « Đồng thuận Bắc Kinh », được thể hiện qua các chế độ bạo quyền của Ben Ali tại Tunisia, hay Mubarak tại Ai Cập, có những giới hạn của nó.

Báo Le Monde trích đăng xã luận của tờ Thời báo Matxcơva, « Bất kể những ồn ào mà các nhà phân tích chính trị đã gây ra vào năm ngoái liên quan đến việc mô hình dân chủ phương Tây bị mất ảnh hưởng và về sự vươn lên của mô hình chuyên quyền độc đoán (bao gồm Trung Quốc, Singapore, v.v.), lịch sử lại không đứng về phía chuyên quyền độc đoán, bởi vì theo định nghĩa, chuyên quyền độc đoán không có tính chính đáng và bản chất của nó là bất ổn định ».

Đức Tâm

Cũng Độc Như Thời Mao

Trong Chiến tranh Lạnh, nước Pháp là nước có bang giao và giao thương với hầu hết các chế độ CS. Gần đây chánh quyền Pháp khác với các nước trong Liên Âu còn muốn gỡ cấm vận buôn bán vũ khi cho Trung Cộng sau vụ CS dùng xe tăng, quân đội đàn áp đẫm máu sinh viên đòi tự do, dân chủ ở Thiên An Môn. Nhưng báo chí Pháp lại khác, nhứt là các nhựt báo lớn có nhiều tin phản ảnh trung thực bản chất ác của CS sau khi Đảng Nhà Nước TC mở kinh tế và vẩn khoá chặt chánh trị. Nhiều hơn báo chí Mỹ nhiều. Thí dụ như những trường họp điển hình, những hình ảnh bắt cóc, tra tấn, tù đày tiêu biếu của Đảng, Nhà Nước TC của thời từ Đặng Tiểu Bình, Trung Cộng đổi mới kinh tế cho dến bây giờ cũng độc như thời CS đặc sệt của Mao Trạch Đông trờ về trước.

Như hình ảnh một luật sư dân quyền trong chế độ Trung Cộng sau 14 tháng bị bắt cóc biệt vô ăm tín tăm, khi trở về thân tàn ma dại khó ai có thề nhìn ra Ông nữa vị bị tù đày, hành hạ, tra tấn tàn bạo. Báo Pháp Le Nouvel Observateur cho biết Luật sư Cao trí Thịnh này là luật sư giỏi của Trung Quốc; chính Bộâ Tư Pháp của nước này cũng công nhận như thế. Còn đối với dân chúng Trung Quốc, Ông là một «Luật sư can đảm của Trung Quốc” , là «lương tâm Trung Hoa», «luật sư bạo miệng» và là «nỗi kinh hoàng» của cán bộ đảng viên tham những. Ông từng giúp người dân khiếu kiện đảng viên cán bộ lạm quyền, đàn áp tôn giáo với khoảng 100.000 kháng nghị tập thể và đã có 12 triệu đơn khiếu nại của dân oan.

Học một sách CS, cũng như ở VN, công an TC giả dạng côn đồ trấn áp, bắt cóc Ông vào tháng 8 năm 2006. Tra tấn suốt 10 ngày, buộc Ông ký giấy nhận tội «kích động lật đổ chế độ» và khi ra cấm tiết lộ cuộc bắt bờ và điều tra. Nhưng tương kế tựu kế, ra ngoài Ls Thịnh lập tức tố cáo TC đánh đập, hành hạ Ông dã màn, đàn áp Pháp Luân Công tàn bạo như «phát xít» và yêu cầu Mỹ xét xử những người đàn áp Pháp Luân Công về «tội ác chống nhân loại». Ông bị bắt lại, tra tấn suốt 54 ngày, và đày về cho địa phương “quản lý”. Vợ con ông may mắn đào thoát được đi tỵ nạn chánh trị, Mỹ chấp nhận cho định cư.

Tiếp theo như hình ảnh nhiều nhà trí thức Tây Tạng bị trấn áp, bắt giam, sau cuộc nổi dậy hồi tháng 8 năm 2008 ở thủ đô Tây Tạng. Tuần san Le Courrier International đưa ra hai vụ tiêu biểu. Nhà văn trẻ Theurang bị bắt vì viết quyển «Huyết thư», mô tả dưa ra ánh sáng và làm bằng cớ trong thư tịch về vụ nổi dậy ở Tây Tạng năm 2008. Tác giả bị bắt ngày 26 tháng 7 năm 2009, rồi thả và bắt lại vào tháng 4 năm 2010. Từ đó đến nay, anh biệt vô âm tín.

Trường hợp thứ hai là nhà văn nổi tiếng Tragya, bị bắt về tội «kích động lykhai», chỉ vì đã cho xuất bản tác phẩm «Thiên Địa Giới », trong đó ông viết : «Tôi quyết tâm theo đuổi con đường mình đã chọn, thậm chí có phải rơi đầu đi chăng nữa».

Báo Le Courrier International cho biết, “ở Tây Tạng, chỉ cần hô khẩu hiệu ủng hộ Tây Tạng tự do hay ủng hộ Đức Đạt Lai Lạt Ma, thì người ta có thể bị tống giam. Thậm chí chỉ cần giữ hình Đức Đạt Lai Lạt Ma hay chỉ cần dán áp phích có liên quan đến vấn đề tự trị Tây Tạng, là lập tức bị cầm tù.”

Những kiểu diệt người yêu nước, thương dân dám nói lên tiếng nói ngược lại đảng Nhà Nước CS thờøi TC dồi mới kinh tế cũng như thời Mao trạch Đông. Nhựt báo Pháp Le Monde có một bài nói Liên hoan Venise năm nay có chiếu phim tài liệu «Giáp Biên Câu» của đạo diễn Vương Bính, được trình chiếu vào ngày 6 tháng 9. Theo báo này đó là “Một phim truyện Trung Quốc lên án nhà tù lao cải dưới thời Mao Trạch Đông”. Mao Trạch Đông nhữ những người yêu nước “trăm hoa đua nở” để diệt bằng cuộc thành trừng mà Ông gọi là chống bọn “hữu khuynh”. Những người tù của trại tù cải tạo tập trung «Giáp Biên Câu» là nạn nhân của Mao trạch Đông. Rất nhiều những người yêu nước dủ thành phần xã hội, trí thức, đảng viên, nhà giáo, bác sỹ … bị bắt, bị chụp mũ hữu khuynh và đày đi lao động cưỡng bức. Từ 1957 đến năm 1961, có ít nhứt hơn 400.000 người bị.

«Giáp Biên Câu» là trại tù cải tạo tập trung tọa lạc ở sa mạc Nội Mông, giáp với Mông Cổ. Trại này có 3000 người tù cải tạo nhưng chết tại chỗ 2.500 người vì kiệt sức và đói khát, theo Le Monde, làm người ta liên tưởng đến các trại tập trung của Đức Quốc Xã. Phim dược dựng theo cuốn «Khúc hát người tử nạn trong những khu tử thần dưới thời Mao Trạch Đông», của nhà văn Dương Hiển Huệ, xuất bản vào năm 2003. Có những cảnh mà người sống ngoài gọng kềm CS khó có thể tưởng tượng ra. “Tù nhân bị tra tấn, những xác chết mất tay chân, cảnh ăn phân, các đụn cát bị biến thành hố chôn người chết…”…

Đạo diễn Vương Bính làm cuốn phim này một cách lén lút trong 6 năm. Về bộ phim «Giáp Biên Câu, ông nghĩ ít nhất cũng phải 30 năm nữa thì bộ phim này mới được cho phép chiếu trên đất nước Trung Quốc.

Dưới mắt các nhà quan sát Tây Phương, TC mở kinh tế, khoá chánh trị, nhưng người dân TQ coi vậy mà đỡ khổ hơn ở VN. Chủ tịch và Thủ Tướng TC có đưa ra chánh sách nông thôn mới mong giảm bớt bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị, dám mạnh tay trị cán bộ đảng viên tới hàng chủ tịch tỉnh hay bộ trưởng. Không như ở VN số đảng viên, cán bộ và những người ăn theo chỉ có 0,4% dân số mà chiếm 70% tải sản quốc gia, trong khi 99.6% dân số chỉ còn 30% tài sản quốc gia mà thôi.

Về khoá chặt chánh trị, TC và Việt Cộng đều làm. Nhưng VC có phần hơn, bạo hơn trong việc bắt bớ, giam cầm, trấn áp bằng du đảng, hình sư hoá thủ tục nếu so sánh tỷ lệ những vụ này với tổng dân số do hai chế độ CS này kiểm soát.

Vi Anh

Khoá Chặt Chánh Trị

Hai chế độ độc tài ở Tunisia và nhất là ở Ai cập chết — xét cho cùng kỳ lý — là do mở kinh tế mà khoá chặt chánh trị, như CS Hà nội và Bắc Kinh đã đang làm. Tức là, nói gọn, phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa và duy trì chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo. Mô hình này đã tỏ ra thất bại với các cuộc biểu tình lật đổ độc tài ở Bắc Phi, Trung Đông và có thể lan tràn sang các chế độ độc tài CS còn sót lại ở Á châu như Trung Quốc và VN mà Trung Cộng đang lo sợ và ra sức ngăn chận.

Chính những nhà độc tài tự tạo ra cái chết của mình trong lòng đồng bào mình, trong lòng quốc gia dân tộc mình. Vì những nhà độc tài này là công dân, là đồng bào của quốc gia dân tộc, nhưng họ là “tự thực dân” (auto- colonialsts) hành động gian ác, áp bức, bóc lột đồng bào mình, đất nước mình còn hơn thực dân ngoại bang Anh, Pháp nữa.

Phương thức những nhà độc tài tự thực dân này thường xài là mở kinh tế mà khoá chặt chánh trị. Như hai chế độ độc tài toàn trị CS ở Á châu là CS Bắc Kinh và CS Hà nội cũng đã làm dưới chiêu bài “đổi mới kinh tế”, từ kinh tế tập trung, cộng sản do Đảng Nhà Nước CS chỉ huy sang “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Cái đuôi lòng thòng “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đó là mánh khoé để họ khoá chặt chánh trị, độc tài cai trị, không chia xẻ quyền hành với bất cứ tổ chức nào và tước đoạt gần hết quyền tự do tinh thần và vật chất bất khả tương nhượng của người dân.

Và hai chế độ độc tài Tunisia và Ai cập chết coi đó như là hậu quả tất yếu của mô thức mở kinh tế mà khoá chặt chánh trị. Một việc làm ngược ngạo trên phương diện học lý vì kinh tế chánh trị là môi với răng. Trên phương diện thực tế nó gây ra vô vàn biến tướng, biến thái, tạo thành phản tác dụng gậy ông đập lưng ông, khiến chế độ tan tành vì bị nổ chụp.

Chánh trị là phạm trù tổng hợp tác động mọi mặt của cuộc sống con người trong xã hội. Chánh trị mà bị khoá chặt thì xã hội bị bế tắc. Bất mãn của người dân tích lũy, càng ngày càng tăng, không có chỗ sú páp xì hơi an toàn, ắt phải nổ làm sụp đổ toàn bộ chế độ chánh trị độc tài.
Chế độ CS Hà nội cũng mở kinh tế và khoá chánh trị còn chặt hơn Tunisia và Ai cập nữa. Độc tài đảng trị toàn diện của CS Hà nội nghiệt ngã hơn, xã hội càng bế tắc hơn, bất mãn áp suất cao hơn, việc người dân đứng lên biểu tình lật đổ chế độ độc tài chỉ còn là vấn đề thời gian chừng nào xảy ra, chớ không phải là vấn đề có hay không có nữa.

Giả sử Trung Cộng hay Mỹ vì quyền lợi riêng của họ muốn cứu CS Hà nội cũng không thể làm được trước thế nước lòng dân VN chống chế độ như triều dâng thác đổ. Như Pháp và Mỹ đâu dám ra mặt cứu TT Ben Ali của Tunisia và Hosni Mubarak của Ai Cập là con cưng lâu đời của hai đại siêu cướng này.
Chẳng những thế các nước Liên Âu và Mỹ đều giúp phong toả số tiền quá lớn hàng mấy chục tỷ Mỹ Kim mà hai nhà độc tài này ăn cướp của dân và nước để giúp truy hoàn cho chánh quyền vì dân của dân mới thành lập.

Đặc biệt giả sử Hành Pháp Mỹ hay Pháp muốn cứu CS Hà nội, việc này lại càng khó hơn với người Việt hải ngoại. Khối gần hai triệu người Việt gốc tỵ nạn CS ở Tây Âu, Bắc Mỹ rất năng động chánh trị, kiên trì quốc tế vận cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN sẽ tạo áp lực lớn đối với các cường quốc mà người Việt định cư ngụ trên 90% nhập tịch có quyển công dân, ảnh hưởng trong chánh trị dòng chính.

Như đã thấy hầu hết các cuộc lật đổ chánh phủ hại dân hại nước trong các chế độ độc tài CS ở Đông Âu CS trước dây và Bắc Phi và Trung Đông bây giờ là do người dân làm một cách độc lập, tự khởi. Không một ngoại quốc nào tiếp viện. Vì người dân biết trong việc giành quyền làm chủ đất nước cho người dân, bảo vệ chủ quyền quốc gia trước xâm lược, là chuyện của người dân, người dân là chánh, nội lực dân tộc là vũ khí chiến lược. Ít có trường hợp ngoại quốc giúp mà thành, nên không vọng ngoại được.

Thế nước lòng dân, chỉ có người dân nước đó mới biết rõ. Thay đổi nhà cầm quyền hại nước hại dân là chuyện của người dân nước đó, và \chỉ và chính người dân nước đó mới biết phải làm sao cho đúng người, đúng việc, đúng thời cơ, địa lợi, nhơn hoà. Điều này chính TT Mỹ Obama đã công khai và minh thị nói rõ trong cuộc biểu tình của người dân Ai cập là nước Mỹ rất thân, Mỹ rất cần trong vấn đề Do thái. Ngoại quốc và cộng đồng đồng bào người hải ngoại dù có tiền tiến, giàu mạnh hơn bấy nhiêu đi nữa cũng khó biết rành, hiểu rõ, không làm thay nghĩ thế cho dân chúng và đồng bào trong nước được.

Như trước cuộc biểu tình của người dân Tunisia và Ai cập, không một siêu cường nào tiên đoán được cả. Ngay sau khi cách mạng Tunisia thành công, chỉ trong 29 ngày mà lật đổ chế độ độc tài TT Ben Ali đã thống trị quốc gia dân tộc này gần hai thập niên; TT Ben Ali là con cưng của Pháp, mà không giới chức Pháp nào ngờ kể cả TT Sarkozy và ngành tình báo quốc ngoại.

Còn Toà Bạch Ốc Mỹ dự đoán phong trào biểu tình ở Tunisia khả năng lan sang các nước trong Khối Á rập chỉ có 1%. Và sau khi dân chúng Ai cập chỉ trong vòng 18 ngày đánh đổ được chế độ độc tài thâm căn cố đế 30 năm, TT Ai cập Mubarak là con cưng của Mỹ mà TT Mỹ Obama đâu có dè, và Toà Bạch Ốc Mỹ cũng chỉ đánh giá khả năng phong trào lan sang các nước trong khối Á rập là 50% thôi.

Trở lại Việt Nam, nhìn qua lịch sử, chỉ những người Việt, có tâm Việt, có hồn Việt, có chí Việt quyết vì dân chiến đấu vì nước hy sinh mới cảm nhận được, mới ngửi được thế nước lòng dân, thời cơ, địa lợi, nhơn hoà cho một phong trào và công cuộc cách mạng có tính quốc gia. Như một Nguyễn Trãi bày tỏ cùng đồng bào Việt, rằng đất nước có lúc thịnh suy nhưng anh hùng hào kiệt đời nào cũng có khi cùng Lê Lợi dấy binh đánh đuổi quân Tàu. Lúc bấy giờ lực lượng khởi nghĩa của người Việt lấy nhân nghĩa mà chống gian tà, đem chí nhân mà thay cho cường bạo, so với quân Tàu như châu chấu chống xe, như trứng chọi đá. Thế mà đoàn quân binh Áo Vải đất Lam Sơn đã thắng.

Áp suất bất mãn của người dân Tunisia và Ai cập đối với chế độ độc tài Ben Ali và Hosni Mubarak khi nổ ra cuộc cách mạng lật đổ còn thấp hơn áp suất bất mãn của người dân Việt đối với CS Hà nội. Hậu quả coi vậy chớ ít trầm trọng, thê thảm hơn đối với những hành động CS Hà nội đã gây cho người dân Việt.

Do vậy, trước làn sóng người dân trong Khối Á rập đứng lên kết họp thành phong trào cách mạng quốc gia đánh đuổi độc tài, người Hoa, người Việt có lý do và căn bản để liên kết đến làn sóng cách mạng của người Việt và Hoa đứng lên lật đổ độc tài CS.

Vi Anh

About these ads