Ngoại Tệ, Vàng và Bất Động Sản: Nguồn vốn bất tận của ĐCSVN ?

Posted on April 5, 2011

11



Từ lúc ĐCSVN quyết định từ bỏ kinh tế tập trung vào năm 1985 và theo đuổi “kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa”, nền kinh tế của Việt Nam cuối cùng đang đi đến giai đoạn “thập tử nhất sinh” vào năm 2011.

Điều hành kinh tế quốc gia cũng tương tự như điều hành cơ sở kinh doanh với phương châm “mua thấp, bán cao”.  Thặng dư về lợi tức sẽ là nguồn vốn thúc đẩy sự phát triển của cơ sở kinh doanh và duy trì sự hiện hữu trên thị trường.

ĐCSVN, trong suốt 25 năm qua, đã không “tuân theo” quy định bất-thành-văn này. Những nguồn vốn quốc gia như tiền trợ cấp hay viện trợ, tiền vay của thế giới, tiền gửi về từ khối người Việt hải ngoại, v.v. đã không được sử dụng đúng mức.

>> Mánh lới rửa tiền của ĐCSVN
>> Trưởng Giả Học Làm Sang
Số là từ trước Tết Nguyên đán Tân Mão đến giờ, báo chí Việt Nam luôn luôn “la làng” ngân hàng nhà nước “khát” ngoại tệ (cụ thể là USD) dữ dội. Năm rồi có đến 8 tỷ USD kiều hối từ nước ngoài chảy về Việt Nam nhưng người dân chỉ đem bán ngoài thị trường tự do, còn ngân hàng nhà nước không mua được 1 đồng xu nhỏ nào. Con số ngoại tệ dự trữ trong ngân khố quốc gia bị giảm sút đến mức báo động. Vậy là “nhà nước ta” bèn “dứt khoát” (chữ dùng của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng) “đánh dẹp” thị trường mua bán ngoại tệ “chợ đen” (giá cao) để dân chúng phải bán ngoại tệ cho nhà nước (giá thấp). Tất nhiên là người dân không chịu, họ chuyển sang giao dịch ngầm.
>> Họa dân tộc
>> “Vụ” Cù Huy Hà Vũ và “nền cộng hòa chuối”
>> Vinashin: Chỗ Rửa Tiền
>> Việt Cộng Chia Phe Thi Đua Cướp Bóc Của Dân
>> Quản lý giá đất: “Đúng là bất lực thật!”

Đa số những sự đóng góp quý báu này đã lọt vào hầu bao của ĐCSVN qua ngõ “rút ruột công trình”, hối lộ, và tham nhũng.  Tệ hại nhất là chính sách bần-cùng-hóa người dân qua phương cách đổi ngoại tệ với tiền đồng VN.  Không phải do ngẫu nhiên mà những giao dịch có giá trị đích thực được thanh toán bằng vàng hay ngoại tệ.

Năm 1985 vấn đề tham nhũng vẫn còn ở mức độ nhỏ vì những người cầm quyền vẫn còn đang say men chiến thắng “đánh cho Mỹ cút, Nguỵ nhào”.  Ăn cắp của quốc gia chỉ giới hạn trong phạm vi nhỏ như Bộ Chính Trị và Uỷ Ban Trung Ương Đảng.

Theo thời gian, lãnh đạo cấp tỉnh, địa phương “bén mùi” của cấp trên khi họ chứng kiến những cảnh sống sung túc, xa hoa lộng lẫy của những thành viên chóp bu trong giới lãnh đạo, và họ đòi hỏi được “chia phần” nếu ĐCSVN vẫn muốn nhờ họ để duy trì chế độ trong công việc bòn rút và ăn cắp tài sản quốc gia.  Đó là ảnh hưởng tích cực của nền “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” khi người “kinh doanh” cộng sản phải dùng chiêu sách mua-quan-bán-tước để duy trì và phát triển sự tồn vong của bản thân và gia đình.

Như đã trình bày ở trên, những nguồn vốn quốc gia có giới hạn.  Những nơi xuất vốn đều đặt vấn đề khi họ thấy đồng tiền họ bỏ ra bị tiêu xài một cách lãng phí.  Cộng tất cả số tiền mà thế giới đã “đầu tư” vào VN từ năm 1975, và so sánh với những công trình công cộng như cầu, đường, bệnh viện, trường học, v.v. thì ai cũng rõ là những nguồn vốn quý báu này đã “chạy thẳng” vào hầu bao của ĐCSVN.

Khi ĐCSVN chỉ biết xuất (ăn cắp), mà không biết nhập (đầu tư & phát triển) như Đại Hàn hay Nhật Bản đã làm sau chiến tranh, thì cán cân thăng bằng sẽ nghiêng về một bên, gây ra lạm phát và đời sống thêm khó khăn cho những người có mức thu nhập ổn định (95% – 98% dân số?).

Năm 2011 đánh dấu sự mất cân đối trầm trọng nhất của nền kinh tế VN do chính sách “ăn cắp và phá hoại tài sản quốc gia” của ĐCSVN.  Để phần nào lấy lại lòng tin của người dân trong nước, cũng như để trấn  an những nhà đầu tư ngoại quốc (dụ dỗ nguồn FDI), ĐCSVN đã quyết định mua và bán vàng và ngoại tệ phải được giao dịch tại những nơi “cho phép”.

Xã hội và dân trí VN vào năm 2011 khác rất xa  với những năm 1954 hay 1975.  Người dân VN ngày nay đã học được những bài học quý báu sau khi nghe được hay chứng kiến hay đã từng là nạn nhân của những lần cướp bóc đến trắng tay có hệ thống của ĐCSVN. Tiền lương mỗi tháng khoảng 100 U.S. dollars thì lấy đâu ra mà “xuất khẩu” sang Thuỵ Sĩ hơn 2 tỷ U.S. dollars vàng trong năm 2010 ?

IMF, World Bank, Ngân Hàng Phát Triển Á Châu, v.v. hành xử tương tự như những cơ sở kinh doanh trên thị trường tài chính.  Không có khách hàng thì phải tuyên bố phá sản.  Lợi tức chính của ngành ngân hàng nói chung, và những “ngân hàng phát triển” như đã nêu ở trên là tiền lời do cho khách hàng vay nợ.  Tứ thiện không nuôi sống được chủ nhân của bất cứ cơ sở kinh doanh nào.

Việt Nam là một trong những khách hàng béo bở của những ngân hàng phát triển thế giới.  Để duy trì sự sống còn của mình, những ngân hàng phát triển thế giới nêu trên đã không ngần ngại đánh bóng chế độ với những con số thống kê (voodoo economic data & statistics) không phản ảnh trung thực với đới sống hiện thực của người dân.

Đa số dân chúng VN sống ở nông thôn, và giá trị đích thực về mức thu nhập của họ vào năm 2011 tương đương vởi năm 1945: khoảng 1 U.S. dollar một ngày hay thấp hơn.  Để tăng nguồn thu nhập, nhiều hộ nông dân đã phải vay tiền ngân hàng hay “vay nóng” hay cầm cố sổ đỏ để “chạy chọt” được một chân trong đường dây buôn người có hệ thống của ĐCSVN dưới chiêu bài xuất khẩu lao động và “cô dâu VN”.

Không phải do ngẫu nhiên mà những quốc gia phương Tây không quan tâm đến nguồn cung cấp lao động rẻ tiền này từ VN.  Chính phủ những quốc gia này không muốn “dây với hủi” một khi dân chúng trong nước, như tổ chức bảo vệ nhân quyền hay tổ chức bảo vệ quyền lợi của ngưởi lao động,  khám phá ra chính phủ của họ làm ăn với đám mafia buôn người VN (ĐCSVN).  Chỉ có những quốc gia độc tài hay phi-nhân quyền như những nước Ả Rập ở Trung Đông, Phi Châu, Đài Loan, Đại Hàn, v.v. mới bị lao động rẻ tiền VN thu hút.

Tỉ lệ thất nghiệp rất cao ở thành thị VN: 3 giờ sáng hay 3 giờ chiều, những quán nhậu, cà phê, vũ trường, karaoke, v.v. đều đầy nhóc những người thuộc diện tuổi lao động – một điều không thể xảy ra ở những nơi có nền kinh tể phát triển với tốc độ cao.   Có làm như vậy – dùng những con số thống kê ảo – thì những ngân hàng phát triển thế giới mới tiếp tục cho VN vay tiền được, và qua đó, dụ dỗ được những nhà đầu tư ngây thơ về bản chất đích thực (ăn cướp, đập đổ, phá hoại) của ĐCSVN như Việt Kiều, Đài Loan, Nhật Bản, v.v.

Sự tiếp tay của những công ty môi giới chứng khoán và đầu tư hàng đầu trên thế giới nhu Goldman Sachs, Credit Suisse, Deutsche Bank, v.v. trong công việc ăn cắp của công của ĐCSVN, và giúp họ rửa tiền cũng rất đáng kể.  Giới thiệu (IPO – Initial Public Offering) những tài sản quốc doanh như FPT, Hoàng Anh Gia Lai, Sacom Bank, Vietnam Airlines, v.v. trên thị trường chứng khoán thế giới là một trong những hành vi giúp ĐCSVN rửa tiền khi họ “biến” tài sản quốc gia thành tài sản cá nhân.

Tiền lương công chức VN khoảng 100 U.S. dollars thì lấy đâu mà mua chứng khoán ? Lẽ dĩ nhiên những người đầu tư thực thụ ngoài VN không bao giờ mua chứng khoán VN vì họ hiểu rằng những đồng tiền lời kiếm được (quick cash) do việc mua hay bán chứng khoán VN là bất chính vì họ đã vô tình hay cố ý giúp ĐCSVN rửa tiền (hợp pháp hoá tiền kiếm được do ăn cắp của công).  Cơ hội đầu tư và kiếm tiền hợp pháp đầy rẫy trên thế giới, không chỉ riêng ở VN mới có chứng khoán.

Bất cứ cơ sở kinh doanh nào lấy phương châm ăn ít no lâu (business ethics) làm trọng cho việc duy trì và phát triển dài lâu (long-term survival), và đặt lợi nhuân hàng nhì đều không hành xử như những công ty môi giới chứng khoán và đầu tư như đã nêu trên vì họ hiểu sâu sắc rằng họ sẽ phải trả cả lãi lẫn lời một khi việc giúp rửa tiền của họ bị bại lộ: từ việc phải phá sản đến uy tín kinh doanh bị đánh mất, kể cả tù tội cho cấp lãnh đạo với chính quyền sở tại.  Luật giao thương quốc tế cho phép chính phủ của những quốc gia mà tài sản bị thất thoát được quốc hữu hoá những công ty “giàu bất chính”, truy tầm cũng như trưng thu về lại những tài sản đã thất thoát ra nước ngoài, bất kể về thời gian, điển hình là những công ty đã từng làm ăn với chế độ Đức Quốc Xã.

Không phải vì sự suy thoái toàn cầu mà VN không còn là điểm nhắm của thế giới đầu tư.  Báo chí VN lúc này thường than vãn FDI (Foreign Direct Investments) thấp hơn những năm trước, và đỗ lỗi cho yếu tố khách quan suy thoái kinh tế toàn cầu.  Như đã trình bày ở trên, một trong những ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa cộng sản (bán hàng đa cấp) là chuỗi dây chuyền lũng đoạn tài sản quốc gia do việc mua-quan-bán-chức mà ra.  Để củng cố địa vị, từ trung ương đến địa phương, ai ai cũng đều phải lo lắng đến “chi phí bôi trơn”.

Bản chất của người cộng sản nặng về lý thuyết (đạo đức giả, nói một đàng làm một nẻo, chuyên sản xuất bánh vẽ cho những người ngây thơ), và thuần tuý lấy đấu tranh làm kim chỉ nam nên từ ngữ phát triển hay xây dựng kinh tế không hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày của họ.

Đập đổ, phá huỷ, tàn hại, sát nhân, khủng bố, v.v. là những thủ đoạn mà ĐCSVN thường dùng, kể cả việc bức hại những ngưởi thân hay đồng bào của họ, điển hình là vợ tố chồng, con tố cha trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất vào thập kỷ 50, tàn sát dân lành ở Huế năm 1968, ở Quảng Trị mùa hè 1972 trên Đại Lộ Kinh Hoàng, ở đường số 7 trên Tây Nguyên khi tìm đường lánh nạn chiến tranh năm 1975, đánh Tư Sản vào cuối thập kỷ 70, xua dân ra biển làm mồi cho cá mập và hải tặc Thái Lan trong cuối thập kỷ 70 và suốt thập kỷ 80; là để mặc cho hải quân Trung Hoa bắn giết hay bắt cóc làm con tin những ngư phủ VN trong vùng lãnh hải của VN, hay để mặc cho thực phẩm đồ dùng đầy độc tố nhập tràn lan vào VN trong chính sách tiêu diệt nòi giống Văn Lang lâu dài của Bắc Kinh.  Pol Pot ở Campuchia, những vụ diệt chủng ở châu Phi, Miến Điện, Lào, Nepal, Tây Tạng, v.v. đều phát xuất và điều hành từ Trung Hoa.

15 năm sau khi Mỹ bình thường hoá quan hệ với VN, không một công ty danh tiếng hàng đầu năo của Mỹ đầu tư vào VN ngoài con cò mồi Intel (mất hơn 10 năm mới thuyết phục được Intel bỏ vốn ra), mặc cho những điều kiện đầy tính chất thu hút về đầu tư như đất đai rẻ, lao động trẻ, v.v  Những tấm gương sáng của Nexus Technologies, PCI của Nhật, Securency của Úc, Siemens của Đức v.v. không bao giở rời xa tầm nhìn của những nhà đâu tư ngoại quốc.  Tất cả đều hiểu rằng họ phải tính đến chi phí bôi trơn nếu muốn làm ăn thành công ở VN.  Những nước phát triển ở phương Tây đều quan sát đầu tàu Mỹ.  Nếu Mỹ không đầu tư, họ cũng không đầu tư.  Lý do giản dị là lợi nhuân kiếm được từ thị trường Mỹ cao hơn.  Đi ngược lại ý hướng của Mỹ sẽ chuốc lấy những hậu qủa không lường trước được.  Để có thể làm ăn suông sẻ với Mỹ, những quốc gia phương Tây đều phải ban hành luật “cấm bôi trơn” vì có như vậy thì sự cạnh tranh trên thương trường mới được lành mạnh hơn.

Có lẽ những nhà kinh doanh cộng sản VN (quan chức cộng sản) không thấu hiểu được “nỗi khổ tâm” này của những nhà đầu tư ngoại quốc nên họ vẫn mè nheo chi phí bôi trơn mỗi khi có dịp tiếp xúc. Chỉ khi nào họ biết đến những quy tắc cơ bản trong kinh doanh như tích luỹ vốn, hiệp thương, cạnh tranh bằng tài sức chứ không phải dựa trên quan hệ bôi trơn, v.v., và thoát khỏi tư duy “mánh mung vặt” thì FDI mới có cơ hội khởi sắc cho VN nói chung và lao động VN nói riêng vì thị trường thế giới sẽ (a) không chờ đợi VN và sẽ (b) “vắng mợ thì chợ vẫn đông”.

Ngành du lịch VN bắt đầu xuống dốc từ năm 2004.  Những nhà cố vấn cho chính phủ VN đều khuyên nên bỏ tiền vào những chương trình tiếp thị (marketing) để lôi cuốn khách du lịch.  Chính phủ VN đã làm theo lời cố vấn, nhưng hiệu quả không như ý muốn.  Quy tất cả tội lỗi cho ông Khách Quan như Suy Thoái Kinh Tế.  Không ai chịu soi gương tìm bà Chủ Quan để vặn tội.

Cũng khó mà tìm được bà Chủ Quan khi đã tiêm nhiễm nặng nề tư duy của Khổng Tử khi sống dưới gông cùm Hán Tộc hơn 1000 năm.  Thực dân Pháp thường đem câu “trong mỗi lòng người VN đều ẩn hiện một ông quan” ra làm trò vui trong lúc trà dư tửu hậu. Hơn 30 năm chiến tranh nồi da xáo thịt (1945 – 1975), và 35 năm dưới ách thống trị của bè lũ bán nước ĐCSVN đã để lại cho dân tộc VN một di sản nghèo nàn và lạc hậu.

Hiện tình bết bát của ngành du lịch VN nỏi riêng, và những ngành phục vụ khác nói chung là kết quả của những lý do vừa nêu trên.  VN luôn rêu rao với dân chúng trong nước là sự gia nhập vào WTO là một thành quả sáng chói của ĐCSVN.  Ít ai đặt câu hỏi về sự thiệt hại cho kinh tế VN khi đã nghiễm nhiên trở thành hội viên của WTO.  Những thành viên sáng lập WTO đã có hàng trăm năm buôn bán trên thị trường quốc tế, trong khi nền kinh tế VN, như một đứa bé mới lọt lòng mẹ khi vừa thoát thai khỏi chế độ bao cấp.

Một người nông phu ở VN có biết đến tiếp thị hay dùng kế “đầu heo nấu cháo” hay đặt chỉ tiêu sản xuất như thế nào để bảo đảm những nông phẩm do mình sản xuất sẽ đem lại hiệu qủa kinh tế cao nhất (ROI – Return On Investment) hay liên kết với nhau để hạ thấp giá thành của nông sản (chăng hạn như mua hàng với tư cách khối đông) v.v như nông dân Mỹ (cử nhân hay cao hơn về nông nghiệp) thường làm ?  Lẽ tất nhiên câu trả lời là nông dân VN không có được tầm kiến thức như nông dân Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, v.v. và lẽ dĩ nhiên họ không nhận được sư hỗ trợ tích cực từ chính phủ VN như những quốc gia sáng lập WTO.  Thất bại trên thương trường quốc tế cho kinh tế VN là lẽ đương nhiên.  Nói không ngoa khi ĐCSVN đặt bút ký vào bản khế ước WTO là họ đã cố tình khai tử nền kinh tế VN từ trong trứng nước.

Mặc dầu sinh sau đẻ muộn, nhưng VN có đến hơn 10 năm (1996 khi bắt đầu thương thảo về việc gia nhập WTO – 2006 khi chính thức trớ thành hội viên WTO) để giáo dục và thay đổi tư duy về kinh doanh cho dân VN, nổi tiếng thế giới về sự nhẫn nại, cần cù, tính kỷ luật cao.  Điều này ĐCSVN có thể làm được, nhưng họ đã không làm vì tầm nhìn “mì ăn liền” đặc tính cộng sản (ăn cướp và phá hoại) của họ: lợi ích bản thân, cục bộ, không tổ quốc (không thể cướp của dân mãi mãi được VÀ phải tính đến đường thoát một khi nạn nhân đứng lên đòi lại quyền tự chủ).  Nếu tầm nhìn của họ giống như những chính phủ phương Tây (dân có giàu thì [nhà] nước mới mạnh được) có tầm nhìn vĩnh cửu cho sự tồn vong của quốc gia và dân tộc làm chỗ dựa vì kết quả dài lâu là cả hai bên đều có lợi thì kết quả của nền kinh tế VN đã khả quan hơn nhiều.  Lẽ tất nhiên điều này sẽ không hiện thực được vì nó đi ngược lại với bản chất đặc thù củ người cộng sản.

Đô, vàng gặp hạn, địa ốc ‘lên ngôi’

Đối diện với “giang hồ đầy hiểm ác” như thị trường quốc tế, người kinh doanh cộng sản phải làm gì để bảo toàn sự sống còn với tấm bằng Tiến Sĩ cấp ba trường làng ?  Con đường dễ nhất và ngắn nhất là tham nhũng đất đai.

Được sự hỗ trợ mãnh liệt từ Bộ Chính Trị và Uỷ Ban Trung Ương Đảng, từ bí thư tỉnh uý cho đến cấp thấp nhất, ai cũng nghĩ đến “quy định lại” sở hữu đất đai và “phương án” quy hoạch đất đai nhằm đem lại lợi tức cao nhất cho quốc gia.  Những ai đã từng thăm viếng VN từ Nam chí Bắc đều không lạ gì với những công trình xây cất đồ sộ còn bỏ dở từ nhiều năm qua vì sự thay đổi không ngừng của chính quyền địa phương về phương án xây dựng.

Tùy theo chi phí bôi trơn đã bỏ ra, mỗi lần có sự thay đổi nhân sự cốt cán là mỗi lần phương án quy hoạch bắt đầu lại từ đầu (lấy lại số vốn đã bỏ ra để mua được chức + tiền lời khi quy hoạch lại đất đai tiếm dụng của dân + tiền sở hụi như tiền nuôi đám côn đồ đội lốt công an nhân dân để trấn áp dân oan khi họ biểu tình khiếu kiện về đất đai bị cưỡng chiếm).

Sở dĩ những nhà kinh doanh cộng sản địa phương (từ bí thư tỉnh uỷ trở xuống) không ngần ngại trong việc cướp đất của dân là vì họ được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ trung ương.  Tiền bồi thường đất đai thường được chi ra bởi những công ty địa ốc của trung ương ĐCSVN như Hoàng Anh Gia Lai, Vincom, Vinpearl, Tan Tao Investment, v.v. khi họ đặt tầm nhắm của họ vào một khu đất nào đó.

Tiền ở đâu ra cho những công ty địa ốc này ? Từ những lần “đổi tiền” và từ sự đóng góp dồi dào của Việt Kiều và những ngân hàng phát triển thế giới như đã nêu ở trên. Và trong những năm gần đây khi ĐCSVN bắt đầu cổ phần hoá những công ty quốc doanh như FPT, Vietcom Bank, Sacom Bank, v.v. khi nguồn ngoại tệ chính thức như FDI, du lịch v.v. bắt đầu xuống thấp.

Sau khi cướp đất của nông dân xong, vấn đề kế tiếp là hợp pháp hóa những số tiền đã kiếm được qua những lần mua-quan-bán-chức, hối lộ, tham nhũng v.v. bằng cách mua lại những miếng đất đã cướp được với giá tượng trưng, và bán lại với giá thật cao vì “có tin đồn” là những mảnh đất này sẽ là trụ sở của những công ty hàng đầu trên thế giới.

Thêm một lần nữa, người dân thường VN lại bị cộng sản cướp khi lũ lượt đi vay tiền để mua bằng được một phần đất “vàng” này.  Họ không đủ kiến thức để tự hỏi vì sao giá đất ở một nơi mà thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở đều không hiện hữu (cúp điện liên miên, giao thông ứ động, ô nhiễm môi trường đến mức báo động, lũ lụt khắp nơi mỗi khi trời mưa: những yếu tố quan trọng khi chọn nơi để kinh doanh) như tại những quốc gia phát triển hàng đầu trên thế giới như Mỹ, Nhât, châu Âu, v.v. lại đắt hơn nhiều lần ? Họ cũng không bận tâm tự hỏi vì sao thị trường bất động sản VN lại thiếu mặt những công ty địa ốc hàng đầu trên thế giới nếu đất đai trị giá cao hơn vàng?

Và cứ thế, chu ky lường gạt cướp của dân giữa thanh thiên bạch nhật cứ tuần tự tiếp diễn vì đó là tất cả vốn liếng về tri thức kinh doanh mà những Tiến Sĩ trường làng này có thể có được.

Sự sa thoái kinh tế năm 2011 là hệ luỵ của ĐCSVN và những con cò mồi IMF, ADB, World Bank, v.v. với sự tiếp tay đắc liệt của những nhà kinh doanh bất đắc dĩ cộng sản (cán bộ, quan chức cộng sản) và đám tay sai côn đồ đội lốt công an nhân dân khi tiếp tục bơm giá trị ảo (phồn vinh giả tạo) vào lòng dân.

Chuyện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thay mặt cho ĐCSVN, quyết định cướp bằng được số lượng 500 tấn vàng luân lưu trong dân chúng lần này sẽ gặp thất bại vì sự đề cao cành giác của FDI nói riêng và nhân dân VN nói chung.

>> Mua lại 500 tấn vàng trong dân thế nào?
>> LƯƠNG HƯỚNG – LƯƠNG LẬU – LƯƠNG BỔNG
>> Sẽ rút giấy phép các đại lý vi phạm quy đổi ngoại tệ
>> Cửa vay vốn bất động sản ngày càng hẹp
>> Đề xuất lộ trình tránh gây sốc thị trường vàng
>> Kỹ nghệ “bơm” giá đất ngoại thành
>> Doanh nghiệp xuất khẩu khát vốn ngân hàng
>> DN xuất khẩu tất bật lo vốn
>> Nhập siêu quý một vẫn tương đối an toàn

Hoài Việt

Việt Nam: Khủng hoảng vì hồ hởi

Tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam từ tháng 12-2010 đến tháng 3-2011.

Trong ba tháng đầu năm nay, Việt Nam như bị chấn động bởi hàng loạt vấn đề dồn dập:

Lạm phát lại hoành hành như ba năm về trước trong khi khiếm hụt cán cân thương mại bào mỏng số dự trữ ngoại tệ và cách đối phó của chính quyền gây phản ứng hốt hoảng trên thị trường vàng và đô la. Mới chỉ bốn năm trước thôi, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, Việt Nam đã là nguồn kỳ vọng cho giới đầu tư nước ngoài. Ngày nay, xứ này đang là quốc gia có vấn đề. Vì sao lại như vậy? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu nguyên nhân và hậu quả qua cuộc trao đổi sau đây do Vũ Hoàng thực hiện với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.

Vượt tầm kiểm soát?

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, Chính quyền Việt Nam lại vừa ban hành một số biện pháp kinh tế mới như tăng lãi suất tái tài trợ, nâng mức lương tối thiểu, giảm giá đồng bạc. Những biện pháp trên nối tiếp hàng loạt quyết định nhằm ổn định tình hình vật giá đã như bung ra khỏi khả năng kiểm soát của chính quyền. Kỳ này, Diễn đàn Kinh tế xin đề nghị ông phân tích cho nguyên nhân của tình trạng bất thường này sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007 và vượt qua được nạn Tổng suy trầm Toàn cầu trong các năm 2008-2009.

Lý do quan trọng nhất khả dĩ giải thích trường hợp này thì có lẽ đó là sự lạc quan thiếu cơ sở của Chính phủ do sự am hiểu chưa tường tận về quy luật kinh tế.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Nếu có một lý do quan trọng nhất khả dĩ giải thích trường hợp này thì có lẽ đó là sự lạc quan thiếu cơ sở của Chính phủ do sự am hiểu chưa tường tận về quy luật kinh tế và lại ít chú trọng đến phẩm chất cuộc sống của người dân. Câu chuyện này khá dài nên tôi xin đi từng bước giải thích.

– Trước tiên, lãnh đạo Việt Nam là những người đa nghi và chưa am hiểu quy luật kinh tế. Họ  thảo luận rất căng vì nhiều chuyện không đáng và ngần ngại ký kết một số thoả thuận với bên ngoài, như Hiệp định Thương mại Song phương với Hoa Kỳ năm 2000 hoặc thỏa ước gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2006. Lồng trong sự thiếu hiểu biết đó là một phản ứng khác cũng đáng nói không kém là “đầu cơ kiến thức”. Tức là không chia sẻ thông tin một cách rộng rãi cho mọi người về những luật chơi mới trong nền kinh tế thị trường. Trong khi ấy, và đây là yếu tố thứ ba, Chính quyền lại thích tuyên truyền cho nên khi có những thay đổi về quy luật ứng xử về kinh tế thì lại coi đó là thành tích và chỉ nói đến những mặt tích cực mà không cảnh báo về loại vấn đề mà kinh tế quốc dân có thể gặp. Từ sông hồ con con khi ra tới biển lớn thì mình sẽ gặp những thách đố mới và lớn lao hơn. Hậu quả của ba đặc tính đa nghi, giấu diếm vì tư lợi và tuyên truyền về chính trị là quốc gia không được chuẩn bị cho một trò chơi lớn sau khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức WTO. Khi ấy, người ta chỉ lạc quan hồ hởi và không nhìn xa.

Vũ Hoàng: Như vậy, ông trở lại nguyên ủy sâu xa của vấn đề ngày nay từ việc Việt Nam gia nhập Tổ chức WTO từ gần năm năm về trước?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thưa vâng vì một vụ khủng hoảng như hiện nay có những nguyên nhân sâu xa chứ không thể xảy ra bất ngờ đâu. Lãnh đạo giỏi là người phải biết tiên liệu là trường hợp không có tại Việt Nam. Mà làm sai lại không bị kỷ luật là trường hợp chỉ có tại Việt Nam. Tôi xin được giải thích tiếp.

– Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức WTO thì đến lượt giới đầu tư quốc tế cũng lạc quan hồ hởi vì triển vọng phát triển của xứ này. Kết quả là trong không khí phấn khởi chung, nguồn tư bản trút vào Việt Nam đã tăng ào ạt và thực tế là tăng quá sức hấp thụ của một nền kinh tế dù sao vẫn có cơ chế èo uột và một hệ thống quản lý kinh tế rất thô sơ.

sicxh1236490385-250.jpg
Tiền đồng Việt Nam và tiền đô la Mỹ. AFP PHOTO.

– Chúng ta nhìn thấy việc đó qua cách ứng xử của Việt Nam với một nguồn tiền bỗng dưng tràn ngập trong nhiều dự án đầu tư mà ít ai thẩm định giá trị kinh tế. Nếu Việt Nam có kinh nghiệm thì có thể đã thấy tái diễn hiện tượng tôi gọi là sự hồ hởi Đông Á 10 năm về trước, trước khi có vụ khủng hoảng 1997-1998. Khi vụ khủng hoảng ấy xảy ra trong các lân bang, Việt Nam không bị hiệu ứng trực tiếp và nặng về vì chưa hội nhập với thế giới bên ngoài và lãnh đạo lại chẳng hiểu như vậy mà cứ tưởng rằng mình khôn. Vì vậy, nên 10 năm sau không chuẩn bị ứng phó với nguồn tiền quá nhiều quá rẻ tràn vào như đã tràn vào Thái Lan, Malaysia hay Phi Luật Tân trước đó.

Nguy cơ khủng hoảng?

Vũ Hoàng: Theo như ông phân tích thì Việt Nam có gặp lại bài toán của các nước Đông Á 10 năm về trước khi tư bản nhập nội đã đột ngột trút vào nền kinh tế?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thưa đúng như vậy về hai mặt tâm lý và quản lý. Nhưng không hẳn là vì vậy mà Việt Nam sẽ lại bị khủng hoảng y hệt như các nước lân bang Đông Á kia, mà có thể lại gặp chuyện khác. Tôi xin giải thích tiếp trước khi mình nói đến những chuyện khác đó là gì.

Việt Nam gặp hai yêu cầu trái ngược là vừa kềm hãm lạm phát vừa đạt tốc độ tăng trưởng cao mà tăng trưởng lại là ưu tiên của lãnh đạo.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

– Khi đầu tư nước ngoài tràn vào kể từ năm 2007 tới cao điểm là 2009, và lên tới 10% của Tổng sản lượng Nội địa GDP, lãnh đạo Việt Nam thực tin vào sự tuyên truyền của chính mình mà không nhìn ra vấn đề. Vì tin như vậy nên cũng hồ hởi chạy theo trào lưu lạc quan của thiên hạ mà bơm tín dụng vào kinh tế với mục tiêu là đạt mức tăng trưởng rồng cọp. Cùng với đầu tư nước ngoài, lượng tín dụng đó dẫn tới hiện tượng gọi là nóng máy kinh tế, tức là gây nguy cơ lạm phát. Yếu kém về khả năng quản lý khiến Việt Nam khó đối phó với nạn lạm phát tiền tệ do tự mình gây ra. Huống hồ là trong năm 2008, Việt Nam còn lãnh thêm áp lực lạm phát ngoại nhập là giá thương phẩm và lương thực đều tăng. Vì vậy, Việt Nam gặp hai yêu cầu trái ngược là vừa kềm hãm lạm phát vừa đạt tốc độ tăng trưởng cao mà tăng trưởng lại là ưu tiên của lãnh đạo.

– Thế rồi, vào đúng lúc đó, thế giới lại bị nạn Tổng suy trầm 2008-2009 và ưu tiên là tăng trưởng khiến Việt Nam lại áp dụng bài bản Trung Quốc là bơm tiền vào kinh tế để kích thích sản xuất. Nhưng lại còn hơn Trung Quốc là với số lượng kích cầu cao gần gấp rưỡi so với Tổng sản lượng, bằng 22% GDP! Người thiếu kinh nghiệm cứ thường hay quá khích như vậy…

Vũ Hoàng: Như vậy, trên đại thể thì ta có thể hiểu ra vì sao Việt Nam đang bị  nguy cơ lạm phát cao nhất các nước trong khu vực. Nhưng vì sao cùng lúc đó Việt Nam lại bị khủng hoảng về ngoại hối, hoặc vì sao Việt Nam lại bị nhập siêu đến nỗi dự trữ ngoại tệ cứ hao hụt dần?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Sau khi phân tích nguyên nhân từ tâm lý đến chính sách của vụ khủng hoảng hiện tại, ta mới nhìn vào sự non yếu của cơ chế kinh tế, cũng xuất phát từ chính sách.

– Nguồn tín dụng bơm ra để kích cầu đã tạo ra một sức hút đáng kể về nhập khẩu trong khi xuất khẩu không tăng cùng nhịp độ, vì vậy mới có nạn nhập siêu là nhập nhiều hơn xuất. Nhưng, trong cơ chế kinh tế bất thường của xứ này có một khu vực gọi là chủ lực lại giữ ví trí chuyển lực như sợi dây cua rua trong một bộ máy, là các doanh nghiệp nhà nước. Chính doanh nghiệp nhà nước thu hút nhiều tài nguyên nhất và thay vì trút vào các dự án sản xuất lại dồn qua thị trường đầu cơ tài chính và bất động sản. Một thí dụ điển hình mà không duy nhất là việc Tập đoàn Vinashin đã hút tiền và đẩy qua những ngành không thuộc diện sản xuất chủ yếu của mình.

000_Hkg4609867-250.jpg
Giao dịch tiền đồng tại một ngân hàng ở Hà Nội. AFP PHOTO.

– Sự non yếu thứ hai, cũng thuộc về chính sách, là người ta không chỉ nhập khẩu để chế biến và tái xuất khẩu mà còn nhập nhẩu nhiều hơn nhu cầu chế biến đó. Thí dụ ai cũng nghĩ ra là khi Việt Nam mua vào các linh kiện điện tử để ráp chế và bán ra ngoài, vậy mà số mua lại cao hơn số bán tới 40% nên gây ra nạn nhập siêu rất lớn. Trung bình mỗi tháng Việt Nam bị nhập siêu mất khoảng một tỷ đô la. Trong hiện tượng nhập cảng thả giàn này ta còn thấy ra việc mua vào rất nhiều loại xa xỉ phẩm đắt tiền mà chỉ một thiểu số có tiền và có quyền mới có thể hưởng.

Vũ Hoàng: Xin hỏi ông ngay một câu rất nóng hổi của thời sự. Trong mấy năm đầy biến động như vậy vì sao nhiều doanh nghiệp Việt Nam lại xuất khẩu vàng qua Thụy Sĩ lên tới mấy tỷ đô la dưới dạng vàng trang sức để họ đúc thành vàng thỏi?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Tôi nghĩ là do nhiều lỗ hổng trong cơ chế kinh tế quá thô thiển. Nếu xuất khẩu vàng dưới diện trang sức lại được miễn thuế so với 10% thuế suất đánh trên vàng thoi thì nhiều doanh nghiệp có thể kéo vàng thành dây rất thô sơ để bán ra dưới dạng vàng trang sức cho bên kia mua vào và đúc lại thành vàng thoi! Nhà nước thì coi đó là thành tích xuất khẩu được gần ba tỷ đô la nữ trang! Đơn giản như vậy thôi mà cũng giúp nhiều người thu vào mấy trăm triệu một năm, cho tới khi nhà nước biết ra thì quá trễ! Sự non yếu của nhà nước có thể thấy ra từ thí dụ kỳ lạ như vậy, cho tới khi phải đột ngột ra lệnh cấm luôn cả việc buôn bán vàng thoi!

Kịch bản đáng sợ

Vũ Hoàng: Trở lại chuyện tương lai, chính quyền Việt Nam đang ráo riết đối phó với nguy cơ lạm phát, liệu việc đó có thành hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Sau hàng loạt biện pháp vừa qua, tôi chưa tin rằng ưu tiên sẽ là ổn định vật giá mà vẫn là đẩy mạnh tăng trưởng. Đây là một kịch bản rất đáng sợ.

– Thứ nhất, Việt Nam có ban hành nhiều biện pháp kềm hãm tín dụng qua các loại lãi suất và dự trữ pháp định, nhưng tới 45% tài sản của hệ thống ngân hàng vẫn nằm trong tay các ngân hàng của nhà nước và vì các ngân hàng này bị chi phối bởi chính sách nhà nước thì biện pháp tiền tệ như tại các xứ khác vẫn không có hiệu quả. Song song cùng các khí cụ đòn bẩy như lãi suất, Việt Nam vẫn phải điều tiết ngân hàng bằng thông tư hành chính, với hiệu quả rất thấp.

Sau hàng loạt biện pháp vừa qua, tôi chưa tin rằng ưu tiên sẽ là ổn định vật giá mà vẫn là đẩy mạnh tăng trưởng. Đây là một kịch bản rất đáng sợ.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

– Việc thứ hai là yếu tố lạm phát ngoại nhập. Giá thương phẩm và nông sản đang tăng trên thế giới nên phần nào có lợi cho nông gia và giới xuất khẩu nông sản như gạo, cao su, cà phê, hạt điều nhưng lại gây khó khăn cho nhiều ngành sản xuất khác. Ngân sách Việt Nam không thể tiếp tục trợ giá năng lượng như điện và xăng dầu nên phải cho tăng giá và sẽ còn tăng nữa.

– Chuyện thứ ba là Việt Nam đã và sẽ còn phải phá giá đồng bạc so với đô la Mỹ, vốn dĩ xuống giá khắp nơi trừ tại Việt Nam. Khi phá giá như vậy, ngành du lịch có thể kiếm lợi và vì vậy lại hút thêm đầu tư nước ngoài vào khách sạn và đẩy tiếp nạn bong bóng địa ốc trong khi các ngành khác đều bị điêu đứng vì phá giá cũng gây ra lạm phát. Một trong những nơi bị chấn động nặng nhất chính là thị trường chứng khoán của Việt Nam. Tôi nghĩ rằng chỉ số VN-Index ở trong Nam sẽ rớt xuống “thực giá” của nó là giữa 350 đến 450 điểm, và tác động thực tế thì không nhiều nhưng về tâm lý lại lớn hơn và càng dễ gây ra phản ứng hốt hoảng. Tức là sau mấy năm lạc quan hồ hởi, người ta sẽ lại bi quan hốt hoảng, là điều cực bất lợi cho kinh tế và là một thách đố lớn về chính sách.

Vũ Hoàng: Như vậy, liệu Việt Nam có gặp một vụ khủng hoảng như các nước Đông Á thời 97-97 không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: – Nhiều người lạc quan thì không tin vào kịch bản đó. Bản thân tôi thì không được như vậy mà không phải vì hiệu ứng của thiên tai vừa xảy ra tại Nhật Bản dù sao chưa gây tai hại cho Việt Nam như cho nhiều nước khác trong khu vực.

– Lý do thận trọng là người ta chưa thấy ra quyết tâm ổn định vật giá so với ưu tiên của chế độ vẫn là đạt mức tăng trưởng cao. Chúng ta có thấy điều ấy ở chi tiêu tăng trưởng là từ 7 đến 7,5% trong kế hoạch kinh tế năm năm.

– Thứ hai là ngay trong cách đối phó với nạn lạm phát, người ta vẫn thấy một sự bất nhất, thiếu phối hợp và nguy hiểm nhất là sự cám dỗ của giải pháp bao cấp năm xưa. Tức là trở lại chế độ kiểm soát giá cả và giao dịch như ta đã thấy trên thị trường vàng và đô la. Việc kiểm soát duy ý chí như vậy không công hiệu, gây ra tham nhũng buôn lậu và càng dội ngược vào bội chi ngân sách, sau cùng còn gây ra sức bật của thị trường, là làm cho lạm phát còn bùng nổ dữ dội hơn.

– Nói vắn tắt lại, người ta chỉ tin tưởng là Việt Nam đã trưởng thành khi cải tổ cái mấu chốt của cơ chế là hệ thống doanh nghiệp nhà nước bất lực và bất công và khi nhà nước chấn chỉnh được hệ thống chi tiêu và khả năng quản lý của mình. Trong khi chờ đợi thì nên lo nhiều hơn mừng.

Vũ Hoàng: Xin trân trọng cảm tạ ông Nghĩa đã dành cho đài Á châu Tự do cuộc phỏng vấn này.

Theo dòng thời sự:

Điều gì đang diễn ra với nền kinh tế VN?

Tình hình kinh tế Việt Nam bấy lâu nay có nhiều biến động với nhiều luồng thông tin trái chiều, khiến dân và thậm chí cả giới phân tích rất khó để có thể thực sự định hình được những gì đang diễn ra trong nền kinh tế.

Một mặt là những con số rất lạc quan của chính phủ rằng tăng trưởng sẽ đạt mức trên 5-6% cho cả năm 2012, lạm phát đi xuống một cách đáng kể từ 18% xuống còn 7% kèm theo việc mở rộng những chính sách tiền tệ khiến cho lãi suất ngân hàng hiện giờ giảm chỉ ở mức trên dưới 15%/năm tạo điều kiện vốn cho các doanh nghiệp.

Ngân hàng đầu tư JP Morgan cũng vừa có báo cáo nói về triển vọng kinh tế của Việt Nam với lạm phát “đáng ngạc nhiên theo hướng tích cực”.

Mặt khác, vẫn có những báo cáo liên tiếp về thâm hụt thương mại cùng với các khoản vay khổng lồ của chính phủ khiến cho nợ nước ngoài càng ngày càng cao, hay tỉ lệ nợ xấu trong khối ngân hàng cũng tăng một cách đáng kể.

Các doanh nghiệp vẫn tiếp tục kinh doanh thua lỗ, trên bờ vực phá sản, hay đã phá sản trong thời gian gần đây.

Những dự báo về giảm phát là hoàn toàn có cơ sở khi môi trường kinh doanh khó khăn khiến cho tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

Điều đó cũng sẽ đồng nghĩa với một nền kinh tế thay vì tăng trưởng thì ngược lại đang rơi vào suy thoái, khi mà giá cả giảm xuất phát từ sức mua yếu do người dân không còn có khả năng để chi trả và đã nghèo đi một cách đáng kể.

Những con số

Tuy nhiên, những con số thống kê dường như đang mâu thuẫn và không phản ánh đúng bản chất của nền kinh tế, đặc biệt là khi với số doanh nghiệp thua lỗ chờ phá sản và đã phá sản trong khoảng 6 tháng đầu năm nay đã lên tới hàng chục nghìn.

Mặc dù các số liệu từ tổng cục thống kê cho thấy tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam chỉ ở mức 2.29%, con số này là quá thấp so với số lượng các doanh nghiệp đang giải thể hàng loạt trong khoảng hơn 1 năm gần đây.

Ở một quốc gia với hơn 80% dân số sống bằng nông nghiệp, phải chăng một lực lượng lớn lao động nông nhàn ở nông thôn cũng được tính là không thất nghiệp?

Trong khoảng 3 năm trở lại đây, khi thị trường chứng khoán – thước đo sức khoẻ của nền kinh tế – mất 30-40% giá trị, người ta tự hỏi những con số về tăng trưởng ở mức trên dưới 6%/năm là do đâu?

Với lượng của cải vật chất làm ra trong xã hội thấp đi trông thấy cùng với sự giảm sút của tổng cầu và thâm hụt trong cán cân thương mại thì con số tăng trưởng 4.38% trong 6 tháng vừa qua, hay thậm chí là một mức tăng trưởng dương dường như là rất phi lý.

Cũng có thể giải thích rằng mức tăng trưởng này đạt được do sự đầu cơ trên thị trường bất động sản và tài chính ngân hàng đã thổi phồng lên những bong bóng giá trị cho những dự án đầu tư, quy hoạch các khu đô thị mới, chung cư cao tầng, biệt thự sang trọng, mà phần nhiều trong số đó đang trở thành những khu đất bỏ hoang không ai ở do nhu cầu thực sự là không cao.

Trong khi khối ngân hàng và các nhà đầu tư bất động sản đạt được những lợi nhuận khổng lồ bằng việc đầu cơ, quả bong bóng bất động sản này không hề tạo ra những giá trị thực sự cho phát triển kinh tế như khối sản xuất.

Các yếu tố tích cực khác có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế như đầu tư nước ngoài là thiếu bền vững.

Chi tiêu của chính phủ chủ yếu dựa trên việc in tiền kể từ sau thảm họa Vinashin khiến chính phủ Việt Nam gần như bất lực trong việc phát hành trái phiếu quốc tế cũng tiềm tàng nhiều nguy cơ bất ổn cho nền kinh tế.

Từ nơi quán nước vỉa hè với những bài vè mang đậm màu sắc châm biếm đến những bản báo cáo từ phòng máy lạnh của chính phủ và các ngân hàng đầu tư đang có những sự bất đồng sâu sắc.

Nhóm lợi ích

Cũng có thể hiểu rằng các chính sách của chính phủ để điểu chỉnh kinh tế sẽ mất một thời gian để phát huy tác dụng. Nhưng nhiều chuyên gia phân tích vẫn đang thật sự hoài nghi về tính đúng đắn của các chính sách này.

Nếu như việc khống chế lãi suất tương tự như Ngân Hàng Trung Ương Mỹ sử dụng từ khủng hoảng kinh tế 2008 đến nay đã tỏ ra rất hữu hiệu trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp và duy trì tăng trưởng cũng như đang trở thành xu thế chung về mặt chính sách khi đương đầu với khủng hoảng, một chính sách tương tự đã không được chính phủ Việt Nam sử dụng cho đến vài tuần trước đây.

Ngược lại, lãi suất trong nước được thả trôi nhiều lúc lên tận 20-25% và lãi suất dưới gầm bàn cho doanh nghiệp muốn vay vốn thậm chí còn cao hơn khiến doanh nghiệp khốn đốn.

Tuy vậy, giảm lãi suất một cách nhanh chóng và đột ngột chưa chắc đã đi cùng với việc doanh nghiệp có thể hay thậm chí là muốn tiếp cận với nguồn hỗ trợ vốn từ ngân hàng.

Cùng với những dự báo về giảm phát và suy thoái, việc giảm lãi suất đột ngột trong hệ thống ngân hàng sẽ không những không thúc đẩy được phát triển kinh tế mà thậm chí còn có thể gây ra hiện tượng bẫy thanh khoản (liquidity trap) như trong nền kinh tế Nhật Bản trong thập niên 1990 khi người dân sẽ thích giữ tiền mặt hơn gửi tiết kiệm khiến cho hệ thống ngân hàng trở nên thiếu vốn. Không những đầu tư cá nhân sẽ giảm, điều này còn sẽ dẫn đến nhiều hơn những sự ưu tiên về vốn cho doanh nghiệp nhà nước mà phần lớn vốn đã làm ăn thiếu hiệu quả nhưng luôn có sự bảo trợ từ nhà nước từ việc in tiền.

Doanh nghiệp tư nhân nhiều khả năng là vẫn sẽ gặp khó khăn hay sẽ phải vay với lãi suất cao hơn gấp nhiều lần. Khi trần lãi suất huy động thấp hơn nhiều so với lãi suất cho vay, các nhóm lợi ích tài chính ngân hàng sẽ càng được lợi trên sự khốn đốn của doanh nghiệp.

Bài toán giải quyết nền kinh tế Việt Nam để cứu các doanh nghiệp sản xuất người tạo ra của cải vật chất cho xã hội hiện giờ là một bài toán khó. Song song với các chính sách tiền tệ, cần phải có những chính sách tài khoá, giảm đầu tư công không hiệu quả và thay vào đó là đầu tư nhiều vào khu vực tư nhân.

Có lẽ mấu chốt phải là cân bằng được quyền lợi của các nhóm đại gia ngân hàng, bất động sản, doanh nghiệp nhà nước vốn đã được rất nhiều hậu thuẫn của chính phủ với khối doanh nghiệp sản xuất tư nhân và phần lớn người dân đã phải chịu nhiều thiệt thòi với những chính sách kinh tế đáng thất vọng suốt vài năm qua.

Tô Nam

Vàng và máu

Xin long trọng minh xác ngay rằng bài này không có “nhã ý” chôm nguyên văn tiểu thuyết trinh thám rất nổi tiếng của nhà văn Thế Lữ từ thời Tự Lực Văn Đoàn xa xưa (*). Đây chỉ là sự trùng hợp với cái tiêu đề mà thôi. Bởi vàng vốn là máu của người dân Việt Nam ta từ ngàn xưa cho tới nay. Làm cả đời ky cóp được tí tiền, giành giụm để làm đủ thứ quan trọng trên đời. Hãy tạm kể có 3 thứ việc, cả đời ông bà ta thường lo nghĩ đến là tậu trâu, cưới vợ và làm nhà. Ngoài ra, các cụ còn muốn thực hiện “nghĩa vụ cao cả” của các bậc sinh thành đối với con cái như cho con gái có chút của hồi môn khi lập gia đình, chia của cho các con trước khi nằm xuống về với tổ tiên…

Cũng như nhiều quốc gia Á châu, vàng ở Ấn Độ cho đến nay vẫn là thứ trang sức nhiều giá trị (của hồi môn, tích trữ, chứng tỏ đẳng cấp giàu nghèo…). Ở Trung Quốc xưa và nay, vàng là bản vị của sự tiết kiệm, lặng lẽ vươn lên để trở thành “tiểu gia”, “đại gia” của người dân. Vậy nên, vàng được coi là một phần máu thịt của người dân, có thể nói đó cũng là đặc trưng của văn hóa phương Đông.

Những “tử huyệt” của nền kinh tế Việt

Vàng ngày nay vẫn giữ nguyên những giá trị then chốt đó trong hầu hết những gia đình người Việt, bất kể là quan hay dân, miễn là có tí tiền tích cóp được. Tôi không kể đến những nhà tài phiệt, những quan tham, những “đại gia vĩ đại” do thời thế tạo nên, họ có đủ cách để giữ tiền qua các ngân hàng nước ngoài, tích trữ từng bó đô la như bó rau muống. Tuy nhiên, vàng vẫn có một ví trí vững vàng trong két sắt của họ. Khi đồng tiền mất giá, tất cả những kiểu tiết kiệm, kiểu làm ăn không sinh lời, nhiều rủi ro thì cất vàng trong tủ, chôn vàng dưới nền nhà là cách an toàn nhất.

Tất cả là do mất niềm tin vào những đổi thay của nền kinh tế suy thoái chung trên toàn thế giới và nhất là tại VN. Từ biện pháp hành chánh này đến biện pháp hành chánh khác tung ra để cứu vãn lạm phát, cứu vãn cái kho nợ xấu khổng lồ của hầu hết các ngân hàng, cứu vãn những doanh nghiệp nằm chết trên đống vàng gồm hàng loạt nhà cửa đồ sộ làm ra rồi không bán được hoặc cứu vãn những cái kho chứa đầy hàng sản xuất ra nằm ế mốc ế meo. Rồi cứu vãn 400 tấn vàng (hay cả ngàn tấn, không có cách gì kiểm tra hết) nằm chết trong dân làm cho tài hóa không lưu thông, tiền thiếu, vàng thừa nhưng không huy động được…

Bằng ấy cái mà nhiều nhà kinh tế học, thích nói chuyện “kinh tế vĩ mô”, gọi là “tử huyệt của nền kinh tế VN”. Những “tử huyệt” đó đang làm đau đầu, bấn xúc xích những chuyên gia, những bộ trưởng chịu trách nhiệm về nền kinh tế tài chánh của VN. Quốc Hội có quá nhiều vấn đề vô cùng quan trọng để thảo luận, để xem xét và để tìm ra quyết sách. Một số lớn người dân ít phải lo đến cơm gạo áo tiền hàng ngày, theo dõi kết quả cụ thể của những vị đại diện cho dân đã làm được những gì, sẽ làm những gì và họ “tiên đoán” tương lai sẽ ra sao. Từ đó họ có niềm tin hay không.

Người dân có cảm tưởng Quốc hội hiện nay đang bị tràn ngập về những “tệ nạn” như bệnh kinh niên tham nhũng trở nên “quá xá” rồi, tưởng như ung thư đến thời kỳ thứ tư, vô phương chạy chữa. Đến chuyện những con đập vỡ làm người dân hoảng hốt chỉ lo ôm đồ chạy. Rồi đến chuyện bỏ phiếu tín nhiệm mở đường cho “văn hóa từ chức” và bãi chức, chuyện lấy tiền đâu tăng lương… Quả là “một rừng” công việc, nặng như trái núi đang làm ngăn trở sự tiến hóa của dân tộc mà những ông đại biểu cho dân phải giải quyết.

Nhưng ở đây, tôi chỉ điểm lại những vấn đề về “vàng và máu” như tiêu đề đã nêu.

Nhà nước độc quyền vàng, dân chịu thiệt nặng

Người dân đi mua vàng, ai cũng biết vàng SJC có thương hiệu uy tín và có thị phần lớn từ rất nhiều năm nay. Nhưng không phải ai cũng mua vàng có nhãn hiệu SJC. Người dân còn mua nhiều nhãn hiệu khác như AAA, PNJ, SBJ, Rồng Thăng Long của Cty Bảo Tín Minh Châu, giá cả chỉ hơn kém nhau chút ít không thành vấn đề. Vàng nào cũng là vàng, mỗi khi cần tiêu, chỉ việc mang ra các cửa tiệm vàng bán lại là xong. Nếu cẩn thận hơn, họ mang hóa đơn, có khi không cần hóa đơn, đến cửa tiệm mua vàng cũ, bán lại. Khi có lời, khi thiệt vài ba trăm ngàm tùy theo thời giá.

Nếu Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) để thị trường tự quyết định thì sẽ không có gì xáo trộn. Việc Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng là hợp lý nhưng sau khi chọn SJC là đơn vị gia công duy nhất vô tình tạo tâm lý rằng chỉ có vàng miếng SJC là được tin cậy, còn các thương hiệu khác là “đồ bỏ”. Điều này khiến thị trường xáo trộn với hàng loạt hành động sùng bái vàng SJC.

Người dân tá hỏa tam tinh, nôn nóng chuyển đổi vàng “phi” SJC (tức là vàng không mang nhãn hiệu SJC) sang SJC, chen nhau đi kiểm định vàng. Rất dễ hiểu, đang có vàng trong tay bỗng chốc trở thành… vàng không có giá trị bởi không phải là vàng SJC. Ai mà không đau, ai mà không hoảng hốt.

TS Nguyễn Đại Lai, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng, đã ví von: “Nếu giá trị của vàng trên thế giới được đo bằng tuổi vàng thì với thị trường vàng trong nước, do cơ chế cấm “nửa vời” nên tuổi của vàng miếng không quan trọng bằng miếng vàng đó mang nhãn hiệu gì. Vàng SJC như được khoác trước “chiếc áo vinh quang” sẽ trở thành vàng chính hiệu “SBV” – là thương hiệu của NHNN…”.

Vừa mất thì giờ vừa bất an

Ngay cả chuyện chuyển đổi vàng miếng cũng khiến dân mệt mỏi. NHNN nhiều lần khẳng định vàng các thương hiệu khác được chuyển đổi dễ dàng. Thực tế không như vậy. Người dân đổ xô đến dập vàng thì cũng phải chờ đợi phiền phức, bởi phải chờ SJC kiểm định. Thị trường đâm ra khan vàng SJC trong khi vàng các thương hiệu khác thì số phận hẩm hiu.

Rồi khi thị trường suốt hai tuần liền xuất hiện hàng trăm miếng vàng nhái thương hiệu SJC thì đến ngày 25-10, Phó Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng mới khẳng định: “Các thương hiệu vàng miếng khác đã được cấp phép vẫn được lưu thông bình thường. Do đó, việc có chuyển đổi sang vàng SJC hay không là quyền của người sở hữu, người dân cần bình tĩnh trước các thông tin, cân nhắc cẩn thận để tránh thiệt hại cho mình”.

Nói vậy nhưng liệu có người dân nào đi chọn mua một thứ tài sản vàng “phi” SJC để vừa mất lợi nhuận lại vừa gánh chịu những việc “tào lao” khác. Người dân vừa mất thời gian chuyển đổi, tinh thần lại bất an.

Nảy sinh ba lần thiệt hại

– Dân thiệt lần đầu tiên khi thông tin sẽ chỉ còn tồn tại duy nhất thương hiệu vàng miếng SJC trên thị trường. Thời điểm đó, dù chưa tuyên bố chính thức nhưng các thương hiệu vàng miếng không phải SJC ngay lập tức mất giá hàng triệu đồng một lượng so với vàng miếng SJC. Người có các loại vàng miếng này ngậm ngùi chấp nhận thiệt thòi, đành phải đi đổi sang vàng SJC cho “chắc ăn”. Đến khi việc độc quyền được chính thức, dù NHNN khẳng định, vàng phi SJC được bảo đảm giá trị nhưng trên thị trường, mức chênh lệch cao giữa 2 loại vàng vẫn duy trì. Những người “có gan” giữ vàng miếng không phải SJC cuối cùng, buộc phải chấp nhận thiệt hại để đổi vàng.

– Thiệt hại lần thứ 2 đến từ việc giá vàng trong nước luôn cao hơn thế giới từ 2- 3 triệu đồng do cung không đủ cầu. Điều này là đương nhiên khi hàng chục cơ sở sản xuất vàng miếng buộc phải đóng cửa để SJC “một mình một chợ’ sản xuất và cung cấp vàng miếng. Với mức chênh lệch này, những người có thói quen tích trữ vàng, các nhà đầu tư vàng trong nước phải đối diện với rủi ro cực lớn khi giá vàng đột ngột đổi chiều hay biến động mạnh. Thậm chí, nếu nhà độc quyền muốn làm giá, cố tình tạo khan hiếm giả, cung cấp nhỏ giọt thì người dân cũng bó tay.

– Thiệt hại thứ 3 là mua nhầm vàng nhái, làm giả SJC. Chỉ trong ít ngày, đã phát hiện gần 470 lượng vàng nhái, giả SJC, hầu hết do người dân mang đến. Đây là kết quả của việc độc quyền nhưng thiếu chuẩn bị về năng lực cung cấp cũng như giám sát của cơ quan quản lý. Lợi dụng cơ hội này, một bọn bất lương đã tận dụng tối đa chênh lệch giá giữa vàng SJC với vàng phi SJC; giữa vàng SJC với vàng thế giới để tung ra thị trường các loại vàng nhái, giả SJC kiếm lợi. Chỉ tội người dân, ngay cả nhà sản xuất, các chuyên gia vàng còn khó phân biệt giữa vàng SJC thật và nhái, vàng giả thì họ làm sao biết được thật và giả. Đành một lần nữa chấp nhận thiệt thòi.

Đó mới chỉ là thiệt hại cụ thể về tài chính, còn rất nhiều những thiệt hại về thời gian, công sức, tâm lý hoang mang của người dân, lãng phí của xã hội cũng như những rối ren xảy ra trên thị trường chưa thể đong đếm được.

Một số công ty kinh doanh vàng bạc kiếm lời bạc tỉ

Người thiệt tất nhiên sẽ có người hưởng lợi. Đó là những đơn vị hốt siêu lợi nhuận từ việc được NHNN cho phép dập lại vàng miếng phi SJC thành vàng miếng SJC. Như đã nói trên, chênh lệch giữa vàng miếng phi SJC và SJC trên thị trường cao tới 3 triệu đồngmột lượng, thấp cũng cả triệu đồng một lượng. Chỉ cần dập lại, bán sang tay, họ kiếm lợi trung bình 2 – 3 triệu đồng/lượng vàng. Với 350.000 lượng vàng đầu tiên cho phép dập lại, số lợi từ chênh lệch này là khổng lồ.

Cơn hoang mang trong cộng đồng mà người dân vốn nổi tiếng thích cất giữ vàng hàng đầu thế giới. Hàng loạt người dân đổ xô đến thẩm định và ép lại bao bì tại công ty SJC. Nếu không may vàng đó là không phải là SJC, số phận của nó sẽ là bị cắt ra, sau đó được bán với giá vàng nguyên liệu, tất nhiên là thiệt mất đến 2-3 triệu một lượng. Trường hợp xấu hơn nữa, chủ nhân sẽ phải giao nộp vàng cho cơ quan công an giải quyết.

Khi hiện tượng vàng nhái manh nha xuất hiện, người dân đã được khuyên nên giao dịch tại các cơ sở uy tín, trong đó có ngân hàng. Nhưng vấn đề trái khoáy là, theo thông tin từ một lãnh đạo Cty SJC miền Bắc thì đến nay, đa phần lượng vàng SJC nhái mà đơn vị này phát hiện đến từ… các ngân hàng.

Đến các ngân hàng cũng còn chưa có nghiệp vụ kiểm định vàng, thì người dân “mắt thịt” lấy đâu ra cái khả năng siêu phàm để nhận diện vàng nhái. Mọi hậu quả sẽ rơi vào người mua phải vàng nhái.

Độc quyền “toàn tập”

“Chiếc áo” SJC sẽ làm nên rất nhiều thứ. Không có cái áo đó (hoặc áo nhái), những miếng vàng dù chất lượng, tuổi vàng không hề “thua chị kém em” cũng sẽ bỗng dưng trở thành một loại “con ghẻ” bị hờ hững, xua đuổi.

Chỗ dựa cho quyền lực của chiếc áo là các chính sách cho phép sự độc quyền “toàn tập” – độc quyền nhập khẩu, độc quyền sản xuất, độc quyền thương hiệu và giờ là độc quyền kiểm định vàng. Nhiều chuyên gia đã chỉ ra cơ chế độc quyền này không giúp loại bỏ sự chênh lệch vô lý giữa giá vàng Việt Nam so với thế giới, mà còn tạo khan hiếm giả, đẩy người dân vào thế cầu cạnh, chịu thiệt.

Không chỉ có thế, vị đứng đầu doanh nghiệp SJC, cách đây vài hôm còn chia sẻ sự phức tạp trong quy trình xin NHNN dập lại vàng SJC móp méo. Vị này cho biết: “Nếu cứ tiếp tục “xin – cho” thế này, chúng tôi sẽ ngưng mua vàng móp méo!”.

Nếu cả cái cửa “xin – cho’ này cũng đóng lại với người dân, thì tình hình sẽ còn rối loạn đến mức nào?

Thống đốc Ngân hàng nhà nước VN nhận lỗi về bất ổn thị trường vàng

Giải trình trước Quốc hội (QH) trong kỳ họp sáng 31-10-2012, về những bất bình trong quản lý kinh doanh vàng miếng suốt thời gian qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình nói: “Tôi xin thay mặt cho NHNN nhận trách nhiệm về việc không làm tốt thông tin truyền thông để phổ biến kịp thời những nội dung về chủ trương chính sách của Nhà nước trong vấn đề quản lý thị trường vàng. Do đó, còn nhiều thông tin chưa đầy đủ và chính xác gây nên những cách hiểu không đúng và bất ổn trên thị trường”.

Sau phần xin lỗi, ông Bình khẳng định: “Không có chuyện bắt buộc chuyển đổi từ mác vàng miếng này sang vàng miếng khác. Các loại vàng miếng đã được cấp phép vẫn được lưu hành bình thường”.

Phân trần về “sai sót” của mình, ông Bình cho biết từ ngày 25-5, tất cả các đơn vị dập vàng miếng, kể cả Công ty SJC, đều chấm dứt dập vàng miếng. Kể từ lúc đó, chỉ có NHNN thực hiện vai trò độc quyền Nhà nước được dập vàng miếng và NHNN chọn mác vàng SJC là mác vàng của NHNN. Thực tế, vàng SJC đến thời điểm hiện nay đã chiếm tới khoảng 93% – 95% thị phần vàng miếng toàn quốc.

Để tránh xáo trộn trên thị trường vàng miếng cũng như chi phí phải dập lại, NHNN sử dụng luôn mác đó và độc quyền Nhà nước về mác đó chứ không có Công ty SJC nào được dập vàng miếng SJC nữa. Tuy nhiên, theo quy định của Nghị định 24, kể từ sau ngày 25-4, tất cả các loại vàng miếng mà trước đây đã được cấp phép dập vàng miếng đều được phép lưu hành bình thường.

Cũng theo ông Bình, nền kinh tế Việt Nam có khoảng từ 300 – 400 tấn vàng, tương đương 15-20 tỉ USD bị chôn chặt vào vàng. Mỗi khi giá vàng biến động làm ảnh hưởng đến tỉ giá thông qua hoạt động nhập khẩu lậu vàng gây ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu và gián tiếp làm cho lạm phát tăng cao trong những năm qua, tạo ra sự bất ổn của kinh tế vĩ mô. Từ tháng 5 đến nay, hệ thống ngân hàng đã mua lại được 60 tấn vàng (khoảng 3 tỉ USD) từ nền kinh tế.

Phản ứng của người dân

Lời xin lỗi của ông Thống đốc NHNN xem ra rất nhẹ nhàng. Lỗi là do “không làm tốt thông tin truyền thông để phổ biến kịp thời những nội dung về chủ trương chính sách của Nhà nước trong vấn đề quản lý thị trường vàng”.

Không biết ông thống đốc có biết đến nỗi lo cháy lòng vì những thiệt hại tiền tỷ của người dân khi chạy nháo nhào chuyển đổi từ vàng mang các nhãn mác sang SJC không và cả những người mua phải vàng nhái, vàng giả nữa? Hơn thế, ông có đọc được những phản ứng gay gắt của người dân chung quanh sự kiện này không? Xin nhắc lại một số trong hàng ngàn ý kiến đó trên hầu hết các trang báo VN:

– Độc giả Phung Khanh giãi bày: “Những người dân bình thường như chúng tôi, bao năm lao động tích cóp được ít tiền để chuẩn bị làm nhà, chuẩn bị cho con cái, rồi lo cho tuổi già … Vậy mà gửi tiết kiệm vào ngân hàng rồi chỉ trong thời gian giá trị đã bị bốc hơi. Thực sự xót xa mà chẳng thể làm gì, chẳng biết kêu ai.

Không tin tưởng vào việc gửi tiết kiệm đành mua ít vàng cho an toàn, rồi cũng do chính sách điều hành quản lý vàng, cuối cùng người dân cũng thua thiệt. Muốn điều hành gì trước hết hãy nghĩ đến hàng triệu người dân lao động bình thường. Chúng tôi thật khó mong được lợi gì ở việc điều chỉnh các chính sách như vừa rồi, chỉ mong được bảo toàn giá trị sức lao động của mình đã bỏ ra. Vàng chính là máu thịt của người dân chúng tôi”.

Độc giả Hoàng Huy đề nghị: “Không được dùng mệnh lệnh hành chính để làm méo mó hoạt động mua bán vàng. Hãy để cho cơ chế thị trường quyết định. Người dân sẽ tự quyết định dự trữ tài sản của mình theo cách nào, miễn là nó mang lại lợi ích. Ngân hàng là đơn vị kinh doanh tiền tệ, phải có chiến lược phù hợp nếu muốn huy động vàng để làm lợi cho hoạt động kinh doanh của mình.”

– Độc giả Hai Hậu nhận xét: “Ngân hàng nhà nước là cơ quan phải chịu trách nhiệm trong cảnh bát nháo của vàng hiện tại. Cứ xem chương trình VTV1 và trả lời phỏng vấn của ông Lê Hùng Dũng thì ta nhận ra rằng tất cả các yếu kém của NHNN là mầm mống phát sinh ra hiên trạng này. Trong khi nền kinh tế đang chao đảo vì khủng hoảng thì NHNN lại tung ra những cú ‘đột phá” khiến thị trường càng thêm rối bời.

Của để dành cũng bị các ông làm cho khốn đốn

– Để kết luận cho bài viết này, mong Thống đốc NHNN VN vui lòng đọc những lời tâm sự này của bạn đọc Cong Quang trên báo Dân trí:

“Cho phép tôi được nói thẳng: SJC là đơn vị vô trách nhiệm nhất trong nền kinh tế nước ta. Vì sao mà người dân mua 1 món hàng dù nhỏ nhưng đơn vị sản xuất cũng cấp cho người mua phiếu bảo hành với đầy đủ thông tin như số seri, số lô, ngày sản xuất. Vậy mà SJC bán vàng mà không có giấy chứng nhận gì kèm theo dù trên miếng vàng có mã số nhận dạng. Lẽ ra nếu SJC có trách nhiệm họ sẽ kèm theo giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa tương tự như phiếu bảo hành trên các sản phẩm điện máy đi kèm với miếng vàng mà họ cung cấp ra thị trường thì làm gì có chuyện vàng nhái như hiện giờ. Vì vậy theo tôi SJC phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với số vàng nhái hiện có trên thị trường chứ không thể né tránh như hiện nay. Đơn giản là vì vàng là tài sản lớn của người dân không thể nói 1 câu không phải SJC rồi cắt đôi và giao lại cho người dân đi bán ngoài thị trường. Các ông quá xem thường tài sản của nhân dân và luôn đẩy dân vào cảnh khó vì sự vô trách nhiệm của chính các ông. Người dân đã quá mệt mỏi với bao vấn đề về cơm áo gạo tiền giờ đến lượt của để dành cũng bị các ông làm cho khốn đốn. Làm dân Việt Nam sao mà khổ thế còn làm quan ở ta thì sướng không gì bằng: cái gì không quản được thì cấm, cái gì ngon ăn thì độc quyền bỏ mặc bao nổi khổ cho dân”.

Khỏi cần bình luận gì thêm sau khi đọc những lời tâm sự cháy lòng của người dân.

Văn Quang

* “Vàng và máu” là tập truyện đầu tiên của Thế Lữ (1934), là tác phẩm tiêu biểu và thành công nhất của ông ở thể loại trinh thám, đã trở thành một hiện tượng mới lạ ngay từ khi ra đời và để lại dư âm đến nhiều năm sau.