Tại Sao Cần Dự Trữ Ngoại Tệ?

Posted on May 7, 2011

0



Trong vụ khủng hoảng tài chánh năm 2008, nhiều quốc gia vẫn cho rằng Hoa Kỳ là thủ phạm.

Sau vụ khủng hoảng, khi kinh tế toàn cầu bị suy trầm, Hoa Kỳ lại là thủ phạm lần nữa vì các biện pháp kích thích kinh tế làm Mỹ kim sụt giá khiến các nước càng khó xuất cảng để kéo kinh tế ra khỏi hố suy sụp. Những tính toán về ngoại giao chính trị còn khiến một số quốc gia đề nghị hoặc vận động việc thay thế Mỹ kim như một ngoại tệ dự trữ. Người ta nói đến “ngày tàn của Mỹ kim” như một chỉ dấu về sự suy tàn của đệ nhất siêu cường….

Ngần ấy lý luận chỉ là một phần của sự thật, nên chưa là sự thật.

Khủng hoảng tài chánh có bùng nổ tại Hoa Kỳ, nhưng vì những chứng tật cũng đã có tại nhiều nước khác: bong bóng trên thị trường gia cư khiến nhà cửa lên giá, khủng hoảng tín dụng loại thứ cấp khiến hệ thống tài chánh ngân hàng vỡ nợ, v.v… Nước Mỹ không giữ độc quyền bất cẩn.

Khi khủng hoảng tài chánh bùng nổ ngay giữa một chu kỳ suy trầm – recession – khởi sự từ cuối năm 2007, ngân hàng trung ương Mỹ đã cắt lãi suất tới số không mà chưa thấy công hiệu thì in tiền để bơm vào kinh tế, gọi là quantitative easing (nâng mức lưu hoạt có định lượng). Mỹ kim vì vậy xuống giá.

Nhưng sau đó, Chính quyền Barack Obama lại còn tăng chi ào ạt, tiếng là để cứu nguy kinh tế mà thực chất là để cải tạo xã hội. Vì vậy, bội chi ngân sách và gánh nặng công trái lên tới mức kỷ lục mới càng đánh sụt giá đô la.

Khi Mỹ kim mất giá thì hàng Mỹ có rẻ hơn thật, nên Hoa Kỳ có thể gia tăng xuất cảng.

Nhưng mặt trái của sự việc là hàng nhập cảng cũng thành đắt hơn, được tiêu thụ ít hơn. Kết quả là nhờ đó mà cải thiện được cán cân ngoại thương – là xuất cảng nhiều hơn và nhập cảng ít đi, từ đó giảm số nhập siêu và quân bình lại cán cân chi phó (chi thu bằng ngoại tệ). Tiến trình điều chỉnh cần thiết ấy tất nhiên là gây dao động cho nước khác, khi họ cũng cần xuất cảng nhiều hơn và nhập cảng ít hơn… Nhiều nước bị khốn đốn vì dự trữ ngoại tệ của mình hao hụt do bị nhập siêu.

Tuy nhiên, những biến động hối đoái ấy dẫn tới câu hỏi về chức năng của khối dự trữ ngoại tệ.

Trên nguyên tắc, người ta cần có ngoại tệ – đơn vị tiền tệ của xứ khác – để giải quyết nhu cầu mua bán. Mua là nhập cảng, bán là xuất cảng. Bán hàng rồi là thu về ngoại tệ của xứ mua hàng và khi mua hàng thì phải thanh toán bằng ngoại tệ của nước bán hàng. Trong một chu kỳ giao dịch – một tháng hay một năm – để giải quyết nhu cầu thanh toán, người ta cần có sẵn một số dự trữ ngoại tệ, nhiều hay ít thì tùy khối lượng giao dịch. Mua bán nhiều làm chênh lệch giữa xuất và nhập cảng càng cao thì càng phải có nhiều dự trữ hơn. Câu hỏi nôm na dễ hiểu là “có đủ dự trữ cho bao nhiêu tuần nhập cảng?” Thời gian càng ngắn thì mức dự trữ này coi là càng ít.

Khi mua nhiều hơn bán thì người ta cần khối dự trữ cao hơn để thỏa mãn nhu cầu thanh toán. Và vì thị trường Hoa Kỳ mua nhiều hàng hóa nhất của thế giới, dự trữ của các xứ khác thường có một tỷ trọng Mỹ kim rất cao và hối suất đồng bạc được tính bằng Mỹ kim, là quy luật phổ biến.

Chuyện thứ hai là ấn định hối suất đồng bạc ấy như thế nào?

Hối suất là tỷ giá hối đoái trao đổi giữa đồng nội tệ của quốc gia với đồng ngoại tệ mà xứ này sử dụng nhiều nhất trong việc mua bán.

Khi ấn định hối suất thấp – cần ít tiền hơn để có một đơn vị ngoại tệ – thì hàng hoá của mình bán ra sẽ rẻ hơn và hàng nhập cảng sẽ đắt hơn. Trong nhiều thập niên, các quốc gia đều theo chế độ cố định có điều tiết, là ấn định hối suất cố định theo hướng có lợi nhất cho việc mua bán, nhưng vẫn điều chỉnh một cách tiệm tiến để phản ảnh thực tế cung cầu của việc mua bán ấy. Trên lý thuyết thì về dài chế độ hối đoái ấy – giàng giá đồng bạc vào một ngoại tệ, nhưng vẫn điều chỉnh – có thể quân bình được lượng hàng mua vào và bán ra.

Nhưng người ta không quên rằng đồng ngoại tệ ấy cũng là một tài sản, tương tự như một cổ phiếu, một trái phiếu – giấy nợ – hay một khối hàng hóa, v.v… Loài người vốn là sinh vật biết suy nghĩ và phản ứng sao cho có lợi nhất nên còn muốn loại tài sản này không mất giá hoặc còn lên giá, nghĩa là mua đi bán lại sao cho có lời. Nhiều chính quyền nghĩ rằng ấn định hối suất thấp thì có lợi cho ngoại thương (dễ xuất cảng và khó nhập cảng). Trong khi ấy, thị trường cũng tính toán và phản ứng theo chiều hướng đó, là khai thác sự sai biệt trên thị trường hối đoái này….

Chừng hai chục năm trở lại đây, các nước dần dần bãi bỏ chế độ hối đoái cố định mà thả nổi đồng bạc, là để thị trường quyết định về hối suất theo quy luật cung cầu. Nếu xứ này bán nhiều hơn mua thì giá trị đồng bạc tự nhiên phải tăng so với một đồng bạc khác, và ngược lại.

Chế độ hối đoái tự do dẫn tới hối suất tự do và trên nguyên tắc – tức là cũng sẽ sai trong thực tế – hối suất sẽ tự điều chỉnh để quân bình lại việc mua bán. Mua nhiều quá thì hối suất sụt nên sẽ giúp cho việc bán hàng dễ dàng hơn và giảm dần khả năng nhập cảng để đi tới cân bằng ngoại thương. Trong thực tế, việc điều chỉnh ấy không tiệm tiến và nhẹ nhàng mà gây nhiều biến động khiến các quốc gia phải có một khối dự trữ ngoại tệ lớn hơn nhu cầu thanh toán việc mua bán.

Khi ấy, tức là chừng một chục năm về trước, một hiện tượng song hành đã xảy ra.

Vì biến động trên thị trường hối đoái, thì muốn giữ giá nội tệ cho thấp, quốc gia phải bán ra số ngoại tệ dự trữ của mình. Và có khi bị khủng hoảng vì hao hụt dự trữ, là trường hợp Thái Lan ngày hai tháng Bảy năm 1997. Vụ khủng hoảng hối đoái ấy dẫn tới khủng hoảng kinh tế cho toàn cõi Đông Á, lan qua Nga, qua Brazil và dội về Hoa Kỳ.
Sau vụ khủng hoảng 1997-1998, các nước đều rút tỉa kinh nghiệm nên cố giữ một khối dự trữ thật lớn nếu so với nhu cầu ngoại thương của mình. Thái Lan nay có dự trữ tính ra Mỹ kim thì bằng 100 tỷ, Nam Hàn 200 tỷ, Đài Loan 300 tỷ và Trung Quốc hơn hai ngàn tỷ…

Thế thì họ làm gì với khối dự trữ ấy khi mà nhu cầu thanh toán cho ngoại thương thật ra không lớn như vậy? Họ dùng ngoại tệ ấy để đầu tư, và dự trữ ngoại tệ trở thành quỹ đầu tư.

Nhu cầu đầu tư – mua cái gì, ở đâu, thì có lợi nhất an toàn nhất? – mới quyết định về tỷ phần ngoại tệ trong khối dự trữ này. Nếu đầu tư vào Mỹ có lợi hơn vào Âu châu hay Nhật Bản thì tỷ trọng Mỹ kim trong quỹ đầu tư này cao hơn so với đồng Euro hay đồng Yen.

Đó là trào lưu chung của thế giới và cuộc tranh luận về tương lai đồng Mỹ kim không làm sáng tỏ vấn đề nếu không vạch ra một sự thật mới: khối dự trữ ngoại tệ không chì là quỹ bình ổn hối đoái mà còn là quỹ đầu tư. Và tính toán về đầu tư – hơn là ngoại thương – mới quyết định về cơ cấu các loại ngoại tệ trong khối dự trữ này.

Ngoại lệ là… Việt Nam.

Hà Nội lạc hậu nên không theo kịp cách suy nghĩ và phản ứng của thị trường khi ấn định hối suất so với đồng Mỹ kim theo lối chủ quan duy ý chí và bị thị trường đánh ngược. Dự trữ ngoại tệ đã hao hụt vì nhập nhiều hơn xuất lại càng hao hụt vì phản ứng đầu cơ của thị trường, cả nội địa lẫn quốc tế. Từ 23 tỷ Mỹ kim nay thành quá mỏng so với nhu cầu nhập cảng quá lớn. Một vụ khủng hoảng hối đoái vì vậy sẽ rất dễ xảy ra trong những năm tới.

(Vẫn phải trở về “kinh tế nhập môn” vậy! Bài này được viết từ cuối năm 2009. Trời ơi!)

Nguyễn Xuân Nghĩa

Vì sao dự trữ ngoại hối suy giảm?

Ảnh: Ông Vũ Viết Ngoạn - Thanh Niên

“Một trong các yếu tố khiến dự trữ ngoại hối bị suy giảm là do thâm hụt cán cân thanh toán, do nhập siêu liên tục, nên chìa khóa căn bản cho vấn đề này là phải giảm nhập siêu”.

Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, ông Vũ Viết Ngoạn nhận định như vậy khi trao đổi với phóng viên xoay quanh việc điều chỉnh tỷ giá vừa qua cũng như những giải pháp để giảm thiểu rủi ro từ việc dự trữ ngoại hối mỏng hiện nay.

Điều chỉnh tỷ giá phải đi kèm quản lý giá
Việc điều chỉnh tỷ giá có phần “mạnh tay” của NHNN vừa qua đã tạo dư luận nhiều chiều. Là chuyên gia kinh tế, ông đánh giá như thế nào về vấn đề này?

Cũng đã khá lâu rồi chúng ta mới điều chỉnh tỷ giá. Đợt điều chỉnh gần đây nhất là vào tháng 2.2010, trước đó là tháng 11.2009. Chỉ có một điểm khác là điều chỉnh tỷ giá lần này có biên độ hết sức lớn, tới 9,3%, tính biên trần mức điều chỉnh đến 9,3% là mức rất mạnh so với nhiều năm nay. Trước đây điều chỉnh chỉ dao động xung quanh 2 – 3%.

Đánh giá tác động của lần điều chỉnh tỷ giá này có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến thì cho rằng nên tăng từng ít một, tức theo phương pháp tỷ giá “trườn bò”, nhưng cũng có quan điểm cho rằng nếu như vậy sẽ không phản ánh đúng tương quan cung – cầu của thị trường, sẽ dẫn tới tâm lý thị trường tiếp tục kỳ vọng có bước điều chỉnh nữa, và như vậy sẽ gây tác hại cho nền kinh tế.

Chúng ta biết là thời gian vừa qua, có những lúc tỷ giá thị trường có thể đã cao hơn gần 10% so với tỷ giá chính thức mà NHNN đang áp dụng. Việc điều chỉnh tỷ giá lần này là đưa tỷ giá trở về đúng tương quan cung – cầu thị trường hiện nay. Vì vậy, việc điều chỉnh tỷ giá vừa rồi theo tôi là hợp lý.

Tôi cho rằng, áp dụng phương pháp nào cũng đều có 2 mặt tích cực và tiêu cực. Quan trọng là làm thế nào để phát huy mặt tích cực và có biện pháp đi kèm để giảm thiểu tác động tiêu cực.

Vậy theo ông, ngoài những tác động tích cực như ông vừa nói thì việc điều chỉnh tỷ giá lần này sẽ tạo ra những áp lực gì cho nền kinh tế và nên sử dụng biện pháp đi kèm như thế nào để giải quyết?

Chúng ta biết rằng mặt tích cực của điều chỉnh tỷ giá là khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, qua đó điều chỉnh cán cân thương mại. Nhưng mặt trái của việc điều chỉnh tỷ giá là trong điều kiện vẫn nhập siêu cao thì sẽ gây ảnh hưởng đến giá thành của những mặt hàng nhập khẩu dẫn đến gây sức ép đến lạm phát. Vì vậy, cần phải có các biện pháp quản lý thị trường và quản lý giá chặt chẽ, hiệu quả.

Tránh tình trạng để doanh nghiệp (DN) là người bán hàng tăng giá một cách không hợp lý. Đồng thời, song song với biện pháp quản lý thị trường, chúng ta cũng cần làm tốt công tác tuyên truyền để ổn định tâm lý người dân và DN. Sơ bộ đánh giá những ngày qua thì đa phần không ngạc nhiên lắm trước sự điều chỉnh tỷ giá, vì sự chênh lệch giữa tỷ giá thị trường và ngân hàng thực tế đã đến gần 10% rồi.

Vậy theo ông vì sao thị trường kỳ vọng từ lâu nhưng đến bây giờ mới điều chỉnh tỷ giá?

Để thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát năm 2010, chúng ta đã giãn khoảng cách điều chỉnh tỷ giá. Không điều chỉnh tỷ giá mà chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2010 đã lên tới 11,75% rồi, nếu điều chỉnh sẽ còn cao hơn. Nhưng nói vậy không có nghĩa vì kiềm chế lạm phát mà mãi mãi không tăng tỷ giá, vì còn phụ thuộc vào khả năng chịu đựng nữa.

Giảm nhập siêu để hạn chế rủi ro dự trữ ngoại hối
Khả năng chịu đựng ở đây mà ông muốn nói tới liệu có phải là việc “nín nhịn” điều chỉnh tỷ giá phần nào dẫn tới thực trạng dự trữ ngoại hối của chúng ta chỉ còn trên 10 tỉ USD như một vị bộ trưởng thông tin cuối năm 2010 vừa qua? Việc dự trữ ngoại hối mỏng sẽ dẫn tới những rủi ro như thế nào cho nền kinh tế, thưa ông?

Thông thường không có một nguyên tắc định lượng cụ thể nào về tỷ lệ dự trữ ngoại hối. Nhưng trong điều kiện phát triển của VN hiện nay, các tổ chức tài chính quốc tế khuyến nghị, dự trữ ngoại hối phải đảm bảo 10 – 12 tuần nhập khẩu. Năm vừa rồi chúng ta nhập khẩu lên tới 84 – 85 tỉ USD, như vậy chúng ta cần phải có 20 tỉ USD dự trữ mới đảm bảo được nhập khẩu. Mức dự trữ ngoại hối hiện nay là thấp so với yêu cầu.

Một trong các yếu tố khiến dự trữ ngoại hối bị suy giảm là do thâm hụt cán cân thanh toán, do nhập siêu liên tục, nên chìa khóa căn bản cho vấn đề này là phải giảm nhập siêu.

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đã đưa ra đề xuất này và kiến nghị Chính phủ không thể để nhập siêu cao như hiện nay mà phải giảm mạnh hơn nữa. Ủy ban đã đề nghị có giải pháp giảm nhập siêu xuống 15% kim ngạch xuất khẩu trong thời gian tới. Tất nhiên để thực hiện được cũng cần có thời gian, phải mất vài ba năm nữa và muốn giảm được nhập siêu thì phải giải quyết được bài toán tái cấu trúc nền kinh tế.

Trước mắt trong năm 2011, Quốc hội đã thông qua chỉ tiêu nhập siêu không quá 18% kim ngạch xuất khẩu.

Thưa ông, có ý kiến lo ngại dự trữ ngoại hối mỏng như hiện nay sẽ ảnh hưởng xấu đến nợ công. Ông nghĩ sao trước lo ngại này?

Hiện nay đối với Nhà nước thì nợ nước ngoài vay chủ yếu là dài hạn, các khoản vay nợ đến hạn phải trả không nhiều. Cho nên trong thời gian trước mắt, việc phải dùng dự trữ ngoại hối để trả nợ của Chính phủ không đáng lo ngại. Vấn đề quan trọng là chúng ta phải tiếp tục quản lý chặt chẽ để đảm bảo cân đối ngoại tệ quốc gia. Nếu cán cân thanh toán của chúng ta được cải thiện trong những năm tới thì sẽ không có gì đáng lo ngại.

Việc dự trữ ngoại hối mỏng có thể chưa tác động ngay đến nợ công như ông vừa nói nhưng việc điều chỉnh tỷ giá lần này sẽ gây áp lực như thế nào đối với các DN nhập khẩu và đang vay nợ nước ngoài, phải thanh toán bằng USD, thưa ông?

Xác định nợ công nói riêng và nợ quốc gia nói chung tính ra đồng VN thì đương nhiên giá trị nợ tuyệt đối tăng lên, do tác động của việc điều chỉnh tỷ giá. Đây cũng là một trong những tác động phụ của việc điều chỉnh tỷ giá và đó là điều cần phải tính tới khi lựa chọn điều chỉnh tỷ giá. Đây là hạn chế của VN trong giai đoạn đầu phát triển.

Các DN vay ngoại tệ vẫn chịu rủi ro hối đoái vì chưa áp dụng các công cụ phân tán rủi ro, trong khi các nước khác áp dụng công cụ hạn chế rủi ro hối đoái thì dù tỷ giá có tăng, giảm đến 30%/năm cũng không có vấn đề gì cả, bởi vì ở các nước họ có những công cụ phân tán rủi ro cho toàn xã hội, sử dụng như một hình thức bảo hiểm và tính toán chi phí tài chính đưa vào giá thành.

Ở ta thì công cụ chống rủi ro hối đoái trên thị trường chưa phát triển nên DN gặp khó khăn khi điều chỉnh tỷ giá. Điều đó cũng gây trở ngại cho Nhà nước khi áp dụng điều chỉnh tỷ giá. Trong thời gian tới đây, thị trường tài chính đặt ra yêu cầu phải phát triển mạnh mẽ và sâu hơn nữa để có các công cụ chống rủi ro cho các khoản nợ nước ngoài.

Cảm ơn ông.

Advertisements
Tagged:
Posted in: Kinh Tế