Tranh chấp Biển Đông: Ngoại giao có át được tiếng súng?

Posted on June 22, 2011

0



Biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam

Cuộc tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông, vốn đã âm ỉ từ nhiều năm nay, gần đây có thể nói đã tiến tới một khúc quanh quyết định, một mặt có nguy cơ dẫn đến một cuộc đối đầu quân sự, nhưng mặt khác cũng có thể là một khởi điểm để các bên tranh chấp mưu tìm một giải pháp đa phương hầu giải quyết cuộc tranh chấp tại vùng biển thường được gọi là Nam Hải mà Việt Nam gọi là Biển Đông, và mới đây lại được Manila đặt tên là Biển Tây Philippines.

Câu Chuyện Việt Nam tuần này do Hoài Hương phụ trách xin mời quý vị theo dõi ý kiến của một chuyên gia về các vấn đề Đông Nam Á về các diễn biến mới trong cuộc tranh chấp, và về vai trò của Hoa Kỳ tại Châu Á. Ông Ernest Bower là cố vấn cao cấp kiêm Giám Đốc Chương trình Đông Nam Á của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) ở thủ đô Washington.

Trong các diễn biến dồn dập hồi gần đây liên quan tới các cuộc tranh chấp tại Biển Đông, hai Thượng nghị sĩ Mỹ, ông Jim Webb của Đảng Dân Chủ, và ông James Inhofe thuộc Đảng Cộng Hòa, đã đệ trình lên Ủy Ban Thượng Viện Hoa Kỳ về các vấn đề Đông Á-Thái Bình Dương một nghị quyết, lên án Trung Quốc là “nhiều lần dùng vũ lực” trong cuộc tranh chấp chủ quyền Biển Đông.

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Ban Việt Ngữ đài VOA, Giám Đốc Chương Trình Đông Nam Á thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) ở thủ đô Washington, ông Ernest Bower, cho rằng hai Thượng nghị sĩ Mỹ đã gửi đi một thông điệp rõ ràng đến tất cả các bên liên hệ, rằng Hoa Kỳ có quyền lợi gắn liền với vấn đề Biển Đông, đồng thời nêu bật vai trò mà Hoa Kỳ có thể nắm giữ trong các nỗ lực nhằm tránh để cuộc tranh chấp leo thang tới mức có thể vượt khỏi tầm kiểm soát.

Giám Đốc Chương Trình Đông Nam Á thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) Ernest Bower

Ông Bower nêu bật tầm quan trọng thiết yếu của Châu Á đối với Hoa Kỳ trong tương lai, và nói rằng điều quan trọng là Washington phải trấn an các nước Châu Á về mức độ cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực, trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng muốn nới rộng phạm vi ảnh hưởng và sự hiện diện trên sân khấu thế giới, trong khi cùng lúc, trên chính trường Mỹ lại xuất hiện một số chính khách có lập trường muốn tự cô lập, giữa lúc Hoa Kỳ phải tìm cách vực dậy một nền kinh tế vẫn chưa thoát hẳn cơn suy thoái trầm trọng nhất từ sau Thế chiến thứ Hai.

VOA: Thưa ông, rõ ràng cuộc tranh chấp chủ quyền vùng Biển Đông mới đây đã trở nên gay gắt hơn, thưa ông có nghĩ rằng cuộc đấu khẩu hiện nay có nguy cơ leo thang để trở thành một cuộc đối đầu… có thể một cuộc đối đầu quân sự?

Ernest Bower: “Tôi hy vọng là không, giữa Trung Quốc với Việt Nam  trong quá khứ đã có nhiều cuộc đối đầu quân sự để giành chủ quyền các hòn đảo trong vùng. Năm 1974, hai bên đã chạm súng, nhiều tàu đã bị đánh đắm, nhiều người bị giết chết. Tôi hy vọng là chúng ta không lâm vào tình huống đó. Rõ ràng là nếu xảy ra thì sự thể đó sẽ không phục vụ quyền lợi của bất cứ một ai, và tôi tin rằng lần này ngoại giao sẽ thắng thế, và sẽ át được tiếng súng.”

VOA: Thưa ông, vài tuần trở lại đây, từ sau cuộc đối thoại Shrangri-La ở Singapore, một số giới chức cao cấp Mỹ đã đưa ra những phát biểu khẳng định Hoa Kỳ là một thế lực khu vực, rằng Hoa Kỳ đã quay lại vùng Đông Nam Á…Mới đây, Thượng nghị sĩ Jim Webb và Thượng nghị sĩ Imhofe thuộc hai chính đảng lớn của Mỹ, đã đệ trình một nghị quyết, lên án Trung Quốc là “nhiều lần dùng vũ lực,” lấn át các nước lân bang yếu thế hơn. Có phải Hoa Kỳ giờ đây đã can dự vào cuộc tranh chấp tại Biển Đông?

Ernest Bower:
“Tôi không nghĩ là bất cứ điều gì xảy ra trong hai tuần qua, thay đổi vị thế của Hoa Kỳ, hoặc đặt Hoa Kỳ vào giữa cuộc tranh chấp. Nhưng rõ ràng là Hoa Kỳ quan tâm tới vấn đề, và có quyền lợi gắn chặt với việc tiếp tục mở các tuyến hải lộ trong Biển Nam Trung Hoa cho tàu bè qua lại, và việc giải quyết tranh chấp dựa trên cơ sở pháp lý, chứ không dùng vũ lực.”

VOA: Thưa ông, Trung Quốc nhấn mạnh rằng giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề là đối thoại song phương với từng bên. Bắc Kinh đã khuyến cáo các bên thứ Ba, kể cả Hoa Kỳ, chớ nên can thiệp, thế thì theo ông Hoa kỳ nên ứng phó ra sao trong khi Washington đang cố gắng củng cố vị thế ở Châu Á, và tăng cường sự hiện diện trong khu vực?

Ernest Bower: “Người Mỹ có một vài mục tiêu muốn thực hiện. Trước hết, Hoa Kỳ thực sự đang đáp ứng yêu cầu của các nước Châu Á, muốn Hoa Kỳ có mặt trong khu vực để tạo ra một thế cân bằng khả dĩ có thể thuyết phục Trung Quốc hãy đến với khu vực trong tư cách một đối tác hòa bình, có trách nhiệm, góp tay giúp Châu Á phát triển. Chắc chắn Trung Quốc có đủ sức mạnh kinh tế để làm việc đó. Tuy nhiên các nước láng giềng không muốn Trung Quốc sử dụng sức mạnh của mình để xác quyết chủ quyền tại các lãnh thổ tranh chấp, hoặc ỷ thế nước lớn để khống chế cuộc tranh chấp. Hướng tiếp cận đó bị các nước láng giềng của Trung Quốc coi như một mối đe dọa, và vì thế họ muốn Hoa Kỳ đóng một vai trò trong khu vực. Nhưng Hoa Kỳ cũng có quyền lợi trong vụ này. Washington muốn thấy một nước Trung Quốc thịnh vượng, hòa bình, gia nhập vào dòng sinh hoạt của cộng đồng Châu Á bằng đường lối đồng thuận và hợp tác với các nước khác. Cho nên Hoa Kỳ sẽ khuyến khích việc giải quyết tranh chấp theo đường lối đa phương, dựa trên luật quốc tế và thông qua các cấu trúc khu vực mới.”

VOA: Thưa ông trong một bài viết trên trang web của CSIS, tựa đề là “Antidote to a Cold War with China”, (tạm dịch là “Giải Pháp để tránh Chiến Tranh lạnh với Trung Quốc”), ông nêu bật tầm quan trọng của Châu Á đối với Hoa Kỳ trong tương lai, và đề nghị Washington hãy theo một hướng tiếp cận có tính chiến lược  hơn, thế thì ông tin là những diễn biến gần đây có thể dẫn tới một cuộc Chiến Tranh Lạnh với Trung Quốc?

Ernest Bower: “Tôi e rằng có nguy cơ kịch bản đó xảy ra, chiến tranh lạnh có tiềm năng xảy ra khi các nước quan tâm về cách hành xử của Trung Quốc, đang muốn trắc nghiệm sức mạnh của mình, có thể kêu gọi Hoa Kỳ tiếp tay ứng phó với tình hình. Nếu Hoa Kỳ và các đối tác không có một chiến lược đúng đắn để đáp ứng, thì thế giới  có thể lâm vào một cuộc đối đầu giữa hai cường quốc, một cuộc cạnh tranh lưỡng cực, tương tự như một cuộc chiến tranh lạnh mới. Nếu xảy ra thì thật là rất đáng buồn, rất nguy hiểm, không có lợi cho tương lai của Châu Á hay cho Hoa Kỳ.”

VOA: Và cũng chẳng có lợi gì cho Trung Quốc?

Ernest Bower: “Vâng, hoàn toàn không có lợi cho Trung Quốc. Trong 15 năm qua, có thể nói Trung Quốc đã đạt nhiều bước tiến, uy tín của Trung Quốc tại Châu Á đã tăng đáng kể, họ được coi như một đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế, hội nhập với khu vực, mãi cho tới khoảng 1 năm rưỡi, 2 năm nay, Bắc Kinh dường như muốn thách thức các giới hạn đối với sức mạnh của mình, và khẳng định chủ quyền trong các cuộc tranh chấp biển đảo tại Biển Nam Trung Hoa, thực sự gây khó chịu cho các nước láng giềng, làm cho các nước này quan ngại hơn về sự hiện diện của một nước láng giềng khổng lồ đang dương oai để trắc nghiệm sức mạnh của mình.”

VOA:
Thưa ông, nếu kịch bản xấu nhất diễn ra, chiến tranh bùng nổ vì cuộc tranh chấp ở Biển Đông, xin ông đánh giá thực lực của Trung Quốc, về kinh tế và quân sự…Liệu Trung Quốc có đủ sức chống chọi với Việt Nam, Philippines, được sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ và các đồng minh khác hay không?

Ernest Bower: “Thật tình tôi không biết nữa…Tôi nghĩ rằng nếu nhìn vào Trung Quốc bây giờ, Trung Quốc là một cường quốc đang lên, một cuộc chiến tranh sẽ không có lợi cho nước này, tôi không tin là Trung Quốc đã sẵn sàng để có thể giao chiến trong một cuộc chiến tranh hiện đại với Hoa Kỳ, mặc dù Bắc Kinh có một lực lượng quân đội hùng mạnh, và đã đạt được nhiều tiến bộ về mặt công nghệ, nhưng về mặt chiến lược, bất cứ nhà phân tích quân sự nào cũng sẽ nói rằng chiến tranh sẽ là một tai họa lớn, thời điểm này không đúng lúc để Trung Quốc khẳng định quyền hạn của mình, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc được coi là bên gây hấn trong vùng Biển Nam Trung Hoa, thử sức mạnh quân sự của mình, lấn át các nước nhỏ, chỉ tìm cách tự vệ. Tôi tin rằng chiến tranh sẽ là một đại họa cho Trung Quốc, cũng như cho khu vực, và cho cả Hoa Kỳ.”

VOA: Thưa ông, Việt Nam đứng trước những chọn lựa nào. Một bên là nước Cộng Sản anh em đang hù dọa mình, một đàng là liên minh do cựu thù Hoa Kỳ lãnh đạo, chọn lựa nào cũng mang theo những hệ quả riêng. Đặt giả thuyết, ông có cơ hội nói chuyện riêng với các nhà làm quyết định tại Hà Nội, ông sẽ khuyên họ những gì, trong tư cách là Cố vấn cấp cao về các vấn đề Đông Nam Á?

Ernest Bower: “Hiện đang có những kế hoạch được xúc tiến thông qua Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Á, cuộc họp quy tụ các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN, Diễn Đàn Khu vực Á Châu, có những cơ chế để có thể giải quyết tranh chấp mà không cần phải về phe này phe nọ. Thế cho nên lời khuyên của tôi cho giới lãnh đạo Việt Nam, theo giả thuyết mà cô vừa đặt ra, thì tôi sẽ khuyên Việt Nam chớ nên đặt mình vào thế phải chọn lựa giữa hai bên như thế. Tôi tin rằng cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ cũng không muốn đặt các nước khác vào thế kẹt đó.”

VOA: Thưa ông, lần đầu tiên Việt Nam đã cùng Hoa Kỳ và các nước đồng minh tập dượt quân sự chung, ngoài bề mặt là để tiếp tay ổn định tình hình Thái Lan, ông có nghĩ rằng những diễn biến trong Biển Đông gần đây cũng có thể là một khúc quanh lịch sử đối với Việt Nam?

Ernest Bower: “Có thể, những diễn biến ấy có tiềm năng đó. Tôi tin rằng Việt Nam sẽ tìm cách không để cho điều đó xảy ra. Nếu theo dõi chính sách đối ngoại của Việt Nam, chúng ta thấy rằng nước này rất thận trọng trong việc duy trì cân bằng các quan hệ với nước ngoài, họ tìm cách tránh đặt quá nặng quan hệ với Hoa Kỳ, và cả quan hệ với Trung Quốc, mặc dù như cô nói, hai nước từng là kẻ thù truyền thống của nhau, nhưng hai nước cũng là hai nước cộng sản anh em…”

VOA: Thưa ông, tôi không nghĩ những người đi biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn nghĩ như thế.

Ernest Bower: “Đồng ý với cô! Nhưng đứng từ quan điểm của Đảng Cộng Sản…Tôi cũng tin rằng Trung Quốc phải thận trọng hơn. Họ có thực sự muốn những người dân thường ở Hà Nội và Saigon có những cảm nghĩ không đẹp về họ như thế hay không? Họ có muốn người dân ở Manila, ở Jakarta có những cảm nghĩ đó hay không? Tôi lấy làm ngạc nhiên là Bắc Kinh đã để tình hình xuống cấp tới mức đó, bởi vì trong quá khứ họ đã thành công quá mức trong việc nới rộng quyền lực kinh tế, và nâng cao uy tín của họ trên trường quốc tế nhờ một chính sách ngoại giao nhu hòa. Thế mà giờ đây, họ lại đi đánh đổi chính sách vô cùng thành công đó với một chính sách có thể nói là vụng về.”

Thưa quý vị, ‘Câu chuyện Việt Nam’, phát thanh vào lúc 10 giờ tối thứ Bảy hàng tuần, đến đây đã kết thúc. Quý vị có thể bình luận về đề tài hôm nay, đọc các tin mới nhất, xem phóng sự video, và trao đổi với các độc giả khác trên trang web của chúng tôi ở địa chỉ http://www.voatiengviet.com, hoặc các trang web xã hội Facebook, Twitter và Yahoo 360 plus.

Hoài Hương xin cám ơn quý độc giả đã theo dõi Câu Chuyện Việt Nam tuần này, và xin hẹn gặp lại quý vị trong chương trình kỳ tới.

Phát biểu của TNS McCain tại Hội thảo An ninh Biển Đông

Thượng Nghị Sĩ John McCain đang phát biểu tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông ở Washington DC hôm 20-06-2011.

Phát biểu của Thượng Nghị Sĩ John McCain tại Hội thảo Về An ninh Hàng hải Trên Biển Đông ở Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS).

Cảm ơn John [Hamre] về lời giới thiệu hào phóng đó và cảm ơn tình bạn của anh trong nhiều năm qua. Tôi rất vui khi trở lại CSIS, nơi đã làm nhiều điều với mục đích thông báo suy nghĩ của Mỹ đến với thế giới và sự lãnh đạo của chúng tôi trong đó.

Như quý vị biết, tôi vừa từ Đông Nam Á trở về, và trước khi tôi chuyển qua chủ đề của hội nghị này, tôi muốn cung cấp một số cảm tưởng ngắn gọn về chuyến đi Miến Điện của tôi. Đây là lần đầu tiên tôi được phép trở lại đất nước này trong 15 năm, điều đó cho thấy dấu hiệu về chính phủ dân sự mới này có thể đại diện cho một sự thay đổi so với quá khứ.

Sự tương phản đáng buồn

Một thay đổi đáng chú ý khác là thủ đô mới Nay Pyi Taw. Các tòa nhà chính phủ lớn, các cung điện chạm đá cẩm thạch, các khách sạn mới toanh, đường cao tốc với 18 làn xe, và điều kỳ lạ là: không có ai ở đó. Chỉ có chúng tôi là những chiếc xe duy nhất trên đường. Các tòa nhà gần như trống rỗng.

Đau lòng lắm, và điều này làm cho các bạn ước muốn, phải chi chính phủ Miến Điện cũng đầu tư sự nhiệt tình và tài nguyên để phát triển đất nước.

TNS John McCain

Đó là một điều kỳ quặc mà tôi đã trải qua. Và chắc chắn đó là một sự tương phản đáng buồn với sự nghèo đói khốn cùng ở Rangoon. Tôi đến thăm một phòng khám tư nhân [của những người bị bệnh] AIDS, mọi người đông nghẹt, nhiều trẻ em mồ côi, những người cần sự chăm sóc nhiều hơn là những phương tiện có sẵn. Tôi đã đi đến một dịch vụ cung cấp tang lễ miễn phí cho các linh hồn quá cố của những gia đình quá nghèo, để cho những người thân yêu của họ được chôn cất đàng hoàng.

Đau lòng lắm, và điều này làm cho các bạn ước muốn, phải chi chính phủ [Miến Điện] cũng đầu tư sự nhiệt tình và tài nguyên để phát triển đất nước của họ với mức độ tương tự như là việc xây dựng thủ đô.

Tuy nhiên, trong các cuộc họp của tôi với Phó Chủ tịch Thứ nhất, hai người đứng đầu Quốc hội, và những người khác, rõ ràng là chính phủ này muốn có quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ. Tôi nhấn mạnh rằng chính phủ Hoa Kỳ và tôi chia sẻ khát vọng này, và rằng một điều như thế không phải là không thể đạt được. Sau cùng, nếu Hoa Kỳ và Việt Nam có thể cải thiện quan hệ, mà tôi biết một hoặc hai điều về vấn đề này, thì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra.

Tuy nhiên, điểm chính tôi đã nhấn mạnh rằng, bất kỳ sự cải thiện mối quan hệ nào cũng cần được xây dựng, không những qua các cuộc nói chuyện vui vẻ, mà còn cần có các hành động từ cả hai phía. Hoa Kỳ cần sẵn sàng đặt mọi phương diện chính sách của chúng ta lên trên bàn, và để làm thay đổi những điều cụ thể mà chính phủ Nay Pyi Taw đã hỏi chúng tôi. Nhưng điều này chỉ có thể được thực hiện cùng với các hành động cụ thể về phía họ, đặc biệt là những lời kêu gọi của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc: phóng thích tất cả các tù nhân lương tâm, cho phép Hội Chữ thập đỏ được tự do vào thăm tất cả các nhà tù, bắt đầu một quá trình hòa giải quốc gia thực sự, có liên quan đến các đảng đối lập chính trị và dân tộc, gồm Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, và bảo đảm sự an toàn và tự do đi lại của bà Aung San Suu Kyi.

VHG_2082-250.jpg
Các đại biểu tham dự Hội thảo Quốc tế về Biển Đông ở Washington DC hôm 20-06-2011. RFA PHOTO.

Tôi đã có cơ hội gặp Bà [Aung San Suu Kyi] trong chuyến viếng thăm của tôi, và lý do tôi vẫn còn hy vọng cho người dân Miến Điện đó là vì bà. Hôm qua là sinh nhật của bà Aung San Suu Kyi và bà bày tỏ niềm hy vọng này: ‘Nếu được hỏi điều gì tôi mong muốn trong ngày sinh nhật của mình, tôi muốn hòa bình, ổn định và thịnh vượng cho đất nước tôi’. Người phụ nữ tuyệt vời này vẫn còn là nguồn cảm hứng cho những người dân của bà và cho tôi. Và tôi đồng ý với bà rằng, đây không phải là lúc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh trừng phạt. Chúng ta cũng nên làm việc để thiết lập một Ủy ban Điều tra Liên hợp quốc, mà điều này không liên quan gì đến sự trừng phạt, và tất cả mọi thứ liên quan đến sự thật và công lý cho người dân Miến Điện.

Điểm nóng Biển Đông

Từ Miến Điện, tôi đã đi đến Singapore tham dự Đối thoại Shangri La, nơi mà một trong những chủ đề chính của cuộc thảo luận là chủ đề của hội nghị này: an ninh hàng hải ở biển Đông. Vấn đề này gây xúc động mãnh liệt giữa các nước tuyên bố chủ quyền trên vùng biển và vùng lãnh thổ. Và các chuyên gia thực sự hiểu những vấn đề phức tạp về lịch sử và pháp lý của những tuyên bố chủ quyền này, thì rất ít. Tôi đến từ Arizona, nơi mà chúng ta biết việc tranh đấu sử dụng đất và nước phức tạp như thế nào. Tôi cũng là một cựu lính Hải quân đã dành phần lớn cuộc đời của mình đi đây đó và làm việc về các vấn đề an ninh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và tôi càng lo ngại, rằng biển Đông đang trở thành một điểm nóng xung đột.

Những năm vừa qua cho thấy sự leo thang nhanh chóng về tình trạng căng thẳng giữa các nước trong khu vực hàng hải đang tranh chấp và hay thay đổi này. Tôi không cần phải nói lại cho quý vị ở đây nghe tất cả các sự cố này. Dĩ nhiên, điều quan trọng là tất cả các bên thực hiện sự kiềm chế. Và để chắc chắn rằng, các đối tác ASEAN của chúng ta sẽ cần phải thỏa hiệp, đặc biệt là các nước thoả hiệp với nhau, để đạt được một kết quả hòa bình và cùng có lợi, như nhiều nước  trong số các nước này thừa nhận. Điều đó có nghĩa là, tình hình này cần phải nói thẳng một chút: Một trong những lực lượng chính làm cho các căng thẳng trên biển Đông trầm trọng hơn, và làm cho giải pháp hòa bình của các tranh chấp này khó khăn hơn để đạt được, đó là hành vi hung hăng của Trung Quốc và việc đòi chủ quyền lãnh thổ vô căn cứ mà họ tìm cách theo đuổi.

Các đối tác ASEAN của chúng ta sẽ cần phải thỏa hiệp, đặc biệt là các nước thoả hiệp với nhau, để đạt được một kết quả hòa bình và cùng có lợi.

TNS John McCain

Tôi chẳng vui vẻ gì để nói điều này.Tôi tin rằng một trong những lợi ích quốc gia hàng đầu của Hoa Kỳ là việc duy trì và tăng cường quan hệ nhiều mặt với Trung Quốc. Tôi muốn Trung Quốc thành công và phát triển một cách hòa bình. Và tôi tin rằng không một định mệnh lịch sử nào bắt chúng ta phải xung đột. Thật vậy, phạm vi hợp tác toàn cầu của chúng ta là rộng hơn bao giờ hết, kể cả các vấn đề an ninh hàng hải, rõ ràng để cho mọi người thấy các hoạt động chung của chúng ta ra ngoài khơi bán đảo Somali (Horn of Africa).

Điều gây khó khăn cho tôi, và tôi nghĩ nó cũng gây khó khăn cho nhiều quý vị ở đây, đó là các tuyên bố mở rộng mà Trung Quốc tuyên bố trên biển Đông; các lý do căn bản cung cấp cho các tuyên bố này, không có cơ sở luật pháp quốc tế; và những hành động ngày càng quyết đoán mà Trung Quốc đang thực hiện để thực thi các quyền tự nhận của họ, gồm cả vùng biển trong phạm vi 200 hải lý ngoài khơi bờ biển của các nước ASEAN, như là trường hợp gần đây trong các sự cố riêng biệt liên quan đến Việt Nam và Philippines. Bản đồ về cái gọi là chín vạch của Trung Quốc tuyên bố tất cả các đảo trên biển Đông là chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc và tất cả các vùng lãnh hải của nó là vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Hơn nữa, những giải thích cụ thể về luật pháp quốc tế của Trung Quốc sẽ làm xói mòn các nguyên tắc lâu dài về tự do hàng hải – bóp méo nguyên tắc về khái niệm mở rộng cho mọi người đi vào, khái niệm loại trừ sẽ hạn chế đi vào [vùng biển]. Một số người ở Trung Quốc thậm chí còn đề cập đến học thuyết này, như xin trích dẫn, ‘chiến tranh pháp lý’.

Tại sao điều này quan trọng đối với Hoa Kỳ? Đây là câu hỏi mà nhiều người Mỹ sẽ hỏi, đặc biệt là khi chúng ta liên quan đến ba cuộc xung đột đã xảy ra, và khi nợ quốc gia của chúng ta thực sự ngoài sức chịu đựng. Tại sao Mỹ nên quan tâm đến tranh chấp lãnh hải của các nước bên ngoài cách xa nửa vòng trái đất?

Chắc chắn có lý do kinh tế để tham gia. Khu vực biển Đông là nguồn quan trọng về công việc làm và tài nguyên thiên nhiên có lợi cho nhiều người Mỹ. Tuy nhiên, có lẽ xét rộng hơn là yếu tố chiến lược. Trọng tâm địa chính trị thế giới đang chuyển sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, một khu vực, trong đó nhiều nước đang trỗi dậy cùng một lúc về sự giàu có và sức mạnh. Điều này tạo ra sự va chạm giữa các quốc gia, nơi các tranh chấp cũ vẫn chưa được giải quyết. Hoa Kỳ có một lợi ích an ninh quốc gia trong việc duy trì sự cân bằng chiến lược thuận lợi trong khu vực quan trọng này. Và trọng tâm đó là để bảo vệ quyền tự do phổ quát trong việc đi lại và đi vào các vùng biển như một nguyên tắc căn bản của trật tự quốc tế.

VHG_2134-250.jpg
Các phóng viên tác nghiệp tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông ở Washington DC hôm 20-06-2011. RFA PHOTO.

Những nỗ lực phủ nhận tự do hàng hải trên biển Đông đặt ra một thách thức nghiêm trọng đến trật tự quốc tế, dựa trên luật lệ, rằng Hoa Kỳ và đồng minh của chúng tôi đã duy trì trong nhiều thập kỷ. Nếu những nỗ lực này thành công, nghĩa là nếu việc liên tục bắt nạt, cho phép một nước áp đặt tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mình bằng vũ lực và biến biển Đông thành một khu vực không cho các tàu thương mại và quân sự của các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, đi vào, hậu quả sẽ thật thảm khốc. Điều đó có thể thiết lập một tiền lệ nguy hiểm để làm suy yếu luật pháp quốc tế, theo cách mà những người có ác ý chắc chắn sẽ áp dụng ở những nơi khác. Điều đó có thể tạo ra sự khuyến khích cường quốc đang trỗi dậy gây phiền hà khắp mọi nơi, sử dụng vũ lực, để chiếm đoạt những gì mà các phương tiện hoà bình hợp pháp không thể thực hiện được. Và nó sẽ đưa chúng ta đến gần hơn vào một ngày, khi hải quân Mỹ thấy rằng không thể đi vào và hoạt động một cách an toàn ở Tây Thái Bình Dương.

Lập trường của Mỹ về Biển Đông

Vậy thì Hoa Kỳ nên làm những gì? Để tôi cung cấp một vài đề nghị để kết thúc.

Thứ  nhất, về lập trường của Mỹ trên biển Đông, chúng ta nhận thấy rằng, nếu có thể, một chính sách rõ ràng có thể ổn định hơn so với một chính sách không rõ ràng. Tôi hoan nghênh Ngoại trưởng Clinton khi tuyên bố rằng các bên tranh chấp trên biển Đông phải được giải quyết thông qua đàm phán đa phương, và chúng ta sẽ tìm cách tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán. Đa số các nước châu Á hoan nghênh tuyên bố đó. Trên hết, đây là mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng, không phải giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, rất hữu ích cho chúng ta tiếp tục nói rõ quan điểm của Mỹ, để các nước khác có thể biết, Hoa Kỳ chấp nhận những yêu sách nào, yêu sách nào chúng ta không chấp nhận, và những hành động nào chúng ta chuẩn bị để hỗ trợ các chính sách và các đối tác của chúng ta, đặc biệt là Philippines, một nước đồng minh có ký hiệp ước.

Thứ hai, Hoa Kỳ nên hỗ trợ các đối tác ASEAN của chúng ta trong việc giải quyết tranh chấp của họ trên biển Đông, như một phương tiện cổ vũ ASEAN đoàn kết hơn để đối mặt với Trung Quốc. Trung Quốc tìm cách khai thác sự chia rẽ giữa các thành viên ASEAN – làm cho họ chống đối nhau, để phục vụ cho kế hoạch riêng của Trung Quốc. Giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các nước ASEAN, như Malaysia và Brunei gần đây đã thực hiện, sẽ cho phép các đối tác của chúng ta thiết lập một mặt trận thống nhất hơn.

Thứ ba, Hoa Kỳ cần giúp đỡ các đối tác ASEAN của chúng ta tăng cường sự phòng thủ trên biển và khả năng phát hiện – để phát triển và triển khai các hệ thống cơ bản như radar cảnh báo sớm và các tàu an ninh ven biển. Bù đắp sự thiếu thốn này, và tăng cường tập trận chung với chúng ta, sẽ cung cấp một hình ảnh hoạt động phổ biến hơn trên biển Đông và khả năng đối phó tốt hơn với các mối đe dọa.

Về lập trường của Mỹ trên biển Đông, chúng ta nhận thấy rằng, nếu có thể, một chính sách rõ ràng có thể ổn định hơn so với một chính sách không rõ ràng.

TNS John McCain

Thứ tư, Thượng viện Mỹ cần quan tâm hơn đến Công ước LHQ về Luật Biển. Tôi biết điều này không phổ biến ở một số người bảo thủ. Chính tôi cũng đã nghi ngờ về công ước. Nhưng thực tế là, chính phủ các nhiệm kỳ kế tiếp của cả hai đảng đã tôn trọng những nhận xét cơ bản của Công ước, mặc dù không cần phải ký. Trong khi đó, các nước như Trung Quốc đã ký công ước mà không thực hiện đúng, nhắm tới việc từ chối [không cho các nước] đi vào vùng biển quốc tế. Điều này làm cho Hoa Kỳ phải dựa vào ân huệ của các nước ngoài cũng như dựa vào sức mạnh lớn hơn của chính mình để bảo đảm quyền đi lại của Mỹ. Nhưng những điều này là đặc ân, không thể được xem như lúc nào cũng có sẵn, đó là lý do Hải quân Mỹ hỗ trợ mạnh mẽ Công ước [LHQ về Luật Biển] và tính pháp lý của nó, để bảo đảm nó phục vụ cho các hoạt động hải quân của chúng ta. Do đó, vì lý do an ninh quốc gia, Thượng viện cần phải quyết định, đã đến lúc phê chuẩn Hiệp ước Luật Biển.

Thứ năm, chúng ta cần phải chuyển sức mạnh của lực lượng Mỹ, chú trọng nhiều hơn vào những khu vực cạnh tranh mới trỗi dậy, đặc biệt là Ấn Độ Dương và Biển Đông. Tôi đã tham gia với các đồng nghiệp của tôi ở Hội đồng Quân sự Thượng viện, Thượng nghị sĩ Carl Levin và Jim Webb, để kêu gọi cho thêm thời gian đánh giá lại kế hoạch về các căn cứ của chúng ta ở Nhật Bản và Guam. Và tôi đã làm như thế để Mỹ không phải rút khỏi châu Á, mà là tăng cường cam kết của chúng ta đối với an ninh trong khu vực.

Không phải là nơi Quốc hội có ý kiến về các thỏa thuận căn cứ trong khu vực, mà là thực tế tình hình mới và chi phí vượt quá mức, đã đặt vấn đề về các kế hoạch hiện tại của chúng ta, nên Quốc hội phải đặt những câu hỏi khó. Mục tiêu của chúng ta nên chuyển tới nơi có vị thế địa lý hơn, đưa quân đội rải rác ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, như Bộ trưởng Quốc phòng Gates đã mô tả, và trung tâm của nỗ lực đó sẽ luôn luôn là những cam kết căn cứ của chúng ta với các đồng minh lịch sử như Nhật Bản và Nam Hàn.

Cuối cùng, Hoa Kỳ phải tiếp tục các khoản đầu tư cần thiết vào khả năng phòng thủ của chúng ta, đặc biệt là lực lượng hải quân, để duy trì sức mạnh quân sự hàng đầu thế giới. Chúng ta đang phải đối mặt với áp lực rất lớn trong nước để cắt giảm chi tiêu, gồm cả chi tiêu quốc phòng, và một số cắt giảm chắc chắn cần thiết. Những người có lý lẽ có thể không đồng ý về việc cắt giảm này, nên cắt thêm bao nhiêu. Nhưng gần đây, khi Tổng thống cam kết cắt giảm 400 tỷ đô la về chi tiêu quốc phòng trong thời gian 12 năm, không có cơ sở chiến lược hợp lý về lý do tại sao con số này đã được lựa chọn hoặc những rủi ro gì nó sẽ gây ra, và Bộ trưởng Quốc phòng chỉ được nói về điều đó một ngày trước khi sự việc xảy ra, tôi nghĩ rằng những người có lý lẽ cũng có thể đồng ý rằng, điều này không phải là cách để lên kế hoạch quốc phòng của chúng ta.

Chúng ta phải lên kế hoạch dựa vào chiến lược hướng dẫn, không thể [dựa vào] những con số tùy tiện.

Những sự kiện hiện đang xảy ra trên biển Đông sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc định hình sự phát triển ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong thế kỷ này. Và Hoa Kỳ phải tiếp tục tham gia tích cực vào quá trình đó. Về vấn đề này, tôi gặp rắc rối do các báo cáo gần đây của một số đồng nghiệp của tôi trong Quốc hội và một số ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa, cho thấy mong muốn rút khỏi thế giới và giảm các cam kết của chúng ta ở nước ngoài. Hoa Kỳ đã mắc phải sai lầm đó trước đây, và chúng ta nên học bài học lịch sử này, không để nó lặp lại.

Cuối cùng, lịch sử cho chúng ta thấy rằng, chính Mỹ được hưởng lợi lớn nhất nhờ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đó là duy trì bởi quyền lực và sự lãnh đạo của Mỹ. Chúng ta từ bỏ vai trò đó là nguy hiểm cho thế giới và cho chính chúng ta.

Nếu các bạn đến từ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chỉ để mang một thông điệp về nhà với các bạn, thông điệp đó sẽ là: Luôn có xu hướng cô lập ở Mỹ, nhưng người Mỹ đã bác bỏ nó trước đây, và tôi tin rằng bây giờ người Mỹ sẽ bác bỏ nó một lần nữa. Sẽ luôn có một cơ sở vững chắc ở Mỹ hỗ trợ cho một chính sách quốc tế mạnh mẽ ở nước ngoài. Chính sách đó sẽ không thay đổi, kể cả ở Mỹ. Chúng tôi sẽ không rút khỏi hoặc không bị đẩy ra khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chúng tôi sẽ ở lại đó, [thực hiện] cam kết với bạn bè và đồng minh của chúng tôi, và chúng ta sẽ cùng nhau thành công.

Posted in: Chính Trị