Gần 20 tấn vàng xuất khẩu trong 6 tháng

Posted on June 27, 2011

0



Riêng lượng xuất khẩu vàng trong tháng 6 đạt trên 12 tấn, nhiều hơn cả 5 tháng đầu năm cộng lại, giúp “làm đẹp” cán cân ngoại thương của cả nước.

>> Xuất siêu nhờ vàng
>> Hàng chục tấn vàng lách quy định sang Thụy Sĩ
>> Người dân tăng mua vàng

Xuất khẩu vàng tăng giảm thất thường, phụ thuộc vào diễn biến giá và chính sách quản lý xuất khẩu vàng của nhà nước. Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu đá quý, kim loại quý và sản phẩm tháng 6 đạt 630 triệu USD, nâng tổng kim ngạch từ đầu năm đến nay lên mức 1,027 tỷ USD. Kết quả này giảm gần một phần ba so với cùng kỳ, nhưng vẫn đáng chú ý trong bối cảnh thị trường vàng Việt Nam thời gian qua.

Tổng giám đốc một doanh nghiệp vàng bạc quy mô lớn ở phía Bắc xác nhận với VnExpress, chỉ tính nửa đầu tháng, lượng nữ trang xuất khẩu đã đạt 10 tấn, tương đương gần 500 triệu USD, đại đa số là nữ trang hàm lượng vàng dưới 99%. Tính chung từ đầu năm đến 15/6, khoảng 20 tấn nữ trang dạng này đã được xuất đi.

Xu hướng tăng xuất khẩu nữ trang trở lại xuất hiện từ tháng 4, sau hơn nửa năm èo uột do giá không thuận lợi và cú sốc về thuế. Kim ngạch xuất khẩu của cả nhóm đá quý, kim loại quý đạt 86 triệu USD trong tháng 4, tăng hơn 3 lần tháng 3 và tiếp tục tăng mạnh hơn trong tháng 5, lên mức 242 triệu USD.

Đây cũng là khoảng thời gian giao dịch trong nước trầm lắng do Chính phủ công bố chủ trương siết chặt quản lý, Ngân hàng Nhà nước cũng mạnh tay dẹp loạn trên thị trường vàng và ngoại tệ tự do. Trong Nghị quyết 11 ban hành hồi tháng 2, Chính phủ yêu cầu tiến tới xóa bỏ kinh doanh vàng miếng tự do. Trong quá trình Ngân hàng Nhà nước soạn thảo nghị định quản lý hoạt động kinh doanh vàng, đã có ý kiến đề xuất cấm người dân mua vàng miếng.

Sự chưa rõ ràng về chính sách thời gian này khiến nhà đầu tư hờ hững với vàng miếng, góp phần kìm giá trong nước luôn ở mức thấp hơn thế giới, nhưng lại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng cường xuất khẩu.

Vị Tổng giám đốc doanh nghiệp vàng thừa nhận, xuất khẩu từ tháng 4, đặc biệt là giữa tháng 5 trở lại đây bắt đầu có lãi. Tuy nhiên biên lợi nhuận hiện nay thua xa cùng kỳ năm ngoái. Nữ trang xuất khẩu những tháng đầu năm nay chủ yếu có hàm lượng dưới 99% và không chịu thuế, nhưng mức lãi trên mỗi tấn chỉ đạt 50-60 triệu đồng. Từ năm ngoái trở về trước, các doanh nghiệp chủ yếu xuất nữ trang hàm lượng trên 99% và lúc lãi nhất phải đạt tới 600 triệu đồng mỗi tấn.

Từ 1/1 năm nay, các sản phẩm kim hoàn, kỹ nghệ có hàm lượng vàng trên 99% đều bị đánh thuế xuất khẩu 10% thay vì mức 0% như trước.

Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu đá quý, kim loại quý và các sản phẩm của Việt Nam đạt 2,855 tỷ USD theo số liệu của Tổng cục Thống kê. Đa phần trong số này đều là nữ trang chất lượng cao và chủ yếu xuất sang Thụy Sĩ.

Số liệu của Hải quan Thụy Sĩ cho thấy, riêng năm ngoái, Việt Nam đã xuất gần 61 tấn kim loại quý vào Thụy Sĩ, hầu hết dưới dạng sản phẩm làm từ vàng, đạt kim ngạch 2,6 tỷ franc (tương đương 2,8 tỷ USD). Lượng xuất của Việt Nam vào Thụy Sĩ năm 2009 là 54 tấn, đạt 1,9 tỷ franc. Tuy là trang sức, nhưng các đối tác Thụy Sĩ mua vàng của doanh nghiệp Việt Nam vẫn tính theo giá vàng miếng, vì thế các chuyên gia Thụy Sĩ đặt giả thuyết trang sức được nhập từ Việt Nam để nấu lại thành vàng nguyên chất.

Hoạt động xuất khẩu vàng miếng của Việt Nam hiện vẫn bị quản lý ngặt nghèo, doanh nghiệp chỉ được cấp quota theo đợt, với số lượng nhỏ. Sau đợt cấp quota nới tay trong những tháng đầu năm 2009, giúp hoạt động ngoại thương nói chung của Việt Nam bất ngờ nghiêng về thế xuất siêu, đến nay hầu như Ngân hàng Nhà nước không cấp quota xuất khẩu vàng miếng.

Các chuyên gia lo ngại tình trạng số liệu xuất khẩu “đẹp” hơn nhờ vàng có thể tái diễn. Kim ngạch xuất khẩu của cả nước tháng 6 ước đạt 7,8 tỷ USD, tăng 567 triệu USD so với tháng trước. Mức tăng này thấp hơn kim ngạch xuất khẩu của riêng nhóm kim loại quý, đá quý trong tháng.

5 tháng đầu năm, nhập siêu vẫn chiếm gần 19% kim ngạch xuất khẩu. Riêng tháng 5 và tháng 4, tỷ lệ này lần lượt là 19,6% và 22,6%. Nhưng tháng 6, nhập siêu chỉ chiếm vỏn vẹn 5% kim ngạch xuất khẩu, giúp đưa tỷ lệ của cả 6 tháng đầu năm xuống 15,7%. Chỉ tiêu Quốc hội giao cho cả năm nay, tỷ lệ nhập siêu chỉ được phép không quá 18%. Gần đây, Chính phủ đặt mục tiêu đưa tỷ lệ này xuống dưới 16% vào cuối năm.

Song Linh

“Cái Nghèo” ở Việt Nam

Một số chuyên gia của các tổ chức quốc tế và Liên Hiệp Quốc đưa ra nhận định “người nghèo ở Việt Nam – nghèo vẫn hoàn nghèo.”

AFP PHOTO / HOANG DINH NamMột người đàn ông sửa chữa xe đạp ở trung tâm thành phố Hà Nội, ngày 17 tháng 9 năm 2010.

Theo một thống kê mới nhất trong nước, tình hình thiếu đói đã tăng cao trong tháng Giêng, tháng Hai năm nay. Số lượt nhân khẩu nông nghiệp thiếu đói đã tăng gần gấp hai lần so với cùng kỳ năm ngoái với hơn tám trăm ngàn lượt. Đây cũng là số lượng nhân khẩu thiếu đói nhiều nhất kể từ năm 2007 đến nay.

Thưa quý vị, hiện nay trên cả nước có trên ba triệu hộ nghèo, chiếm gần 14,5% và hơn 1,6 triệu hộ cận nghèo, tỷ lệ 7,7%. Địa bàn các tỉnh miền núi có số hộ nghèo nhiều nhất – Lào Cai, Điện Biên, trên 50%, Lai Châu, Hà Giang, trên 40%, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La, Hòa Bình, Kon Tum, trên 30%.

Chuẩn nghèo

Một người bán trái cây dạo trên đường phố Hà Nội ngày 16 tháng 9 năm 2010. AFP PHOTO / HOANG DINH Nam.
Một người bán trái cây dạo trên đường phố Hà Nội ngày 16 tháng 9 năm 2010. AFP PHOTO / HOANG DINH Nam.

“Chuẩn” nghèo được quy định của chính phủ Việt Nam dựa trên một số quy tắc về chuẩn nghèo của Liên Hiệp Quốc. Thay đổi tùy theo từng giai đoạn, từ 2000 – 2006 chuẩn hộ nghèo ở vùng nông thôn, miền núi, hải đảo là các hộ có thu nhập bình quân từ 80.000 đồng/người/tháng trở xuống, nông thôn đồng bằng là 100.000 đồng/người/tháng, hộ nghèo ở thành thị có thu nhập bình quân từ 150.000 đồng/người/tháng trở xuống.

Đến năm 2005, Quyết định của Thủ tướng chính phủ quy định chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010, khu vực nông thôn, các hộ gia đình có thu nhập bình quân 2.400.000 đồng/người/năm trở xuống là hộ nghèo. Còn ở khu vực thành thị là 3.120.000 đồng/người/năm trở xuống là hộ nghèo. Dự kiến chuẩn nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2010-2015: ở thành thị là 812.500 đồng/người/tháng, khu vực nông thôn là 562.000 đồng/người/tháng.

Tựu trung thu nhập bình quân của người nghèo Việt Nam ở khu vực thành thị cũng chỉ khoảng 40 đô la, còn ở nông thôn thì chưa đến 30 đô la/tháng. Số tiền này quả thật quá ít ỏi so với tình hình giá cả biến động hiện nay.

Ở nhà có mấy sào ruộng 6 tháng thì thu nhập một lần, không đáng là bao nhiêu mà tính ra là một ngày được có mấy chục ngàn thôi.

Chị Nguyễn Thị Huyền, Nghệ An

Theo nghiên cứu gần đây của Bộ Kế Hoạch – Đầu Tư, nhóm hộ nghèo ở Việt Nam đa số là những người dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa thuộc biên giới, hải đảo, miền núi. Nông dân ở vùng nông thôn, người làm công ăn lương, người hưu trí, hoặc kinh doanh nhỏ lẻ. Nguồn thu nhập chính của người nghèo chủ yếu là từ nông, lâm, thủy sản, chiếm 55,5% tổng thu nhập, hay từ tiền lương tiền công chiếm 23,8% tổng thu nhập.

Chị Nguyễn Thị Huyền, người Xã Nam Thành, Huyện Yên Thành, Nghệ An nói về hoàn cảnh gia đình chị:

“Hiện giờ có ba cháu đi học, còn chồng chị thì bị tai nạn, rơi trên giàn giáo xuống bị gãy cổ, đưa đi bệnh viện ngoài Hà Nội tốn hết nhiều tiền lắm. Chừ đương nợ nần nhiều mà hoàn cảnh gia đình vẫn vất vả. Con thì đi học, còn một mình mẹ thì không có công ăn việc làm. Ở nhà có mấy sào ruộng 6 tháng thì thu nhập một lần, không đáng là bao nhiêu mà tính ra là một ngày được có mấy chục ngàn thôi. Cộng với lại mấy mẹ con bó rau hay mấy thứ lặt vặt trong vườn ra bán thì một ngày được khoảng 15.000 có khi còn không được.”

Thiên nhiên không ưu đãi

vay-tien-hang-xao1206111-250.jpg
Một số hộ nghèo ở Thôn Hoàng Du. – Xã Kì Khang Huyện Kì Anh- Tỉnh Hà Tĩnh đến gặp Linh Mục xin vay vốn hàng xáo. Nguồn ảnh của LM Nga.

Nếu gặp thiên tai, dịch bệnh thì xem như cái đói bao trùm cả địa phương. Mới tháng 4, tháng 5 vừa rồi, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa đã xin chính phủ cứu đói khẩn cấp cho dân qua mùa giáp hạt. Thực tế trong mấy tháng đầu năm nay tình trạng thiếu đói tăng cao so với năm trước, và cao nhất kể từ năm 2007 đến nay. Nguyên nhân có thể do thiên tai, mất mùa cộng thêm vào.

Linh mục Nguyễn Ngọc Nga của Giáo xứ Dũ Thành, Xã Kỳ Khang, Huyện Kỳ Anh, Hà Tỉnh nói về cái nghèo do thiên nhiên không ưu đãi đối với người dân ở đây. Linh mục cho biết:

“So với các tỉnh miền Trung, nhìn chung Hà Tỉnh chậm phát triển hơn. Tỉnh Hà Tỉnh là một trong những tỉnh nghèo của nước Việt Nam. Thiên nhiên không ưu đãi. Ở Huyện Kỳ Anh nơi Giáo xứ Dũ Thành tọa lạc mưa nhiều hơn ở những miền khác, về mùa nắng nóng thì cũng nóng hơn ở những nơi khác. Địa hình núi non nhiều, hiểm trở, đồng bằng ít, thủy nông để làm nông nghiệp cũng rất hạn chế, nên mùa màng ít năm được bội thu, mất mùa thì khá nhiều so với các huyện khác trong tỉnh.

Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo có xu hướng gia tăng. Vùng Huyện Kỳ Anh và Giáo xứ Dũ Thành này chủ yếu về nông nghiệp, gọi là độc canh lúa nước. Có một số nghề phụ nhưng chưa phát triển lắm.”

Tha phương cầu thực

ban-chuoi-250.jpg
Một người bán chuối dạo ở TPHCM hôm 01/06/2010. RFA photo.

Một Linh mục của một Giáo xứ ở Huyện Tỉnh Gia, Thanh Hóa cho biết, tại giáo xứ do ông phụ trách hiện nay hầu như chỉ còn người già, phụ nữ và trẻ em, gần như không thấy bóng dáng của thanh niên đâu cả. Các em vừa đến tuổi thiếu niên khoảng 14, 15 tuổi trai có, gái có; các em học chưa đến cấp 2 là bỏ quê lên các tỉnh thành để kiếm sống, chủ yếu đi vào các tỉnh phía Nam, một số ít thì ra Hà Nội. Vị Linh mục này cho biết:

“Cái chủ yếu vẫn là do vấn đề kinh tế. Ở các vùng nông thôn đa số họ sống được chỉ nhờ có đồng ruộng, mà đồng ruộng bây giờ không đủ để sống được. Rồi do điều kiện chi tiêu giá cả tăng cao. Thành ra may lắm, nếu được mùa, thì họ chỉ đủ được cái lương thực để ăn thôi. Chứ còn những tiền chi tiêu khác, ăn học, chi tiêu sắm sanh trong gia đình là không có.

Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, các gia đình không có đủ điều kiện để cho con em mình học tiếp ở các cấp cao hơn, do đó các em phải bỏ học. Chẳng hạn như tại các vùng quê như ở xứ mà tôi đang coi đây, số giáo dân có khoảng một ngàn mốt, nhưng số đi làm trong Nam tới 300 em, gần như giới trẻ không còn ở nhà là bao nhiêu.”

Cũng từ nghèo đói mà các vấn đề xã hội khác lại phát sinh, như vấn đề lao động vị thành niên, và số trẻ này phải xa gia đình, lìa bỏ quê đi kiếm sống. Một Linh mục của một Giáo xứ ở Thành phố Hồ Chí Minh cho biết:

Cái lý do chính là do nghèo, gia đình nghèo nên các em phải bỏ lên thành phố để kiếm sống, các em đa số từ nông thôn, rồi các em không có nơi nương tựa, đa số là như vậy.

LM một giáo xứ ở TPHCM

“Cái lý do chính là do nghèo, gia đình nghèo nên các em phải bỏ lên thành phố để kiếm sống, các em đa số từ nông thôn, rồi các em không có nơi nương tựa, đa số là như vậy. Các em ở ngoài đường mình phải tìm kiếm để giáo dục, giúp đỡ các em. Một số em mình giúp được thì giúp cho các em có nghề nghiệp, có chỗ ở. Số không có được thì mình phải giới thiệu chỗ khác.”

Trong tình hình giá cả tăng vọt liên tục như hiện nay, đối với nông dân nguồn thu từ nông nghiệp không đuổi kịp với mức tăng giá của đầu vào như: thuốc trừ sâu, phân bón, thức ăn chăn nuôi, xăng dầu, chưa kể, còn chịu những rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh. Còn công nhân “làm công ăn lương” thì tiền lương không theo kịp trượt giá.

Tất nhiên, khi giá cả tăng cao, người nghèo với nguồn thu nhập eo hẹp sẽ phải dồn hết khoản tiền kiếm được cho việc duy trì cuộc sống, nên việc chi tiêu của họ chủ yếu dành cho những nhu cầu tối thiểu như: mua lương thực thực phẩm… Còn những chi phí cho các nhu cầu thuộc về chất lượng sống như nhà ở, điện, nước, vệ sinh, y tế, giáo dục, giải trí… chiếm có khi chưa đến 1/3 trong tổng thu nhập.

Đặc biệt, đối với những người lao động nhập cư ảnh hưởng còn nặng nề hơn, vì nhóm này phải chi tiền thuê nhà thường tăng từ 20-30%, tiền điện, tiền nước thường phải trả với giá cao hơn 2-4 lần, so với dân địa phương. Thật trớ trêu, vì nghèo nên họ tìm đến đô thị kiếm sống để mong thoát nghèo, nhưng cuộc sống ở đô thị cũng rất chật vật đối với họ.

Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao như hiện nay không chỉ là mối lo cho các nhà quản lý chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, mà còn là nỗi e ngại lớn của các nhà hoạch định chính sách xã hội. Vì cơn lốc của lạm phát sẽ cuốn đi tất cả mọi nỗ lực cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, nhất là các thành phần nghèo trong xã hội.

***

Các tổ chức tài trợ quốc tế các nhà mạnh thường quân trong và ngoài đều chia sẻ với nhà nước góp phần vào công cuộc an sinh xã hội, cải thiện đời sống của người nghèo.

RFA PHOTOMột người bán hàng rong ở khu phố sang trọng tại trung tâm TPHCM, ảnh chụp năm 2011.

Trong bài trước Quỳnh Như đã giới thiệu với quý vị về tình trạng của người nghèo trong nước hiện nay. Bên cạnh Chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo của chính phủ, các tổ chức tài trợ quốc tế các nhà mạnh thường quân trong và ngoài đều chia sẻ với nhà nước góp phần vào công cuộc an sinh xã hội, cải thiện đời sống của người nghèo.Liệu người nghèo có thể thoát khỏi cảnh túng thiếu hay không? Quỳnh Như nói chuyện với một số người có liên quan về vấn đề này. Mời quý vị cùng theo dõi.

Chương trình 167

Từ năm 2004 chính phủ đã phát động chương trình xoá đói giảm nghèo trong cả nước mang tên, “Chương trình 134 – 135”. Đến năm 2006 Thủ tướng Chính phủ lại phê duyệt Chương trình Phát triển Kinh tế-Xã hội cho các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi, và một số quyết định khác cho các vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng núi có nhiều dân tộc ít người gặp khó khăn về kinh tế. Và gần đây nhất do tình hình giá cả tăng vọt chính phủ đề ra chương trình 167 hỗ trợ cho một số hộ nghèo.

Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Xã Nam Thành, Huyện Yên Thành, Nghệ An, ông Phan Thế Trung, người đã gắn bó với công việc ở xã này hơn 30 năm cho biết về chương trình giúp cho các hộ nghèo trong xã do ông quản lý:

Thực tình nhà nước có hỗ trợ các hộ nghèo, thứ nhất là về  tiền điện, mỗi tháng được thêm 30.000 đồng thứ hai, các cháu thuộc diện gia đình nghèo đi học được miễn học phí.

Phan Thế Trung

“Thực tình nhà nước có hỗ trợ các hộ nghèo, thứ nhất là về  tiền điện, mỗi tháng được thêm 30.000 đồng thứ hai, các cháu thuộc diện gia đình nghèo đi học được miễn học phí, có bảo hiểm y tế, chữa bệnh không mất tiền. Nhà nước có chủ trương xoá đói giảm nghèo, Quyết định 167 của Thủ tướng chính phủ hỗ trợ các gia đình nghèo làm được nhà nước hỗ trợ trực tiếp 7.200.000 đồng, và cho vay 8 triệu với lãi suất thấp.”

Ngoài ra, còn có những chương trình hỗ trợ vốn để các hộ nghèo làm kinh tế gia đình. Chủ tịch Xã Nam Thành nói tiếp:

“Có các chương trình cho phụ nữ vay tiền của ngân hàng chính sách. Tùy tình hình cụ thể vay bao nhiêu, với số tiền bao nhiêu là do tình hình cụ thể của từng dự án của từng gia đình, so với nhu cầu của gia đình và điều kiện cụ thể của từng trường hợp. Rồi nhà nứơc cũng cho sinh viên vay tiền để học. Đối với các hộ nghèo ở xã đồng bằng thì nhà nước có chính sách như vậy.”

Bên cạnh chương trình xoá đói giảm nghèo của chính phủ, các dự án của những tổ chức quốc tế phối hợp với các đơn vị trong nước tài trợ cho các hoạt động hỗ trợ người nghèo cũng nhiều vô kể. Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam là một trong những đơn vị hoạt động tích cực trong lĩnh vực này. Bà Nguyễn Thị Hoà Bình, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Phụ nữ Phòng chống HIV/AIDS và Chăm sóc Sức khoẻ Sinh sản, nói rằng:

“Hội cũng đã cho phụ nữ vay vốn từ lâu rồi, tín dụng cho phụ nữ nghèo thì Hội cũng đã làm. Nó ở rất nhiều các chương trình, dự án khác nhau, chú ý để tạo việc làm, tăng thu nhập cho phụ nữ.”

Các tổ chức tôn giáo luôn đi đầu trong công tác xoá đói giảm nghèo, và xem phần việc “đời” này cũng là một sứ mệnh của tôn giáo. Linh mục Nguyễn Ngọc Nga, quản xứ Dũ Thành, xã Kỳ Khang, Huyện Kỳ Anh, Hà Tỉnh, người khởi xướng chương trình Thương Việt Nghèo nói với phóng viên của Đài chúng tôi rằng: “Theo tinh thần của giáo hội, sau Cộng đồng Vatican II thì linh mục quản xứ không chỉ coi sóc con chiên mà cả người ngoài công giáo nữa, nếu mình đến bất cứ điạ chỉ nào. Để có thể cải thiện tình hình xã hội trong điạ bàn Hà Tỉnh và góp phần cải thiện đời sống, an sinh xã hội của người nghèo, mọi người đều phải ý thức để xoá đói giảm nghèo. Trong đó trách nhiệm lớn hơn là của lãnh đạo chính quyền các cấp. Về phiá công giáo các vị lãnh đạo tinh thần, các linh mục cũng phải dấn thân hơn nữa để có thể làm cho xã hội Việt Nam, và đặc biệt nói riêng là tỉnh Hà Tỉnh có thể phát triển được nhanh hơn.”

MG_0694-250.jpg
Người lao động nghèo tại TPHCM, ảnh chụp năm 2011. RFA PHOTO.

Lá lành đùm lá rách

Ngoài ra, với tình thần lá lành đùm lá rách, các tập thể hay cá nhân cũng tích cực tham gia các hoạt động từ thiện. Chị Mai Trâm ở Thành phố Hồ Chí Minh cho biết:

“Ở đây, khi đề ra phong trào xoá đói giảm nghèo, có những cơ quan, hay tổ chức quần chúng được nhà nước giao cho thực hiện việc đó để vận động quyên góp trong dân chúng như: Mặt trân Tổ quốc hay Hội Liên Hiệp Phụ nữ vận động những người dân trong khu phố tham gia đóng góp mội người một ít cho phong trào xóa đói giảm nghèo, giúp đỡ cho các hộ khó khăn. Bên cạnh đó còn có các tổ chức, đoàn thể tôn giáo, các Chùa, Nhà thờ, Hội, Câu lạc bộ có những người tình nguyện tham gai hoạt động từ thiện và vận động sự đóng góp để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống. Nhất là trong thời gian hiện nay tình hình kinh tế Việt Nam đang rất khó khăn. Bên cạnh đó có những cá nhân có điều kiện họ tập họp với nhau quyên góp mỗi người một ít để có những đợt đi làm từ thiện giúp đỡ những người dân ở những vùng khốn khó.”

Anh Vũ Hiếu Thịnh, một nhà kinh doanh ở Thành phố Hồ Chí Minh kể về một kế hoạch của nhóm anh, giúp cho mười người khiếm thị ở Buôn Mê Thuộc có một mái nhà che mưa nắng và lao động để ổn định cuộc sống của họ:

Khi đề ra phong trào xoá đói giảm nghèo, có những cơ quan, hay tổ chức quần chúng được nhà nước giao cho thực hiện việc đó để vận động quyên góp trong dân chúng.

Chị Mai Trâm

“Nhà của số anh chị em bị mù ở Buôn Mê Thuột bị sập, thành ra tụi tôi có vận động các anh chị em giúp đỡ cho bà con xây được cái nhà để ở cho ổn định không sợ mưa nắng nữa, đồng thời mấy anh chị em cũng làm thêm một mái che và một nhà kho để nguyên phụ liệu và thành phẩm là những cây chổi, tránh được bụi không bay vô người gây dị ứng hoặc hít vô mủi gây độc hại cho sức khoẻ. Nói chung hiện nay tình hình anh em trên đó sống cũng ổn định. Lâu lâu tụi tôi cũng có gọi điện hỏi thăm.”

Mặc dù người ta thấy có rất nhiều hoạt động trợ giúp người nghèo vượt khó, và tỉ lệ nghèo có giảm bớt trong chừng mực nào đó, nhưng vài năm sau hầu như lại quay về nguyên trạng “nghèo”. Tỉ lệ hộ nghèo chỉ giảm đôi chút, không đáng kể.

Trưởng Đại diện Liên Hiệp quốc tại Hà Nội, ông John Hendra, cho biết những dữ liệu mà cơ quan ông thu thập được từ các nghiên cứu về kinh tế Việt Nam cho thấy tình trạng nghèo đói ở Việt Nam đã tăng 2,1% kể từ sau đợt lạm phát cao, kéo theo chỉ số tiêu dùng tăng hồi năm 2008.

Trong cuộc tiếp xúc với phóng viên tại Hà Nội vào cuối tháng Năm vừa qua, ông Hendra cũng nói rằng, “Việt Nam là một trong số năm quốc gia có tỉ lệ lạm phát ở mức cao nhất thế giới, đồng thời ông cũng nhận định, điều này sẽ gia tăng tỉ lệ nghèo đói lên 1-2%, hoặc cao hơn thế nữa.”

Vấn đề xoá đói giảm nghèo không đơn thuần là một vấn đề xã hội, xét ở khiá cạnh kinh tế có một mối liên hệ hữu cơ giữa đói nghèo và lạm phát, Khi tỉ lệ lạm phát tăng cao, tỉ lệ giảm nghèo sẽ bị giảm, nên tầng lớp nghèo khó sẽ chịu tác động nặng nề nhất. Các chuyên gia đã đưa ra một dẫn chứng, năm 2008, là năm mà CPI có mức tăng kỷ lục 20%, số lượt nhân khẩu thiếu đói cả năm lên tới hơn 4 triệu lượt.
Số liệu thống kê mới công bố chính thức cho thấy, mức lạm phát trong tháng Năm là 19,78% so với một năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng trong tháng Tư đã tăng 17,51% so với cùng thời gian này năm 2010, dự báo CPI bình quân của năm nay sẽ cao hơn năm ngoái. Do vậy người ta e rằng mục tiêu xoá đói giảm nghèo do Quốc hội đặt ra là giảm 2%, sẽ khó đạt được. Tình trạng lạm phát đẩy người nghèo càng nghèo hơn. Số hộ nghèo vừa vươn lên được ngưỡng hộ cận nghèo, về bản chất vẫn “hoàn nghèo”.

Ngoài ra cái nghèo còn liên quan đến sự phân chia các tầng lớp trong xã hội. Bà Magdalena Sepulveda, chuyên gia Liên Hiệp Quốc về vấn đề nhân quyền và đói nghèo nhận định:

“Hiện nay vẫn có nhiều người sống trong vùng đói nghèo và không tiếp cận được với các dịch vụ xã hội.”

Thật vậy, những người có điều kiện, đầu tư cho việc học tập và mở mang kiến thức, nâng cao chất lượng cuộc sống, nhờ đó họ có kiến thức, năng lực để tiếp cận thị trường lao động và tìm được công việc có thu nhập cao. Trong khi đó người nghèo không có điều kiện học tập, trình độ năng lực hạn chế khó tìm được việc làm ổn định, nên thu nhập thấp.

Đây cũng có thể là một nguyên nhân thứ hai dẫn đến hệ luỵ “nghèo vẫn hoàn nghèo” ở Việt Nam vì tình trạng không có việc làm ổn định, sẽ dẫn đến vấn đề thu nhập của người nghèo bấp bênh, và rủi ro thất nghiệp cao.

Theo dòng thời sự: