Tháng 6. 2011 là cái mốc lịch sử: Đảng đang chống lại nhân dân

Posted on July 1, 2011

1



Tình hình khẩn trương và nổi bật nhất ở VN và Đông Nam Á trong mấy tuần qua là việc nhà cầm quyền Bắc kinh đã có những hành động xâm lược rất ngang ngược ở biển Đông. Chỉ trong vòng hai tuần ban lãnh đạo Cộng sản Trung quốc đã hai lần cho hải quân Trung quốc công khai và trắng trợn tấn công các tầu thăm dò địa chấn của Tập đoàn dầu khí VN ngay trên những khu vực thuộc lãnh hải của VN theo Công ước Quốc tế về Luật biển.

Thật vậy, ngày 26.5 ba tầu hải giám Trung quốc (một lực lượng hải quân trá hình dân sự) đã xâm nhập hải phận VN và cắt dây cáp của tầu Bình minh 02 thuộc Tập đoàn dầu khí VN chỉ cách Phước tuy 120 hải lí. Nhưng hải quân và không quân của Quân đội Nhân dân VN đã không được phép can thiệp và ngăn cản. Nên chỉ hai tuần sau, ngày 9.6, các tầu ngư chính và các tầu đánh cá của Trung quốc đã mở cuộc tấn công thứ hai vào tầu Viking II. Lần này họ còn ngang ngược cho tầu hải quân đội lốt đánh cá chạy thẳng để phá cáp của tầu Viking II.

Các hành động có chủ ý này của Bắc kinh theo đuổi hai mục tiêu rõ rệt: Coi biển Đông là thuộc Trung quốc và tìm cách độc chiếm tài nguyên ở biển Đông, trong đó phải kể tới trữ lượng rất lớn về dầu khí và khí đốt. Rõ ràng đây là những hành động thù nghịch của nhà cầm quyền Bắc kinh, xâm phạm chủ quyền và an ninh của VN và vi phạm Công ước về biển của Liên hiệp quốc.

Từ khi nổ ra các cuộc tấn công ngang ngược của Bắc kinh cho thấy phản ứng và thái độ rất đối chọi nhau giữa một bên là đại đa số nhân dân VN, dư luận quốc tế và bên kia là nhóm cầm đầu chế độ độc tài toàn trị ở VN!

1. Sự phẫn uất của đại đa số nhân dân và lòng can đảm của giới trẻ
Trước chính sách xâm lăng ngang ngược của Bắc kinh coi biển Đông như cái ao của Trung quốc, trong khi ấy nhóm cầm đầu CSVN vẫn giữ thái độ im lặng, không dám cho các lực lượng Quân đội Nhân dân bảo vệ chủ quyền ở biển Đông, chỉ cho Phát ngôn viên Bộ ngoại giao nhai lại những ngôn ngữ nhàm chán, cho nên đại đa số nhân dân VN rất bất bình với Bắc kinh và bất mãn với nhóm cầm đầu CSVN.

Suốt bốn tuần qua vào các ngày Chủ nhật, mặc dầu bị công an mật vụ cấm cản, hàng ngàn người đã tham dự các cuộc biểu tình trước sứ quán Trung quốc ở Hà nội và Toà Tổng lãnh sự Trung quốc ở Sài gòn giương cao các khẩu hiệu, biểu ngữ tố cáo chính sách xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh. Phần lớn là những người trẻ, sinh viên học sinh. Đặc biệt có cả những giáo sư, chuyên viên, văn nghệ sĩ tên tuổi và cả nhiều cán bộ cao cấp đã về hưu của đảng CSVN đã nhập cuộc các đoàn biểu tình để cùng chia xẻ lòng can đảm và bất mãn của giới trẻ.

Ở đây chỉ nêu ra ba trường hợp tiêu biểu: Điển hình như cựu Đại sứ Nguyễn Trung đã viết bài phân tích kết án những sai lầm của Hà nội trong suốt hai thập niên qua khiến cho VN đang bị lệ thuộc Trung quốc cả tư tưởng, chính trị lẫn kinh tế. GS Nguyễn Huệ Chi dù đã trên 70 tuổi và là một trong những người chủ trương báo điện tử Bauxite VN, một tờ báo đang được sự hậu thuẫn của hàng trăm ngàn trí thức trong nước và hàng triệu độc giả theo dõi, cũng đã tham dự cuộc biểu tình ở Hà nội ngày 12.6.

Ông Lê Hiếu Đằng, một thời đã gắn bó với chế độ và từng giữ chức Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc ở Sài gòn cũng đã tham dự cuộc biểu tình trước toà Tổng lãnh sự Trung quốc ở Sài gòn ngày 5.6 đã nói thẳng với công an mật vụ tìm cách ngăn cản cuộc biểu tình và được hiểu cũng muốn nhắn những người cầm đầu chế độ là “Anh đứng về phía nào, Việt Nam hay Trung Quốc?”. Đặc biệt nữa là ngày 25.6 cả hàng trăm nhân sĩ tên tuổi trong nước đã cùng kí tên trong Tuyên cáo Đặc biệtyêu cầu những người cầm đầu chế độ phải để cho nhân dân thực hiện quyền tổ chức biểu tình chống xâm lược Trung quốc.

2. Đa số dư luận quốc tế bất bình với Bắc kinh và chia xẻ sự lo ngại với nhân dân ta
Không chỉ nhân dân VN tỏ lòng căm phẫn trước chính sách xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh, mà ngay cả nhiều chính khách trên thế giới và các nhà khoa học quốc tế đã công khai lên tiếng trước sự đe doạ an ninh khu vực và quốc tế của nhà cầm quyền Bắc kinh. Tại cuộc Hội thảo quốc tế củaTrung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế vào hai ngày 20-21.6 tại Washington, chính Thượng nghị sĩ McCain, từng là ứng cửa viên Tổng thống Hoa kì đã cảnh cáo Bắc kinh, các đại diện của Asean, Ấn trong cuộc Hội thảo này và nhiều nước khác phê bình những luận cứ thiếu khoa học của một số nhà nghiên cứu Trung quốc và kết án các hành động đe doạ hoà bình ở Đông Nam Á của Bắc kinh.

Mới đây, ngày 22.6 Tổng thống Phi luật tân B. Aquino- là nước cùng với VN đang có tranh chấp trực tiếp với Trung quốc về quần đảo Trường sa, cũng đã công khai cảnh cáo nhà cầm quyền Bắc kinh không được phép tiếp tục các hành động lấn chiếm xâm lược ở biển Đông. Đặc biệt nữa là ngày 27.6 Thượng viện Mĩ đã ra Quyết nghị kết án chính sách bành trướng và gây hấn của Bắc kinh tại biển Đông.

3. Nhưng cho tới nay nhóm cầm đầu CSVN, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng, vẫn buộc chặt với kẻ thù dân tộc
Phải nói là ngạc nhiên đến mức sửng sốt, vì cho tới nay những người cầm đầu chế độ độc tài toàn trị ở VN vẫn giữ thái độ ba phải đối với chính sách xâm lược ngang ngược của Bắc kinh. Trong khi thanh niên, sinh viên học sinh, trí thức và cả cán bộ đảng viên dám can đảm biểu tình chống xâm lược Bắc kinh thì nhóm cầm đầu CSVN đã cho Thông tấn xã VN, một cơ quan trực thuộc Ban bí thư đảng CSVN, xuyên tạc các cuộc xuống đường của nhân dân VN.

Không những thế, giữa lúc hải quân Trung quốc xâm phạm hải phận VN và phá hoại tài sản trên biển của VN thì họ còn cho phép hải quân VN tổ chức tuần tra chung với hải quân Trung quốc vào 2 ngày19-20.6, rồi sau đó lại cho tầu hải quân VN sang thăm Trung quốc từ 21.6 mà họ gọi là „thăm thân hữu“.

Khó hiểu hơn nữa là, sau khi tờ Hoàn cầu thời báo, một bộ phận của Trung ương đảng Cộng sản Trung quốc, công bố bài bình luận ngày 21.6 chính thức đe doạ dạy cho VN bài học lần thứ hai:
„Thương thuyết với Việt Nam về một giải pháp hoà bình, hay trả lời sự khiêu khích bằng cách phản kích về chính trị, kinh tế, hay thậm chí cả quân sự. Chúng ta phải minh bạch về khả năng lựa chọn thứ hai, để Việt Nam phải tỉnh táo về vấn đề Biển Nam Trung Hoa.“

Nhưng trong Bản Thông tin chung Trung quốc-VN ngày 25.6 sau các cuộc hội đàm của Thứ trưởng ngoại giao CSVN Hồ Xuân Sơn – trong tư cách là „Đặc phái viên của Lãnh đạo VN“- với Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc đã vẫn nhắc lại „16 chữ vàng“ và „4 tốt“: “Hai bên nhấn mạnh cần phải kiện trì bất di bất dịch thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Trung-Việt không ngừng phát triển lên phía trước theo phương châm ” Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “ Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Trong cuộc phỏng vấn của Thông tấn xã VN ngày 27.6 với cái tựa „Thông điệp của lãnh đạo cấp cao Việt Nam về Biển Đông“, Hồ Xuân Sơn ngay trong điểm đầu cũng lập lại: “Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt“

Người ta không thể hiểu được lập trường rất quái gở và sai lầm của lãnh đạo CSVN, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng: Tại sao Bắc kinh đang thực hiện các chính sách xâm lấn và thù nghịch với VN một cách công khai và ngang ngược đến như thế, nhưng ông Trọng vẫn coi như không có chuyện gì xẩy ra và còn tiếp tục buộc VN „hợp tác chiến lược toàn diện“ với kẻ thù của dân tộc? Và thậm chí vô tri đến mức ngớ ngẩn vẫn lập lại hai câu vừa giả dối vừa lừa bịp của Bắc kinh đã mớm cho là „16 chữ vàng“ và „bốn tốt“. Nguyễn Phú Trọng hãy thử hình dung, một người láng giềng của ông đã công khai chiếm đất, lấn sân và còn đánh đập giết con cái của ông, nhưng ông vẫn hớn hở ca tụng người láng giềng là người tốt !!!

Những gì mà một người bình thường không thể tưởng tượng được, nhưng người đứng đầu chế độ độc tài toàn trị Nguyễn Phú Trọng lại không cảm thấy như vậy. Chả thế mà năm trước ông Trọng đã cấm Quốc hội bàn về căng thẳng trên biển Đông với câu nói bất hủ: Tình hình biển Đông không có gì mới!

Và mới đây Nguyễn Phú Trọng vẫn tỏ ra kính nể và hãnh diện được Hồ Cẩm Đào chiếu cố: “Chưa bao giờ ngay sau Đại hội, một số đảng anh em như … Đảng Cộng sản Trung quốc cử đặc phái viên của Tổng bí thư, Chủ tịch nước sang gặp Tổng bí thư ta để trực tiếp chúc mừng thành công của Đại hội”.

Bắc kinh đã ngang ngược công khai xâm phạm chủ quyền và phá hoại sinh hoạt kinh tế của VN như thế, nhưng nhân dân VN không thể hiểu được, tại sao nhóm cầm đầu CSVN lại vẫn chỉ nhai lại những lời toàn toàn sai trái của Bắc kinh. Rõ ràng họ đã tự thể hiện thái độ hèn nhát va cúi đầu. Cũng vì thế nên quốc tế không thể ủng hộ VN tích cực trong cuộc tranh chấp với Trung quốc trên biển Đông, vì thái độ ba phải, không rõ ràng và không dứt khoát với Bắc kinh của nhóm cầm đầu CSVN.

Trong các tuần lễ vừa qua Nguyễn Phú Trọng đã xuất hiện nhiều dịp trong các hội nghị lớn ở trong nước cũng như trong chuyến thăm Lào vào cuối tháng 6, nhưng tuyệt đối không một lần nào kết án các hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh.

Thái độ câm như hến của Nguyễn Phú Trọng giải thích điều gì? Có phải ông ta sợ là, nếu công khai lên tiếng chống Bắc kinh thì Hồ Cẩm Đào sẽ huỷ việc mời ông Trọng sang thăm Trung quốc như hai bên đã dự tính? Hay Bắc kinh sẽ dùng sức ép kinh tế, vì Bắc kinh đang kiểm soát cả cái bụng của VN nữa, vì số ngoại tệ dự trữ của VN không đủ để trả nợ mức nhập siêu rất cao với Trung quốc?

Những hành động xâm lấn vô cùng trắng trợn như thế của Bắc kinh, nhân dân ai cũng phẫn uất, dư luận thế giới rất lo âu, nhưng thật là vô cùng quái đản là, người đứng đầu chế độ là Nguyễn Phú Trọng lại vẫn yên lặng, câm như hến. Như thế ông Trọng đã tự chứng tỏ trước nhân dân VN và thế giới về thái độ bất lực và vô trách nhiệm trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và danh dự tổ quốc!
* * *
Trong khi đất nước đang phải đối diện trước nguy cơ xâm lăng của phương Bắc thì các hoạt động chính của Nhà nước CSVN lại không đặt trọng tâm vào việc đoàn kết dân tộc nhưng lại chỉ lo củng cố quyền hành cho những người có quyền lực. Thật vậy, trong khi đất nước đang phải đối đầu với những hành động xâm lấn của Bắc kinh và nhân dân rất căm phẫn thì trong thời gian gần đây ban lãnh đạo mới của đảng CSVN vừa được thành lập từ Đại hội 11(1.2011) đã giao cho Ban bí thư Trung ương và quan trọng nhất là Ban Tuyên giáo Trung ương mở hàng loạt các hội nghị quan trọng nhằm mục tiêu được họ gọi là „ học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội 11“.

Điều dư luận chú ý là, trong các hội nghị này Đinh Thế Huynh, tân Uỷ viên Bộ chính trị và tân Trưởng ban Tuyên giao trung ương đã được coi là người quán xuyến và bao thầu, là cái đinh trong các hội nghị liên quan tới tư tưởng và đường lối của nhóm cầm đầu mới. Ai cũng biết, ngay một ngày trước khi Đại hội 11 khai mạc thì Đinh Thế Huynh đã họp báo nói thẳng là, VN không cần có dân chủ đa nguyên! Lập trường bảo thủ và sai lầm của Đinh Thế Huynh chỉ lập lại các tuyên bố của Nguyễn Phú Trọng!

Sau ba Hội nghị cấp miền Bắc, Nam và Trung vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 với sự tham dự của hàng ngàn cán bộ cao cấp tư tưởng và tuyên giáo trong cả nước, trong các tuần lễ gần đây hàng loạt hội nghị Tuyên giáo cấp bộ, ngành, thành phổ và các tỉnh cũng đã được triệu tập. Trong số này đáng chú ý là, tại Hội nghị của Quân uỷ Trung ương và Đảng uỷ Công an Trung ương Đinh Thế Huynh cũng là người chỉ đạo. Ngoài ra, ngày 21.6 là ngày kỉ niệm „báo chí Cách mạng“ Đinh Thế Huynh cũng đã ra chỉ thị cho báo chí của chế độ trong tình thế mới.

Trong các hội nghị này họ nhấn mạnh những gì và tránh những vấn đề nào? Mặc dù các hội nghị do Bộ chính trị giao cho Ban bí thư và Ban tuyên giáo thực hiện vào đúng thời điểm đất nước đang sôi sục phải đối đầu với các hành động xâm lấn của Trung quốc, nhưng trong các hội nghị này tuyệt nhiên không thảo luận tới vấn đề cực kì bức xúc của đất nước. Trái lại các cán bộ chủ chốt tham dự chỉ được Trương Tấn Sang và nhất là Đinh Thế Huynh giải thích một chiều về các Nghị quyết của Đại hội 11 là: Cương lĩnh Chính trị 2011, Chiến lược kinh tế trong thời gian tới và Điều lệ Đảng.

Nhưng ai cũng biết, thi hành các Nghị quyết này là chỉ để duy trì và củng cố chế độ độc đảng theo tư tưởng Mác-Lênin đã hoàn toàn bị thực tế phủ nhận, đề cao vai trò chủ đạo của Kinh tế Nhà nước nhằm phục vụ quyền lợi của những phần tử có quyền lực và cũng để duy trì các ổ nuôi tham nhũng và đục khoét ngân quĩ quốc gia. Cụ thể khủng khiếp nhất là vụ Tập đoàn Vinashin đã gây ra một khoản nợ trên 86.000 tỉ đồng (4,5 tỉ USD). Nhưng sau đó các uỷ viên Bộ chính trị đã họp kín và tự tha bổng cho nhau!

Chính vì thế nhiều chuyên viên trí thức và cán bộ cao cấp đã về hưu đã và đang công khai phê bình các văn kiện sai lầm của Đại hội 11. Đáng chú ý nữa là, trong các hội nghị này, không thấy Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Đinh Thế Huynh phân tích và phê bình các hành động ngang ngược của Bắc kinh. Ngược lại họ chỉ nhấn mạnh là phải bẻ gẫy những hoạt động „diễn biến hoà bình“ của nhân dân mà họ gọi là các lực lượng thù địch, đồng thời phải cảnh báo trước tình hình „tự diễn biến“ của cán bộ đảng viên!

Cho nên không có gì ngạc nhiên là trong thời gian qua, khi các hội nghị này được rầm rộ tổ chức thì ngay báo chí của chế độ cũng bị ngăn cấm tường thuật về biến cố 26.5 – ngay cả các tờ điện tử Cộng sản, Nhân dân và Quân đội Nhân dân cũng im lặng trong một số ngày đầu! Trong khi ấy nhiều nhà dân chủ bị giam giữ và bị theo dõi, nhiều Blog điện tử bị phá hoại, trong đó phải kể tới tờ Bauxite VN vừa bị tin tặc phá hoại từ ngày 18.6. Theo thông cáo của tờ Bauxite thì lần này có tới “78% là máy của „người quen“ từ VN “đã tham gia vào việc phá hoại tờ Bauxite VN. Việc này đã tự nói rõ, ai và cơ quan nào ở VN đã ra lệnh phá hoại và phục vụ ý đồ gì!

Như vậy rõ ràng là Ban bí thư và Ban Tuyên giáo trung ương mở hàng loạt các hội nghị trong các tuần vừa qua để cưỡng ép cán bộ, đảng viên học tập như con vẹt các văn kiện vừa sai lầm vừa lỗi thời cùa Đại hội 11, đồng thời còn „định hướng“cho báo chí, tức là bắt các nhà báo phải viết gì, viết như thế nào có lợi cho những kẻ có quyền lực. Như thế những việc làm đó chứng tỏ rằng, nhóm cầm đầu mới của CSVN đã đặt ưu tiên bảo vệ quyền lợi của những người có quyền lực cao hơn là nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ và danh dự tổ quốc!
* * *
Có thể rút ra kết luận gì về tình hình VN trong thời gian vừa qua? Kể từ Đại hội 11 mà điểm cao là từ cuối tháng 5 sau hai hành động xâm phạm lãnh hải VN và tấn công ngang ngược của hải quân Trung quốc vào các tầu của VN, chiều hướng nổi bật nhất là lòng dân và ý đảng đã trở thành đối nghịch với nhau.Trong khi giới chuyên viên trí thức, thanh niên và đại đa số nhân dân rất phẫn uất với Bắc kinh thì nhóm cầm đầu mới của chế độ độc tài toàn trị ở VN lại im hơi ngậm miệng với kẻ thù dân tộc, nhưng lại tìm mọi cách xuyên tạc cuộc tranh đấu của nhân dân và đàn áp những người dân chủ yêu nước.

Nếu hiểu ý nghĩa thâm thuý của câu „chở thuyền là nước và lật thuyền cũng là nước“, nói tới quan hệ giữa nhân dân và chính quyền thì chúng ta thấy rằng, hiện nay nướckhông còn muốn chở thuyền nữa. Bởi vì những người đang ngồi trên con thuyền chỉ toàn những phần tử hèn nhát với kẻ thù của dân tộc, nhưng lại vô cùng tàn ác với dân và cực kì tham nhũng!

Tháng 6. 2011 là một khúc quanh lịch sử cận đại của VN, trong đó lòng dân đang đối nghịch với các ý đồ đen tối của nhóm cầm đầu chế độ độc tài toàn trị! Nhóm cầm đầu chế độ độc tài toàn trị, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng, đang chống lại nhân dân; chống lại thanh niên, các giới trí thức và chuyên viên; chống lại cả những cán bộ đảng viên còn biết giữ lòng tự trọng và danh dự tổ quốc!

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:   www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

Âu Dương Thệ

Há miệng mắc quai

Mình là nạn nhân mà lại đi xin “cầu hòa” thì chỉ có thể chủ động bởi kẻ yếu hèn không còn biết đến liêm sỉ của con người, nói chi đến chuyện thay mặt cho Lãnh đạo một quốc gia như trường hợp Hồ Xuân Sơn, Thứ trưởng Ngoại giao, đã làm trong cuộc gặp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc tại Bắc Kinh ngay 25/06 (2011) để chuyển ý kiến của lãnh đạo Việt Nam tới lãnh đạo Trung Quốc về quan hệ hai nước và tình hình Biển Đông thời gian gần đây.

Cuộc họp đã diễn ra đúng một tháng sau ngày tầu Hải giám của Trung Hoa ngang nhiên xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tới 80 hải lý, (bên trong phạm vi 200 hải lý) đề trấn áp và cắt giây cáp Tầu Bình Minh 2 khi Tầu này đang thực hiện công tác thăm dò đáy biển cho Công ty Dầu khí Việt Nam tại vùng biển tỉnh Phú Yên.

Sau đó, đến ngày 9-6, một tầu đánh cá lớn khác của Trung Hoa đã tấn công trực diện tầu Viking II, cũng làm công tác thăm dò đáy biển cho Công ty Dầu khí Việt Nam trong lãnh hải Vũng Tầu.

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga, lần đầu tiên, đã nói mạnh: “Việt Nam kiên quyết phản đối hành động của phía Trung Quốc phá hoại, cản trở các hoạt động thăm dò khảo sát bình thường của Việt Nam trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, gây thiệt hại lớn cho Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Hành động này đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình, vi phạm Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, trái với tinh thần và lời văn của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002 cũng như nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay, không để tái diễn những hành động vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời bồi thường thiệt hại cho phía Việt Nam”.

Vậy cuộc họp giữa Hòang Xuân Sơn và Đới Bỉnh Quốc kết qủa ra sao ?

Bản Thông tin báo chí chung hai bên, do Thông tấn xã Việt Nam phổ biến ngày 27-6 (2011) viết rằng : “Ngày 25-6 tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã gặp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc, chuyển ý kiến của lãnh đạo Việt Nam tới lãnh đạo Trung Quốc về quan hệ hai nước và tình hình Biển Đông thời gian gần đây.

Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc đã trình bày lập trường và chủ trương của phía Trung Quốc về việc phát triển quan hệ song phương và vấn đề trên biển. Trước đó, Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn đã hội đàm với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân.

Hai bên cho rằng, quan hệ Việt-Trung phát triển lành mạnh, ổn định, đáp ứng nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Việt-Trung, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực.

Hai bên nhấn mạnh cần kiên trì đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển theo đúng phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Hai bên khẳng định, cần tích cực thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo hai nước, giải quyết hòa bình các bất đồng trên biển giữa hai nước thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị; áp dụng biện pháp có hiệu quả, cùng nhau duy trì hòa bình và ổn định tại Biển Đông; tăng cường định hướng đúng đắn dư luận, tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước; đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết “Thỏa thuận về các Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc”; thúc đẩy việc thực hiện “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và các công việc tiếp theo, cố gắng sớm đạt tiến triển thực chất.”

Sau khi về đến Hà Nội, Hoàng Xuân Sơn vội vã tiếp xúc với Báo chí của đảng để nói thêm những điều còn úp mở trong Thông báo chung.

Sơn nói : “Nội dung Thông điệp (của cuộc họp) tập trung vào 3 điểm chính sau:

1. Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt, Việt Nam sẽ nỗ lực cùng với Trung Quốc để thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa hai nước ngày càng thiết thực, hiệu quả hơn vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác của khu vực và thế giới.

2. Bày tỏ quan ngại về những vụ việc vừa qua ở Biển Đông; đồng thời khẳng định rõ lập trường của Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông, nhấn mạnh Việt Nam chủ trương duy trì hòa bình ổn định trên Biển Đông, đề nghị các bên nghiêm túc thực hiện “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”, giải quyết tranh chấp và các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Đề nghị hai bên thực hiện nghiêm túc thỏa thuận của cấp cao hai nước, không có những việc làm gây phức tạp thêm tình hình, không để vấn đề Biển Đông ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.

3. Nêu một số kiến nghị cụ thể về việc thúc đẩy quan hệ hai nước trong thời gian tới, như việc duy trì tiếp xúc cấp cao, tổ chức phiên họp lần thứ 5 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc tại Hà Nội.”

Hồ Xuân Sơn còn nói: ”Nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước đã được ghi nhận trong các Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhân các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước, gần đây nhất là Tuyên bố chung tháng 10/2008 nhân dịp Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm Trung Quốc. Theo đó, hai bên khẳng định quan tâm gìn giữ hòa bình, ổn định ở Biển Đông, tuân thủ nghiêm túc nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước và tinh thần “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”, duy trì cơ chế đàm phán vấn đề trên biển, căn cứ nguyên tắc và chế độ pháp lý đã được xác định bởi luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Luật biển của LHQ năm 1982 tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu và bàn bạc về hợp tác cùng phát triển để tìm ra mô hình và khu vực thích hợp. Trong quá trình đó, hai bên cùng nỗ lực gìn giữ tình hình ổn định ở Biển Đông, không áp dụng hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh chấp. Hai bên đồng ý, với nguyên tắc dễ trước khó sau, tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực như nghiên cứu khoa học hải dương, bảo vệ môi trường, dự báo khí tượng thủy văn, thăm dò khai thác dầu khí, tìm kiếm cứu hộ trên biển, tàu hải quân đi thăm lẫn nhau, xây dựng cơ chế trao đổi thông tin trực tiếp giữa quân đội hai nước.”

Có 2 vấn đế cần làm sáng tỏ : Từ lâu, Bắc Kinh đã không coi “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” giữa Trung Hoa và Hiệp hội gồm 10 nước Đông Nam Á (ASEAN) ký tại Nam Vang năm 2002 có gía trị ràng buộc các bên ký kết phải tuân thủ vì Văn kiện này không có tính cách pháp lý mà hòan tòan tùy thuộc vào thiện chí của mỗi quốc gia.

Thứ hai, việc hợp tác “thăm dò khai thác dầu khí”, theo quan điểm của Việt Nam và các nước trong ASEAN chỉ có thể diễn ra trong vùng “còn tranh chấp” như khu vực Trường Sa chứ không thể nào được thực hiện trong vùng biển đã có chủ quyền lãnh thổ như trường hợp Hòang Sa của Việt Nam.

Ngược lại phía Trung Hoa lại đòi hợp tác khai thác cùng có lợi ngay trên vùng biển Trung Hoa tự nhận của mình đã do Bắc Kinh tự vẽ giống hình “Lưỡi Bò”, hay vùng “9 đoạn” chiếm diện tích từ 80 đến 85% diện tính của Biển Đông, tức lấn sang vùng biển của nước khác thay vì tại vùng chưa có ranh giới rõ ràng như ở Trường Sa.

Các bản tin của phía Việt Nam và lời tuyên bố của Hoàng Xuân Sơn không hế nói đến Công hàm của Phạm Văn Đồng ngày 14 tháng 9 năm 1958 gửi Chu Ân Lai, Tổng lý của Trung Hoa thời bấy giờ, nhìn nhận tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Bắc Kinh bao gồm của hai quần đào Hòang Sa và Trường Sa mà thời đó thuộc quyền cai qủan của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam.

Hành động của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa miền Bắc Cộng sản lúc bấy giờ có dụng ý gì thì không ai biết. Những nhân chứng quan trọng nhất như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh đều đã chết nên “hành động lịch sử vô trách nhiệm” này của đảng CSVN đã để lại hệ lụy cho dân tộc đến ngày nay.

Bằng chứng đã được Hồng Lỗi, Phát ngôn nhân của Bộ Ngọai giao Trung Quốc nhắc khéo với phía Việt Nam trong Cuộc họp báo ngày 28-6 (2011).

Theo Tân Hoa Xã của Trung hoa, Xinhua, thì Hồng Lỗi đã kêu họi Việt Nam hãy “thi hành sự đồng thuận về vấn đế Biển Đông đã đạt được trong chuyến thăm Trung Quốc tuần qua của đặc phái viên của Việt Nam, Hồ Xuân Sơn.”

(China on Tuesday called on Vietnam to implement a bilateral consensus on the South China Sea issue that was reached during the China visit of Vietnam’s special envoy Ho Xuan Son last weekend.)

Hông Lỗi nói tiếp : “ Chúng tôi đã thảo luận sâu rộng với phiá Việt Nam về vấn đề Biển Đông trong thời gian có cuộc thăm viếng của đặc sứ, và hai bên đã đồng ý giải quyết vấn đề tranh chấp qua tham khảo hữu nghị và tránh mọi động thái có thể làm phức tạp thêm vấn đề.”

(We had in-depth discussions with the Vietnamese side on the South China Sea issue during the visit of the special envoy, and the two sides agreed to solve disputes through friendly consultations and avoid making moves that may aggravate or complicate the issue,” said Foreign Ministry spokesman Hong Lei at a press briefing.)

“Chúng tôi hy vọng phiá những người Việt Nam sẽ cùng với chúng tôi thực thi sự dồng thuận và cố gắng bảo vệ hòa bình và sự ổn định của Biển Đông.”

(We hope the Vietnamese side will implement the consensus together with us and make efforts to safeguard peace and stability of the South China Sea,” Hong said.)

Một lần nữa, phiá Trung Hoa nhắc lại lập trường cố hữu không thay đổi rằng : “Trung Quốc đã tái khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi trên tất cả các đảo ở Biển Đông và vùng nước xung quanh.”

(China has repeatedly stated its indisputable sovereignty over the South China Sea islands and their surrounding waters.)

Bản tin của Tân Hoa Xã viết tiếp : “ Tài liệu lịch sử của Trung quốc chỉ rõ vào năm 1958 rằng, Chính phủ Trung quốc đã tuyên bố chủ quyền trên các đảo ở Biển Đông là phần lãnh thổ của Trung quốc, và nguyên Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã bầy tỏ đồng ý của ông trong Công hàm Ngọai giao gửi tới nguyên Thủ tướng Chu Ân Lai.”

(Chinese historical records show that in 1958, the Chinese government claimed the islands in the South China Sea as part of China’s sovereign territory, and then Vietnamese Premier Pham Van Dong expressed agreement in his diplomatic note to then Premier Zhou Enlai.)

Vẫn theo Tân Hoa Xã thì không hề có sự phản kháng của bất cứ quốc gia nào đối với chủ quyền của Trung quốc trên khu vực cho đến thập niên 1970 khi các nước, kể cả Việt Nam và Phi Luật Tân lên tiếng dành một phần chủ quyền.

(There was no dissension from any country on China’s sovereignty over the area until the 1970s, when countries including Vietnam and the Philippines claimed partial sovereignty.)

“Và sau một thời gian dài thương thảo, Đặng Tiểu Bình mới đưa ra sáng kiến đề nghị rằng hãy gác sang một bên những tranh chấp để cùng hợp tác khai thác khu vực.”

(After long-term negotiations and disputes, Deng Xiaoping initiated his proposal on the issue that put aside the disputes and offered joint exploitation in the region.)

Sau hi nhắc lại Thỏa hiệp Nam Vang năm 2002 giữa Trung Hoa và Hiệp hội các nước Đông Nam Á về “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” , hãng Tân Hoa Xã (Xinhua) còn tiết lộ : “ Vào tháng 3 năm 2005, 3 Công ty Dầu khí Trung Hoa, Việt Nam và Phi Luật Tân đã ký chung một Thỏa hiệp lịch sử tại Manila về cùng hợp tác tìm kiếm dầu và hơi đốt tại vùng tranh chấp ở Biển Đông.”

(In March 2005, three oil companies from China, Vietnam and the Philippines signed a landmark tripartite agreement in Manila to jointly prospect oil and gas resources in the disputed South China Sea.)

CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG

Tuy Tân Hoa Xã của Trung Hoa không nêu lý do tại sao họ lại lôi Công hàm của Phạm Văn Đồng ra để nhắc nhở Việt Nam phải tôn trọng những gì đã nói trong bối cảnh tranh chấp mới giữa hai nước, nhưng mục tiêu chiếm chủ quyền ở Biển Đông của Bắc Kinh thì đã rõ.

Vấn đề bây giờ là trách nhiệm của đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam phải trả lời như thế nào để có thể sống yên thân với người Phương Bắc và với chính người dân Việt Nam.

Trong khi chờ đợi thì mọi người hãy bình tĩnh đọc bức Công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng, nguyên văn như sau :

“Thưa đồng chí Tổng lý

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.

Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.

Hà-nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958

(Ký tên-Đóng dấu
Phạm Văn Đồng
Thủ tướng Chính phủ
Nước Việt-Nam Dân chủ Cộng Hòa)

Hành động cúi đầu khẩu phục Nhà nước Tầu khi ấy của Phạm Văn Đồng dù với mục đích gì chăng nữa cũng không sao xoá được vết nhơ trong lịch sử, vì Bức Công hàm đã nói rõ cái tâm địa “phản nước, hại dân” của một người đứng đầu Chính phủ-/-

Phạm Trần

Trung Quốc ra lệnh cho Việt Nam ngưng phản đối chuyện Biển Ðông

Tướng Mã Hiểu Thiên (bên phải) phó tham mưu trưởng Quân Ðội Trung Quốc tiếp Tướng Võ Tiến Trung (bên trái) giám đốc Học Viện Quốc Phòng Việt Nam ở Bắc Kinh ngày 29 tháng 6, 2011. (Hình: Bộ Quốc Phòng TQ)

BẮC KINH (TH) – Một viên chức quân sự cao cấp của Trung Quốc kêu gọi Hà Nội “hướng dẫn dư luận quần chúng” để “tránh làm mọi vấn đề trở nên phức tạp, thổi phồng, đa phương hóa và quốc tế hóa để bảo vệ mối quan hệ song phương và ổn định hòa bình an ninh ở khu vực xuyên qua các hành động cụ thể.”

Mã Hiểu Thiên, phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc được tường thuật trên bản tin của báo mạng Bộ Quốc Phòng Trung Quốc nói như vậy với ông Võ Tiến Trung, trung tướng giám đốc Học Viện Quốc Phòng Việt Nam, khi ông này cầm đầu phái đoàn sang Trung Quốc.

Chuyến viếng thăm của ông Trung, tiếp theo sau chuyến đi của Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn, có vẻ như Hà Nội muốn làm dịu xuống những căng thẳng đang diễn ra giữa hai nước mà một tướng Trung Quốc đe dọa dùng quân sự “cho Việt Nam một bài học” và cướp luôn những hòn đảo Việt Nam đang giữ ở Trường Sa.

Tuy ông Thiên không nói thẳng ra những gì đã xảy ra trên Biển Ðông nhưng người ta hiểu điều ông muốn ám chỉ là gì.

Theo sự tường thuật của báo mạng nói trên, ông Mã Hiểu Thiên “hy vọng phía Việt Nam giải quyết các vấn đề nhạy cảm một cách thích hợp và hướng dẫn dư luận quần chúng và tâm lý đám đông.”

Khi ông Hồ Xuân Sơn đến Bắc Kinh ngày 25 tháng 6, 2011 vừa qua, báo chí cũng cho thấy ông đã bị nhà cầm quyền Hoa Lục đòi dẹp các cuộc biểu tình ở Việt Nam. Tuy bắt phía Việt Nam cấm dân biểu tình hay báo chí viết bài đả kích Trung Quốc, những lời cảnh cáo hay đe dọa của các chức sắc Bắc Kinh vẫn thấy xuất hiện trên báo chí nước họ.

Căng thẳng bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc leo thang hồi tháng qua khi tàu Trung Quốc cản trở và cắt cáp thăm dò dầu khí của Việt Nam ngay trong vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) mà cả hai nước đều là thành viên.

Việt Nam lên án Trung Quốc vi phạm chủ quyền của nước mình trong khi Bắc Kinh cáo buộc ngược lại. Phát ngôn viên Ngoại Giao Việt Nam từng tố cáo Trung Quốc “biến khu vực không tranh chấp” của Việt Nam thành “khu vực tranh chấp” theo chính sách bá quyền của Bắc Kinh.

Nhà cầm quyền Hà Nội chỉ giới hạn tới tối đa các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội và Hải Phòng nhưng không hoàn toàn cấm hẳn.

Nhà cầm quyền Hà Nội xưa nay chưa khi nào loan báo tập trận hải quân nhưng sau khi xảy ra hai vụ cắt cáp đã tổ chức một lần nhưng cũng chỉ nằm sâu trong biển phía mình. Ðối lại, Bắc Kinh loan báo tổ chức ít nhất 6 cuộc tập trận qui mô khác nhau của nhiều binh chủng, không kể những lời đe dọa trên báo.

Bản thông cáo chung giữa thứ trưởng Ngoại Giao của hai nước đều cam kết thương thuyết giải quyết tranh chấp trong hòa bình và hữu nghị nhưng trong sự thức đẩy của Trung Quốc, đòi hỏi giải quyết song phương không có sự can thiệp của một nước thứ ba. Bắc Kinh công khai bày tỏ thái độ dị ứng với sự tham gia giải quyết tranh chấp của Hoa Kỳ dù dưới bất cứ hình thức nào.

Bắc Kinh rất khó chịu từ năm ngoái khi bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố ở Hà Nội là Hoa Kỳ “có lợi ích quốc gia trên Biển Ðông” và hô hào giải quyết các tranh chấp trên Biển Ðông bằng các cuộc thương thảo đa phương. Bắc Kinh lập lại rất nhiều lần đòi hỏi thương thuyết song phương với từng nước nhỏ để dễ hà hiếp.