“Định hướng dư luận” lần thứ nhất từ Bắc Kinh

Posted on July 3, 2011

3



Biểu tình chống TQ tại ngày 3 tháng 7 năm 2011

Vụ án dân oan tỉnh Bến Tre đã kết thúc vào ngày 31 tháng 5 năm 2011, nhưng lại được ĐCSVN (Đảng Cộng Sản Việt Nam) đem ra “hâm nóng” lại vào ngày 1 tháng 7 năm 2011 qua bài viết tựa đề “Bộ mặt thật của tổ chức Việt Tân – Bài 1: Qua cầu rút ván“.

Trích “Theo Khải và Thúy khai: Nội dung những khóa tập huấn có phương thức “đấu tranh bạo lực quần chúng”, gồm: cách thành lập đội nhóm trá hình, thông qua internet để phát triển lực lượng ảo trên các trang xã hội, qua đó kích động, lôi kéo thanh niên xuống đường biểu tình, gây rối trật tự để quay phim, chụp hình đưa lên mạng nhằm phô trương thanh thế và làm cơ sở xin tiền. Đặc biệt, tên thủ lĩnh của tổ chức Việt Tân đã nhắc nhở những người dưới trướng: Thời điểm này, phải tận dụng tối đa chiêu bài chống Trung Quốc để kích động thanh niên có lòng yêu nước tham gia biểu tình gây rối trật tự công cộng. Biểu tình nhiều lần, Việt Tân càng thành công và dấu hiệu nhận dạng của Việt Tân để chụp hình, quay phim là nón và áo có khẩu hiệu “TS-HS-VN”.”

Sự xuất hiện của bài báo trên diễn ra chỉ vài ngày sau khi thứ trưởng Ngoại Giao của ĐCSVN Hồ Xuân Sơn khẩn cấp bay sang Bắc Kinh để nhận lệnh mới của Thiên Triều sứ giả Đới Bỉnh Quốc trong chiến dịch dẹp tan những mầm mống nguy hại cho kế hoạch bành trướng lâu dài của Hán Tộc trên đất nước Việt Nam nỏi riêng, và bán đảo Đông Nam Á nói chung: những cuộc biểu tình “tự phát” chống TQ (Trung Quốc).

Song song với dùng sức mạnh quân sự (cây gậy) để thị uy với VN (Việt Nam) nói riêng, và khối ASEAN nói chung trên Biển Đông, và sức mạnh kinh tế (củ cà rốt) như di dân ồ ạt, cho mượn tiền, đầu tư, hối lộ v.v. nhằm lũng đoạn những chính phủ địa phương như đã từng làm tại châu Phi, ĐCSTQ (Đảng Cộng Sản Trung Quốc) “ngạc nhiên” khi gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của thế giới trong cuộc hội thảo về Biển Đông lần 2 tại Hoa Thịnh Đốn vào cuối tháng 6 năm 2011. Điển hình là sự phản đối quyết liệt từ chính phủ và nhân dân Phi Luật Tân (Philippines) khi hải quân Phi dùng máy bay và tàu “đánh đuổi” tàu TQ mỗi lần mon men xâm phạm vùng lãnh hải của Phi, và những cuộc biểu tình ôn hoà của dân chúng Phi trước toà đại sứ TQ tại thủ đô Manila về những hành vi ngang ngược đầy tính chất côn đồ của hải quân TQ đối với ngư dân Phi trong vùng biển tranh chấp.

Phi Luật Tân là đồng minh của Mỹ từ đệ nhị thế chiến, và là 1 thành viên của khối SEATO, tiền thân của khối ASEAN hiện nay. Do đó ý đồ “thuần phục” dân tộc Phi của Bắc Kinh trong thời điểm hiện tại không được “thuận buồm xuôi gió” như đối với Việt Nam khi Đới Bỉnh Quốc “nhắc khéo”  Hồ Xuân Sơn về sự “giúp đỡ” của ĐCSTQ với ĐCSVN khi TQ đưa quân lính sang VN đánh bại thực dân Pháp tại Điện Biên Phủ vào năm 1954.  (Những cuộc giao tranh giữa quân đội Pháp-Việt ở cấp sư đoàn trở lên trong suốt thời điểm 1949 (khi ĐCSTQ chiếm được Hoa Lục) – 1953 đều mang lại sự thất bại và tốn thất nặng nề cho quân đội VN do thiếu sự đóng góp về nhân lực từ TQ, và “huyền thoại” thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp sẽ bị phá vỡ nếu TQ tiết lộ ai mới thật sự là “anh hùng” của chiến dịch Điện Biên)

Ý đồ xâm lược VN và thuần phục dân tộc VN của Hán Tộc không bao giờ nguôi lặng trong hơn 2,000 năm nay.  Chiến tranh biên giới năm 1979, 1984-1986, những cuộc hải chiến ở Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988 là bằng chứng hùng hồn về âm mưu thôn tính VN của Bắc Kinh.  ĐCSVN đã biết rất rõ về sự xâm phạm lãnh hải VN, và nhứng sự quấy rối, bắn giết ngư dân của hải quân TQ từ lâu, nhưng chỉ phản đối lấy lệ trên phương diện ngoại giao.

Ngoài việc phản đối ôn hoà trên bình diện ngoại giao, những chính phủ khác trong khối SEATO như Phi Luât Tân, Mã Lai Á (Malaysia), Nam Dương (Indonesia) đã phản đối thiết thực hơn khi hải và không quân của những nước này đã không ngần ngại “dạy” cho TQ một bài học mỗi lần tàu “ngư chính” hay “hải giám” của TQ xâm phạm lãnh hải của họ.  TQ đã “cúp đuôi” bỏ chạy sau mỗi lần đụng độ với những quốc gia trên vì TQ biết “đường lưỡi bò” không được pháp luận quốc tế công nhận hay ủng hộ, ngoại trừ VN và Miến Điện, quốc gia đang “nhức đầu” về “phiến loạn” (dưới sự tài trợ của TQ).

Vì sao ĐCSVN không khởi tố hay kiện TQ trước những toà án quốc tế khi TQ bắn giết ngư dân VN trong vùng lãnh hải của VN (nếu lập luận mị dân rằng VN yêu chuộng hoà bình và không tìm giải pháp đối đầu quân sự làm chính trong việc tranh chấp lãnh hải) ? Vì sao ĐCSVN không khởi tố hay kiện TQ trước những toà án quốc tế khi tàu hải giám của TQ ngang nhiên tiến vào vùng lãnh hải của VN và “cắt cáp” tàu Bình Minh 2 và tàu Viking II ?  Vì sao TQ quyết định gọi Hồ Xuân Sơn sang Bắc Kinh để “huấn luyện” ĐCSVN về cách cai trị “Nam Man” ngay khi hội thảo về Biển Đông lần 2 vừa kết thúc ?

Người Cộng Sản giành được chính quyền bằng những thủ đoạn không minh bạch, và dùng “chuyên chế vô sản” để vô hiệu hoá những phần tử đối lập.  Do đó họ luôn lo sợ bị lật đổ.

Sự lo ngại của Thiên Triều về ảnh hưởng “vết dầu loang” của những cuộc biểu tình chống TQ tại VN và Phi dựa trên nỗi sợ triền miên của người Cộng Sản, và sau 3 chủ nhật liên tiếp khi ĐCSVN chỉ đàn áp những người biểu tình với tính cách tượng trưng (so sánh với những bản án nghiêm khắc trước đó dành cho Phạm Thanh Nghiêm, Cù Huy Hà Vũ, Phan Thanh Hải v.v. khi họ cũng khẳng định một cách ôn hoà về lập trường “Hoàng Sa-Trường Sa là của VN” đối với TQ),  ĐCSTQ đã “quyết định thay” cho ĐCSVN vì đã không sốt sắng trong việc trị an cho Thiên Triều bằng cách “triệu” Hồ Xuân Sơn sang Bắc Kinh để ban huấn từ về những hậu hoạn hay biến chứng có thế xảy ra từ những cuộc “biểu tình chống TQ”.

Những cuộc cách mạng Hoa Lài tại Trung Đông, Bắc Phi đã và đang có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế luôn khao khát dầu hoả của TQ.  Liệu những cuộc biểu tình tự phát chống TQ ở VN có lan sang Cambodia, Lào, hay những tỉnh “cũ” của VN như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam ?  Liệu những cuộc biểu tình này có lan sang những thành phần khác trong xã hội như giai cấp “dân oan”, công nhân, trí thức, doanh nhân ?  Những lo âu trên của Thiên Triều có thể trở thành hiện thực nếu mọi người trong xã hội đều nhận chân được giá trị đích thực của ĐCSTQ (tham nhũng, thối nát từ tư tưởng đến hành động, vô tổ quốc, bè phái), và tiềm năng vô hạn của con người khi lòng ái quốc tiềm tàng trong mỗi cá nhân trỗi dậy.

Việc tờ báo SGGP đăng bài “bình luận” vừa được nêu ở trên chứng tỏ cho ta thấy sự “ló mòi” của những gì ĐCSVN sẽ làm trong thời gian tới trong việc “Định hướng dư luận từ Bắc Kinh” của họ.

Câu hỏi cần được nêu lên trong lúc này là người dân VN có còn tiếp tục cuộc sống khiếp nhược (như họ đã từng sống trong suốt 36 năm qua) khi họ biết ĐCSVN sẽ nghe theo lệnh của Bắc Kinh và sẽ dùng bạo lực (công an, bộ đội) để đàn áp hay dập tắt từ trong trứng nước những cuộc biểu tình trong tương lai ?

Chiến thuật định hướng công luận của giới lãnh đạo Trung Quốc

Vừa qua, ban Tuyên huấn của đảng Cộng sản Trung Quốc cho lưu hành một tài liệu mật, chỉ đạo tiêu trừ mọi tiếng nói phản biện, thông tin đa chiều, ở trong cũng như ngoài nước.

Trong chính sách đối ngoại, Trung Quốc luôn khẳng định là một quốc gia đang phát triển với chủ trương yêu chuộng hòa bình, quan hệ tốt với láng giềng và tôn trọng tự do. Trên thực tế, ban Tuyên huấn của đảng Cộng sản, trong một tài liệu mật, đã chỉ đạo tiêu trừ mọi tiếng nói phản biện và thông tin đa chiều, ở trong cũng như ở ngoài nước, gây bối rối cho chính phủ.

Tháng 3/2011 năm nay, thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã đưa ra một lời tuyên bố mang tính cảnh báo tại Quốc hội : Nhân dân đang căm phẫn chế độ.

Có lẽ, để đối phó với mối đe dọa này, giới lãnh đạo Trung Quốc đề ra một loạt biện pháp trấn áp, không từ một hình thức nào và không sót một đối tượng nào trong xã hội.

Các biện pháp này gồm : tăng cường kiểm duyệt thông tin, bắt giam tức khắc mọi cá nhân loan tải thông tin bất lợi cho chính phủ, gia tăng theo dõi mọi thành phần dân chúng ngay từ tuổi còn thơ và tố giác những người than oán.

Trên đây là nội dung một tài liệu mật của ban Tuyên huấn, thuộc Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc vừa được báo chí Tây phương tiết lộ, nhân chuyến công du châu Âu của thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo.

Theo các trích đoạn đăng trên Danish newpaper Information của Đan Mạch thì chính sách của Trung Quốc hoàn toàn trái ngược với dáng vóc bề ngoài trầm tĩnh, hiền hòa của ông Ôn Gia Bảo.

Tài liệu mật do cơ quan tuyên truyền của đảng Cộng sản cho lưu hành nội bộ vào giữa tháng Giêng và tháng Ba năm nay hướng dẫn cách « duy trì quân bình trong bộ máy quyền lực », gia tăng kiểm duyệt thông tin và nỗ lực « định hướng » công luận quốc tế sao cho thuận lợi cho Trung Quốc.

Mục tiêu của chiến thuật này là duy trì « độc quyền thông tin » và ngăn chận trước mọi nguồn « thông tin nhạy cảm ». Trong tương lai, phải cải tiến các biện pháp « theo dõi thông tin » và nhanh chóng « nhận diện các nguồn tin bất hợp pháp vô hiệu hóa và tiêu trừ mọi nguồn tin và thông tin trên các mạng Trung Quốc cũng như trên mạng nước ngoài có nội dung làm bối rối chính phủ Trung Quốc ».

« Bạo lực là phương tiện »

Để đạt được mục tiêu này, Ttrung ương chỉ thị cho chính quyền các tỉnh, huyện, xã phải lập « tổ đặc nhiệm » định hướng dư luận với nhiệm vụ tham gia thảo luận trên các diễn đàn thông tin và blog. Bên cạnh đường dây « công an mạng », chính quyền dự kiến thành lập chức vụ gọi là « thủ trưởng thông tin » ở mọi cấp, mọi nơi từ « đại học, trường học, sở làm cho đến tận các trại hè của học sinh » để gọi là « kịp thời phát hiện bất cứ ai » chỉ trích chế độ.

Cũng trong chiều hướng này, ban Tuyên huấn nêu lên mối đe dọa mà họ gọi là « những thế lực thù địch bên trong và bên ngoài » thực hiện âm mưu buộc Trung Quốc cải cách chính trị theo mô hình Tây phương. Tài liệu mật cho rằng đây là một hình thức can thiệp vào nội tình, đánh phá ngầm ý thức hệ chính trị và văn hóa Trung Quốc, làm hại hình ảnh của chế độ.

Biện pháp mà giới lãnh đạo đề ra để ngăn chận « âm mưu » này là phải giới hạn không gian hoạt động của các phóng viên quốc tế, các công ty tư nhân nước ngoài và phòng ngừa « kẻ thù trong nước phát biểu với báo chí ngoại quốc ».

Cụ thể là phải « làm giảm ảnh hưởng của thành phần ly khai tại Tây Tạng và Tân Cương trong công luận quốc tế ».

Theo giới quan sát, chỉ thị mật của đảng Cộng Sản Trung Quốc gián tiếp thừa nhận tình hình nội trị đang có vấn đề trong bối cảnh mỗi năm có hơn 200 ngàn vụ dân oan biểu tình.

Mặc khác, nó cho thấy Bắc Kinh ý thức được là họ không dập tắt được khát vọng độc lập của người dân Tây Tạng và Tân Cương bằng bạo lực và đang lo ngại ảnh hưởng của phong trào Mùa Xuân Ả Rập.

Trên báo mạng công giáo châu Á, Asia News, giám đốc tổ chức Tây Tạng Tự Do tại Anh Quốc bà Stephanie Bridgen nhận định, tài liệu mật này là bằng chứng cho thấy sự « giả trá » của lãnh đạo Trung Quốc.

Ngày 28 /06/2011 vừa qua, tại Luân Đôn, thủ tướng Ôn Gia Bảo cam kết « Trung Quốc tương lai sẽ là một nước hoàn toàn dân chủ, pháp trị, bình đẳng và công lý trong đó người dân có quyền giám sát và chỉ trích chính phủ ».

Thực tế, theo chuyên gia Stephnie Bridgen, chà đạp nhân quyền là một sách lược của giới lãnh đạo Bắc Kinh để có thể tiếp tục thống trị nhân dân Tây Tạng và nhân dân Trung Quốc.

RFI

Tại sao CSVN lại bắt bớ những người hăng say biểu tình chống Tầu cộng xâm lăng?

Trong lịch sử Việt Nam, khi bị giặc Tầu xâm lăng, những vị lãnh đạo đất nước đều quyết tâm chống lại. Đi đôi với quyết tâm này là việc kêu gọi toàn dân chung lòng góp sức. Chẳng hạn, khi quân Nguyên xâm lược nước ta, vua Trần Thánh Tông đã triệu tập Hội Nghị Diên Hồng, quy tụ các bô lão, những người được coi là khôn ngoan nhất trong nước lại, để xin ý kiến và lấy quyết định của toàn dân. Nhờ chủ trương “quyết chiến” của toàn dân mà dân tộc ta đã thắng quân Nguyên cách oanh liệt.

Nhưng từ khi Việt cộng cướp được chính quyền tại Miền Bắc tới nay, trước áp lực của Tầu cộng, 11 thế hệ của bộ chính trị Việt cộng đã từng nhượng cho Tầu cộng nhiều phần đất phần biển của tổ quốc. Năm 1958, không cần tốn một viên đạn, Tầu cộng đã buộc được Việt cộng phải công nhận chủ quyền của chúng trên phần biển có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của tổ quốc. Trong thập niên trước, cũng chưa cần tốn một viên đạn, Tầu cộng đã ép được bộ chính trị Việt cộng ký những mật ước nhượng cho chúng hàng ngàn cây số vuông lãnh thổ và hàng chục ngàn cây số vuông lãnh hải…

Chẳng những thế, những năm gần đây, bộ chính trị Việt cộng còn tạo nhiều điều kiện thuận lợi để Tầu cộng có thể xâm chiếm Việt Nam như:

– cho Trung cộng lập những đường xe lửa cao tốc từ Tầu chạy thẳng vào Việt Nam, đồng thời mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh để xe tăng của Trung cộng có thể chạy thẳng vào Miền Trung và Miền Nam Việt Nam;

– cho phép dân Trung cộng được tự do vào Việt Nam không cần visa để định cư, làm ăn, lập những làng Tầu, thậm chí những thành phố Tầu ở nhiều nơi tại Việt Nam, chẳng hạn một thành phố Tầu, một Chinatown được mệnh danh là “Đông Đô Đại Phố, đã được khởi công xây dựng ngày 22 tháng 5 ở Bình Dương. Điều này tạo điều kiện dễ dàng cho Tầu cộng đưa nội ứng của chúng vào trong lòng đất nước, rất thuận lợi cho Tầu cộng xâm lăng Việt Nam về quân sự cũng như kinh tế;

– cho Trung cộng đem hàng chục ngàn công nhân ‒ có thể là quân nhân trá hình ‒ vào Tây Nguyên với danh nghĩa khai thác bauxite, bất chấp việc này hết sức nguy hiểm cho nền an ninh quốc gia;

– cho Trung cộng đưa người của họ vào những khu rừng đầu nguồn, và rừng phòng hộ của Việt Nam diện tích tổng cộng khoảng 300.000 ha với danh nghĩa cho họ thuê dài hạn để khai thác lâm sản

– cho Tầu cộng đem hàng chục ngàn công nhân ‒ có thể là quân nhân trá hình ‒ vào Tây Nguyên với danh nghĩa khai thác bauxite, bất chấp việc này hết sức nguy hiểm cho nền an ninh quốc gia;

– cho Tầu cộng khai thác rừng đầu nguồn với danh nghĩa cho thuê dài hạn;

– vân vân… (nghĩa là còn nhiều việc khác nữa).

Nay, Tầu cộng đã ngang nhiên xâm phạm bờ cõi Việt Nam qua việc bắn chết ngư dân Việt Nam, cắt dây cáp thăm dò các tàu của Việt Nam ngay trong lãnh hải Việt Nam. Thế mà nhà nước Việt cộng không hề có hành động phản đối nào thật sự tích cực và hữu hiệu.

Trước nguy cơ đất nước bị mất vào tay Tầu cộng như trường hợp Tây Tạng, Tân Cương, Mông Cổ… nhiều người dân đã ý thức trách nhiệm phải bảo vệ tổ quốc. Họ đã biểu lộ trách nhiệm ấy bằng những cuộc biểu tình chống Tầu cộng. Nhà nước Việt cộng vốn suy yếu đến nỗi trong quá khứ, chỉ cần Tầu cộng áp lực nhẹ nhàng, đã sẵn sàng nhượng đất nhượng biển cho họ, thì bây giờ trước nguy cơ đất nước bị Tầu cộng xâm chiếm, đúng ra họ phải dựa vào sức mạnh của toàn dân để chống ngoại xâm. Đằng này, họ lại bắt bớ, khủng bố, đánh đập dã man những người dân yêu nước muốn biểu lộ ý chí bảo vệ tổ quốc, chống Tầu cộng xâm lăng (1*).

Trước phản ứng mãnh liệt chống Tầu cộng của dân chúng, Việt cộng lại đưa ra luận điệu cũ rích: chống Tầu cộng xâm lăng là việc của nhà nước… không phải là việc của người dân. Đó quả là thái độ xem thường nhân dân và sỉ nhục lòng yêu nước của người Việt Nam, ngược hẳn lại tinh thần của các vị lãnh đạo đất nước xưa.

Từ khi cướp được chính quyền, Việt cộng đã tước đoạt quyền tự quyết của dân tộc, các quyền tự do của người dân, kể cả quyền tự vệ cá nhân (2*). Nay quyền tự vệ của đất nước trước nguy cơ bị Tầu cộng xâm chiếm, họ cũng chủ trương tước đoạt luôn. Họ muốn độc quyền bảo vệ đất nước. Nếu trong quá khứ, họ đã thật sự bảo vệ được đất nước thì thiết tưởng người dân có thể tin tưởng mà trao quyền đó cho họ. Nhưng kinh nghiệm quá khứ thật phũ phàng! Phải chăng Việt cộng muốn dành độc quyền chống ngoại xâm, không chấp nhận cho người dân được phép chống, là để họ có thể tự tung tự tác dâng cả đất nước này cho Tầu cộng, như họ đã từng dâng cho Tầu cộng một số lãnh thổ và lãnh hải? Quả là giao trứng cho ác nếu người dân giao việc bảo vệ đất nước cho bè lũ đã từng nhượng đất và biển của tổ quốc cho ngoại bang!

Đối với một nước lớn có sức mạnh quân sự gấp nhiều lần Việt Nam như Tầu cộng, nếu không có nhân dân, làm sao Việt cộng có thể thắng được chúng khi chúng quyết tâm đánh chiếm nước ta. Thế mà nhà nước Việt cộng lại ngăn cản, không cho người dân được tự do chống ngoại xâm. Trước thái độ đó, người ít suy nghĩ nhất cũng có thể hiểu rằng họ có ý đồ đồng lõa, tiếp tay cho Tầu cộng xâm chiếm nước ta (3*).

Nếu họ thực tâm muốn bảo vệ tổ quốc chống Tầu cộng xâm lăng thì họ đã trân trọng và hết sức vui mừng khi người dân tham gia đông đảo những cuộc biểu tình chống Tầu cộng, đồng thời dựa vào thế của người dân để đòi buộc Tầu cộng phải tôn trọng bờ cõi nước ta.

Nhưng họ đã làm ngược lại. Họ đã bắt bớ, khủng bố, thậm chí tra tấn, đánh đập dã man những người kêu gọi, huy động người dân biểu tình, hoặc những người tỏ ra năng nổ, hăng hái, tích cực trong những cuộc biểu tình, để những cuộc biểu tình sẽ không xảy ra được nữa. Họ đối xử với những người dân yêu nước và sẵn sàng hy sinh cho quê hương đất nước chẳng khác gì những tên tội phạm, như kẻ thù của dân tộc.

Tại sao những người chống Tầu cộng chứ không phải chống chế độ, lại bị Việt cộng coi như chống chính họ? Phải chăng Việt cộng tự đồng hóa mình với Tầu cộng? Phải chăng chống Tầu cộng đồng nghĩa với chống Việt cộng? Phải chăng Việt cộng đã đứng hẳn về phía Tầu cộng để chống lại dân tộc, chống lại ý chí chống ngoại xâm của dân Việt?

Houston, ngày 03/7/2011

Nguyễn Chính Kết

_____________________

Phụ chú:

(1*) Cụ thể như trường hợp cô Phạm Thanh Nghiên, cô chỉ biểu tình một mình trước cửa nhà với khẩu hiệu “Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam” treo phía trên. Cô không hề làm mất trật tự, không gây ồn ào. Nhưng cô đã bị bắt khi đang biểu tình kiểu đó vào ngày 18/9/2008, sau đó bị kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế với tội danh gán ghép là “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam”

(xem http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/01/100126_phamthanhnghien_update.shtml ).

Hay như trường hợp các sinh viên biểu tình tại Sàigòn vào các ngày 5/6, 12/6, công an đã bắt một số sinh viên, chủ yếu là những sinh viên tích cực, hăng hái mà họ cho là chủ động trong các cuộc biểu tình. Những sinh viên này đã bị công an thẩm vấn, hăm dọa, yêu cầu không được biểu tình nữa, đồng thời bị canh chừng không cho ra khỏi nhà vào các ngày 19/6, 26/6 khiến cho cuộc biểu tình vào những ngày đó không thực hiện được.

(xem http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/06/buc-thu-vo-cung-ac-biet-gui-nguyen-xuan.html ;

http://www.giaiphapdanchu.com/2011/06/nguyen-quang-lap-khong-co-gi-ac-biet.html;

http://domole.tumblr.com/post/6605020198/tam-hinh-tren-cho-thay-cai-anh)

Cụ thể nhất và mới nhất là trường hợp mục sư Phạm Ngọc Thạch. Trước hiểm họa đất nước bị Tầu cộng xâm chiếm, ông phổ biến những truyền đơn có nội dung chống Tầu cộng. Vì thế, 11g00 tối ngày 25/6, ông bị đưa về công an phường 26 quận Bình Thạnh. Tại đây, ông bị tra tấn, đánh đập dã man đến nỗi bể xương hàm. Khoảng 1g00 sáng rạng ngày 26/6, khi bị đưa ra khỏi cổng công an phường 26 để đưa về công an thành phố, dù bị gẫy xương hàm, ông vẫn hô to: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”. Lập tức ông bị công an bịt miệng lại ngay. Hiện nay, ngay cả gia đình ông cũng chưa biết tình trạng của ông ra sao.

(xem http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/pastor-phamnthach-arrested-tq-06252011205846.html;

http://www.freevietnews.com/tintuc/detail.php?subaction=showfull&id=1309042992&archive=&ucat=)

(2*) Quyền tự vệ cá nhân bị tước đoạt, như dân oan bị cướp đất đai nhà cửa, khi họ khiếu kiện, hoặc biểu tình phản đối đòi công lý thì lại bị công an đàn áp, đánh đập tàn nhẫn, bị bắt, bị đưa ra tòa, bị vào tù. Như vậy là người dân bị oan ức bị tước quyền tự vệ.

(3*) Năm 2009, khi tôi trình bày ý đồ trên của Việt cộng cho ông Dan Southerland, Phó Tổng Giám Đốc đài RFA, ông ta hỏi tôi: “Làm sao anh dám chắc chắn điều ấy?” Tôi trả lời: “Làm chính trị thì phải tiên đoán được sự việc trước khi nó xảy ra. Khi thấy một người đi chung quanh nhà mình quan sát, lại còn tìm cách mở ổ khoá nhà mình, thì mình phải biết chắc chắn rằng hắn đang muốn vào nhà mình ăn trộm. Chờ hắn vào nhà mình và ăn trộm xong mới dám xác định điều đó thì đã quá muộn. CSVN đã tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc xâm lấn Việt Nam như vậy mà không đoán được họ đã có những mật ước bán đứng đất nước cho Trung Quốc, chờ đến khi đất nước mất hẳn vào tay Trung Quốc rồi mới dám xác định thì đâu còn làm được gì nữa?

KIẾN NGHỊ BỘ NGOẠI GIAO CUNG CẤP THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ VỚI TQ

Hà Nội, ngày 2  tháng 7 năm 2011

 

KIẾN NGHỊ

 YÊU CẦU BỘ NGOẠI GIAO CUNG CẤP THÔNG TIN

 LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC

 

Kính gửi:  Bộ Ngoại giao Việt Nam         

1.          Theo các thông tin báo chí, chúng tôi được biết ngày 25/6/2011, ông Hồ Xuân Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, đã có buổi gặp gỡ và làm việc với Ông Trương Chí Quân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc.

2.           Ngày 28/6/2011, trên bản tin tiếng Anh của Tân Hoa Xã, đã có bài China urges consensus with Vietnam on South China Sea issue về cuộc gặp gỡ  này trong đó có những thông tin:

(i) Both countries are opposed to external forces getting involved in the dispute between China and Vietnam and vow to actively guide public opinion and guard against remarks or actions that undermine the friendship and trust between the people of the two countries, Hong said.”, tạm dịch như sau:

“Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam và nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước, theo ông Hồng Lỗi” ( Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc)

(ii)Chinese historical records show that in 1958, the Chinese government claimed the islands in the South China Sea as part of China’s sovereign territory, and then Vietnamese Premier Pham Van Dong expressed agreement in his diplomatic note to then Premier Zhou Enlai.”,  tạm dịch như sau:

“Những hồ sơ lịch sử của Trung Quốc đã cho thấy rằng năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Hoa Nam như là bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc, và kế đó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao ngắn của mình gửi tới Thủ tướng khi đó là ông Chu Ân Lai.”

Những thông tin trên chúng tôi không thấy đăng trên báo chí của Việt Nam.

3.           Chúng tôi, những công dân Việt Nam ký tên dưới đây, căn cứ vào Điều 53- Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992 (HP 1992) “Công dân có quyền … tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước,…”, và Điều 69 – HP 1992 “Công dân …có quyền được thông tin;…”,  kiến nghị Bộ Ngoại giao Việt Nam như sau:

a.) Yêu cầu ông Hồ Xuân Sơn cho biết thông tin do Tân Hoa Xã đưa như đã trích  mục 2 (i) nêu trên có đúng sự thật không ?

Trong trường hợp những thông tin trên của Trung Quốc không chính xác, yêu cầu phía Trung Quốc phải cải chính và xin lỗi.

b.) Cho biết quan điểm của Việt Nam về bức thư  ngoại giao của Ông Phạm Văn Đồng năm 1958 nêu trong mục 2 (ii) trên đây ?

c.) Thông tin chi tiết (toàn văn) thỏa thuận đã đạt được (nếu có) giữa Ông Hồ Xuân Sơn và đại diện Trung Quốc trong buổi gặp đó.

Chúng tôi rất mong Bộ Ngoại giao sớm trả lời kiến nghị của công dân, thể hiện tôn trọng các quyền của công dân đã được ghi trong Hiến pháp.

Trân trọng,

Những người ký tên vào Bản kiến nghị này:



Ghi chú: Bản Kiến nghị này đã được gửi tới Bộ Ngoại giao sáng nay, 4-7-2011.  Bản DPF: Ban kien nghi.

Advertisements