Đồng nhân dân tệ tăng giá: Nguy hay cơ?

Posted on July 7, 2011

0



Việc đồng nhân dân tệ tăng giá so với USD với mức 6,4599 NDT/USD vào tháng 6 đang làm bùng lên những tranh luận sôi nổi xung quanh xu hướng tăng – giảm của đồng tiền này và những ảnh hưởng của nó đối với thị trường trong, ngoài nước thời gian tới.

>> Nhân dân tệ ‘tăng ga’, bỏ xa USD (Kinh tế Việt Nam càng lệ thuộc vào Trung Quốc)
>> Nhân dân tệ ào ạt tăng giá

Một số chuyên gia Mỹ hy vọng đồng NDT tăng giá sẽ giải quyết thâm hụt thương mại liên tục với Trung Quốc.

Trong nhiều năm qua, Mỹ và các đối tác thương mại quan trọng khác của Trung Quốc thường cho rằng, đồng NDT tăng giá sẽ có lợi cho kinh tế Trung Quốc. Tỷ giá của NDTvới USD và đồng Euro tăng sẽ khiến sức mua của người dân tăng mạnh, tạo công ăn việc làm cho một số ngành nghề, đặc biệt là ngành dịch vụ.

Vì vậy, một số chuyên gia Mỹ dự đoán đồng NDT sẽ tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới với hy vọng giải quyết thâm hụt thương mại liên tục với nước này. Cụ thể, có thể giảm thặng dư giữa Trung Quốc và Mỹ bằng cách giảm lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sang Mỹ.

Ông David Carbon, Giám đốc nghiên cứu kinh tế và tiền tệ của DBS Bank tại Singapore, lại cho rằng, tuy Mỹ luôn hy vọng vào những lợi ích thương mại sau khi đồng NDT tăng giá nhưng trên thực tế, Mỹ sẽ vướng phải những hệ lụy không mong muốn trong việc này.

Ông David Carbon cho rằng, việc tăng giá NDT quá nhanh có thể gây tổn thương cho chính các doanh nghiệp và người tiêu dùng Mỹ. NDT tăng giá, hàng hóa Trung Quốc tại Mỹ tăng giá, người Mỹ sẽ là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất.

IMF mới đây đưa ra cảnh báo, NDT tăng giá sẽ không đem lại những lợi ích như nhiều người lầm tưởng. Chuyên gia kinh tế Ruo Chen và Mai Dao thuộc IMF cho biết, sau những điều chỉnh lạm phát, đồng tiền này nếu tăng giá khoảng 10% thì tỷ lệ xin việc trong các ngành nghề phi nông nghiệp sẽ tụt khoảng 0,4% – 1,4%, thậm chí là cả xuất khẩu và ngành dịch vụ.

Ông Greg Hayes, Chủ tịch công ty kỹ thuật liên hợp Mỹ tại Trung Quốc, cũng cho rằng, sự biến động của đồng NDT sẽ khiến tỷ lệ người thất nghiệp tăng cao, vì các doanh nghiệp khó đáp ứng được mức lương mới tương ứng với đà tăng của đồng NDT. Hiện, công ty này thuê tới 17.000 nhân công Trung Quốc, mức lương hiện tại phải trả đã cao gấp đôi so với thời điểm 5 năm trước. Để ứng phó với đà tăng chóng mặt của tỷ giá đồng NDT, ông Hayes cho biết, công ty đang nhanh chóng xúc tiến mô hình sản xuất tự động hóa, tinh giảm nhân công. Tuy chi phí đầu tư cho máy móc khá đắt, song có thể tiêu hao được lao động thủ công. Vì vậy, tự động hóa là biện pháp hợp lý nhất để cắt giảm chi phí cho nhân công.

Mặt khác, trong thời gian gần đây, việc đồng NDT tăng giá so với USD, cùng với việc mức lương của người lao động tăng, lạm phát leo thang ở Trung Quốc, đang bắt đầu đẩy các ngành công nghiệp xuất khẩu cơ bản di chuyển khỏi Trung Quốc. Các doanh nghiệp đang chuyển sang những nước có chi phí thấp hơn và tỷ giá hối đoái không đe dọa tới khả năng xuất khẩu.

Hai chuyên gia nhấn mạnh, nghiên cứu này sẽ được IMF công bố vào trung tuần tháng 7 này. Do vậy, để tránh những hệ lụy như trên, Chính phủ Trung Quốc chắc chắn sẽ áp dụng mọi biện pháp hiệu quả nhằm kìm hãm đà tăng quá nhanh của đồng NDT.

Các chuyên gia kinh tế Trung Quốc cũng nhận định, đồng NDT sẽ tăng giá từ từ trong hai hoặc ba năm nữa, trong khi đó ngân hàng Trung ương Trung Quốc sẽ sử dụng các biện pháp định lượng để kiểm soát lạm phát chứ không phải là lãi suất. Bởi nếu như tăng lãi suất thì sẽ làm nới rộng khoảng cách giữa lãi suất tại Trung Quốc và lãi suất tại Mỹ. Như vậy, sẽ kéo theo những dòng vốn không được hoan nghênh.

Một chuyên gia thị trường tại ngân hàng Quảng Châu nhận xét: “Mức tỷ giá mà Ngân hàng Trung ương đưa ra đúng với dự báo của thị trường. Tuy nhiên, tôi nghĩ đồng NDT khó có thể lên mức 6,47 NDT/USD bởi áp lực nâng giá từ phía quốc tế không cao”.

Mai Anh

Nếu Việt Nam và Trung Quốc ngừng buôn bán

Trung Quốc cung cấp hơn 60% nguyên liệu và thiết bị máy móc giá rẻ để Việt Nam phát triển xuất khẩu trong những năm vừa qua. Điều gì xảy ra nếu hai bên giảm buôn bán với nhau.

AFP photo

Một trung tâm thương mại của Trung Quốc xây dựng ở cửa khẩu Tân Thanh thuộc biên giới phía Bắc của tỉnh Lạng Sơn tháng 02/2009.

VN cần thận trọng

Trong kịch bản xấu nhất về tranh chấp chủ quyền biển đảo, giả thiết quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam Trung Quốc xấu đi. Hai bên hạn chế buôn bán với nhau thì điều gì xảy đến cho nền kinh tế Việt Nam.

TS Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội nhận định:

“Tôi nghĩ rằng, đấy là một trong những kịch bản mà chúng ta phải xem xét. Bởi vì đối với người Trung Quốc, không thể lường được những gì mà họ đã làm. Cần nhìn rõ những gì người Trung Quốc làm đối với bản thân người Trung Quốc, đối với nhà lãnh đạo Trung Quốc như ông Lưu Thiếu Kỳ (*) thì có thể hình dung điều người Trung Quốc đối xử với người khác. Tôi nghĩ rằng, người Trung Quốc có thể cho melamin vào sữa đầu độc trẻ em Trung Quốc, thì chúng ta có lý do phải suy nghĩ về sự an toàn của nền kinh tế Việt Nam.

Nhưng tôi nghĩ rằng, Trung Quốc cũng phải cân nhắc vì nếu họ làm như vậy thì Trung Quốc cũng chịu thiệt hại không chỉ riêng Việt Nam chịu thiệt hại. Trung Quốc sẽ phải suy nghĩ rất kỹ bởi vì hiện nay nếu Trung Quốc vẫn cứ hành xử như vậy thì Trung Quốc sẽ ngày càng bị cô lập, vị thế của Trung Quốc trên trường thế giới đang được xem xét dưới ánh sáng phê phán và hoài nghi.

Song hiện nay theo chúng tôi quan sát, chủ nghĩa dân tộc đại Hán và chủ nghĩa bá quyền ở Trung Quốc đang chiếm ưu thế. Kinh nghiệm cho thấy nếu như nền kinh tế xã hội Trung Quốc gặp khó khăn thì họ sẽ đẩy cái khó khăn đó ra bên ngoài, họ kiếm một chuyện gì đó để gây sự rồi kêu gọi sự thống nhất của cả nước. Trong trường hợp đó, rất có thể Việt Nam sẽ là một con bài mà Trung Quốc sử dụng.”

Theo nhận định của TS Lê Đăng Doanh tại cuộc tọa đàm hồi trung tuần tháng 6 ở Hà Nội, cơ cấu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam Trung Quốc là điển hình cho cơ cấu bất bình đẳng của nước phát triển mạnh ở phương Bắc với một nước chậm phát triển hơn ở phương Nam. Nhập siêu từ Trung Quốc năm 2010 lên tới 12,7 tỷ USD cao hơn tổng nhập siêu của Việt Nam với các nước khác cùng năm. Có thể nhìn thấy sự phụ thuộc vào Trung Quốc qua tình trạng nhập siêu. Giả dụ Việt Nam mua hàng của Trung Quốc và thanh toán bằng nhân dân tệ, thì thêm phần phụ thuộc tài chánh. Đây là một viễn cảnh kinh tế không hề đơn giản cho Việt Nam.

Cùng câu hỏi, điều gì xảy đến cho nền kinh tế Việt Nam giả sử Trung Quốc và Việt Nam ngừng hoặc giảm quan hệ kinh tế thương mại do tranh chấp Biển Đông. Chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn ở TP.HCM có cách nhìn khác:

“Tôi không tin sẽ đi tới mức độ đó, tuy nhiên trong trường hợp có suy giảm đi nữa thì trong quan hệ của Việt Nam với phần còn lại của thế giới chẳng hạn, tôi nghĩ rằng nó sẽ không có ảnh hưởng gì lắm. Với tư cách là thành viên của WTO thì Việt Nam vẫn có thể mở rộng các mối quan hệ với những nước khác với những cường quốc kinh tế khác, tìm được những nguồn cung cấp thiết bị máy móc nguyên vật liệu cho mình, cũng như tìm được thị trường xuất khẩu cho mình. Tuy nhiên đây vẫn là một chữ ‘Nếu’ rất lớn, tôi cho rằng những mâu thuẫn sẽ được dàn xếp. Ai cũng mong muốn mọi chuyện sẽ tốt đẹp hỗ trợ cho sự phát triển hơn là làm tổn hại.”

Lệ thuộc quá nhiều vào TQ

000_Hkg2105338-250.jpg
Một tiệm bán vật dụng gia đình ở Lạng Sơn trưng bày toàn hàng Trung Quốc. AFP photo

Được biết, năm 2011 ngành dệt may Việt Nam dự kiến kim ngạch xuất khẩu 13 tỷ USD, da giày khoảng 5 tỷ USD. Nhưng để đạt mức xuất khẩu như thế dệt may và da giày Việt Nam lệ thuộc 80% nguồn cung cấp nguyên vật liệu giá rẻ từ TQ. Điều gì sẽ xảy ra cho ngành dệt may da giày khi mất nguồn cung cấp nguyên vật liệu từ Trung Quốc, ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch hội dệt may thêu đan TP.HCM cũng là Phó chủ tịch Hiệp hội da giày Việt Nam phát biểu:

“Cố gắng đừng để tình huống đó xảy ra, tôi cho rằng quan hệ về mặt kinh tế phải gắn với những mối quan hệ khác, cụ thể là quan hệ chính trị. Lệ thuộc vào một quốc gia nào đó hay một nhà cung cấp nào đó, nếu vì lý do nào đó họ không tiếp tục cung cấp thì sẽ gặp khó.

Hầu hết nguyên phụ liệu và thiết bị đều nhập từ Trung Quốc, sở dĩ nhập như vậy vì giá rẻ, giá thành thấp, những nguyên vật liệu đó kể cả máy móc phù hợp cho thị trường cấp trung và cấp thấp. Lâu dài có thể chuyển dần từ sản phẩm cấp thấp lên trung và từ trung lên cấp cao thì có thể nhập nguyên phụ liệu từ Hàn Quốc, Đài Loan….như vậy có thể giải bài toán phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu Trung Quốc.”

Kinh nghiệm cho thấy nếu như nền kinh tế xã hội Trung Quốc gặp khó khăn thì họ sẽ đẩy cái khó khăn đó ra bên ngoài. Trong trường hợp đó, rất có thể Việt Nam sẽ là một con bài mà Trung Quốc sử dụng.

TS Lê Đăng Doanh

Năm 2010, lượng hàng hóa, thiết bị máy móc mà Việt nam mua của Trung Quốc lên tới 19 tỷ USD trong khi xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Trung Quốc chỉ  đạt 6,4 tỷ USD.  Một mình Trung Quốc cung cấp tới 1/4 nguyên liệu đầu vào cho nền kinh tế Việt Nam trong khi Việt Nam trao đổi thương mại với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Nhiều chuyên gia cho rằng giảm thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam nên bắt đầu từ mối nguy Trung Quốc là vì vậy.

(*Lưu Thiếu Kỳ nguyên chủ tịch Trung Quốc, Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc nạn nhân cuộc cách mạng văn hóa, chết năm 1969 trong khi bị giam giữ)

Cần sớm thoát khỏi sự lệ thuộc về kinh tế

Đồ chơi trẻ em xuất xứ từ Trung Quốc trên thị trường. Ảnh T.T.D

Đang lúc chúng ta phải đối phó với những âm mưu của Trung Quốc trên biển Đông qua các hành vi bắt giữ tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế, xâm phạm chủ quyền lãnh hải nước ta và những đòi hỏi vô lý trong tranh chấp, thì cũng đừng quên một áp lực khác mà chúng ta đang phải gánh chịu, đó là sự lệ thuộc quá nhiều trong làm ăn với Trung Quốc.

Biểu hiện cụ thể là tình hình nhập siêu ngày càng nặng nề với nước láng giềng này đang là bài toán khó.

Nhập siêu của Việt Nam và Trung Quốc đã tăng liên tục kể từ khi hiệp định tự do mậu dịch ASEAN-Trung Quốc có hiệu lực ngày 1/7/2005. Những năm gần đây mức nhập siêu này đã tăng rất nhanh từ 2,67 tỉ USD năm 2005 vọt lên tới 12,7 tỉ USD năm 2010, tức là gần gấp năm lần. Con số này khiến chúng ta bức xúc hơn khi 10 năm trước, tức vào năm 2000, thặng dư thương mại của Việt Nam với Trung Quốc là 130 triệu USD.

Theo các số liệu do Tổng cục Thống kê công bố, chỉ trong năm tháng đầu năm 2011 mức nhập siêu của Việt Nam đã lên tới khoảng 6,5 tỉ USD mà trong đó phần lớn vẫn là nhập siêu từ Trung Quốc (nhưng đáng tiếc là không thấy cơ quan này công bố số liệu cụ thể).

Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc Trường đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) trong một báo cáo công bố gần đây đã cho rằng, mức độ thâm nhập kinh tế của Trung Quốc vào nước ta đang ngày càng tăng trong đa số các sản phẩm, từ máy móc, thiết bị đến hàng tiêu dùng. Theo đó các ngành sản xuất Trung Quốc thâm nhập nhiều nhất hiện nay tập trung vào một số lĩnh vực như điện lực, dầu khí, cơ khí, luyện kim, khai khoáng, hóa chất.

Góp phần lớn nhất vào tình hình này xuất phát từ hàng loạt gói thầu các công ty Trung Quốc giành được với rất nhiều hợp đồng EPC (Engineering, procurement and construction – Thiết kế, mua sắm và xây dựng). Loại hợp đồng nói trên thường được thực hiện trong lĩnh vực xây dựng các nhà máy điện (của Tập đoàn Điện lực VN), mỏ (như bauxit Tân Rai, Nhân Cơ, đồng của Tập đoàn Than Khoáng sản VN-TKV), hóa chất (phân đạm Hà Bắc), giao thông (như xây dựng, cải tạo đường sá ở TP. Hồ Chí Minh, đường sắt trên cao ở Hà Nội)…, qua đó các công ty Trung Quốc nhập từ máy móc, thiết bị, vật liệu, đến sắt thép và thậm chí cả nhân công vào VN. Điều này càng bộc lộ sự yếu kém của các tập đoàn kinh tế nhà nước trong vai trò chủ đạo nhưng thường buông bỏ trận địa chính mà đầu tư vào lĩnh vực ngoài ngành nghề.

Theo phân tích của VEPR thì chính sách thương mại và công nghiệp của Việt Nam chưa phát huy được tác dụng trước làn sóng hàng Trung Quốc đa dạng và giá rẻ. Việt Nam cũng thiếu vắng những hàng rào kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Không những thế, Trung Quốc lại biết tận dụng lợi thế của các thỏa thuận thương mại khu vực.

Trong khi đó, hàng hóa của Việt Nam không có khả năng cạnh tranh về giá cả lẫn chất lượng nên khó thâm nhập thị trường Trung Quốc. Lâu nay, nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc là khoáng sản và nông lâm thủy sản với số lượng nhỏ, giá cả bấp bênh và tình hình này hiện vẫn chưa có gì thay đổi.

Có thể thấy nguyên nhân sâu xa của căn bệnh nhập siêu lớn với Trung Quốc là từ chính sách phát triển và cơ cấu nền kinh tế, cho nên việc giảm nhập siêu với Trung Quốc là vấn đề nan giải mà chủ yếu vẫn là phải sớm thay đổi cơ cấu nền kinh tế, cải tổ hoạt động của khu vực quốc doanh nói riêng để nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung.

Bài toán nhập siêu từ Trung Quốc, theo tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, Giám đốc VEPR, cần có các giải pháp đồng bộ không chỉ về chính sách thương mại mà cả về chính sách đầu tư, chính sách công nghiệp trong cơ chế chọn nhà thầu.

Ai cũng biết nhập khẩu công nghệ, thiết bị là nhằm phục vụ cho sản xuất, xuất khẩu và tiêu dùng. Muốn thỏa mãn yêu cầu này thì chúng ta phải nhập khẩu đủ lượng nguyên phụ liệu sản xuất tương ứng. Và trong việc nhập khẩu nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất thì Việt Nam nhập nhiều từ Trung Quốc vì giá cả, chất lượng nguyên liệu của Trung Quốc tương đối hợp lý, chưa kể Trung Quốc cũng là thị trường gần, chi phí vận tải thấp. Thế nhưng thực tế cho thấy, nhập siêu từ nước láng giềng đang ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhập siêu của Việt Nam đã đến mức báo động.

Trong năm nhóm hàng mà Việt Nam nhập nhiều nhất gồm thiết bị máy móc phụ tùng, xăng dầu, sắt thép, phân bón, nguyên phụ liệu dệt may thì Trung Quốc đều có tên ở năm vị trí đầu. Các số liệu thống kê cho thấy, trong năm 2010 chúng ta nhập từ Trung Quốc tới 56% sắt thép, 40% phân bón, 70% nguyên phụ liệu dệt may, 37% vải, 17,7% xăng dầu, 27% phụ tùng, máy móc, thiết bị, 28% máy tính, linh kiện…

Nếu nguồn cung này biến động theo chiều hướng xấu thì ngay lập tức không chỉ thị trường nội địa mà cả kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ và EU cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Rõ ràng danh mục hàng hóa mà Việt Nam phụ thuộc Trung Quốc ngày càng trở nên nhạy cảm hơn và có mối ràng buộc sâu sắc tới huyết mạch của kinh tế.

Báo chí trong nước trích lời tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, Việt Nam đóng vai trò chuyên trách cung cấp nguyên, nhiên liệu và nông sản thô cho Trung Quốc, còn Trung Quốc thì xuất khẩu sản phẩm công nghiệp công nghệ thấp và trung bình cho Việt Nam với khối lượng lớn vượt trội.

Với cục diện như vậy, nếu không có sự quyết liệt và cải cách chiến lược xuất nhập khẩu sớm, chúng ta không những lún sâu vào nhập siêu với Trung Quốc mà còn phải trả giá đắt nếu nhập siêu đó là không an toàn, không chất lượng.

Để giảm nhập siêu từ Trung Quốc trong thời gian tới, ý kiến được đưa ra trong nhiều cuộc hội thảo cho rằng có hai hướng giải pháp cần thiết. Thứ nhất, phải tăng cường xuất khẩu với tốc độ xuất khẩu cao hơn tốc độ tăng của nhập khẩu để dần thu hẹp nhập siêu. Thứ hai, cần phải đẩy mạnh đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ và sản xuất nguyên liệu hỗ trợ. Bộ Công Thương vừa trình Chính phủ phê duyệt đề án khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó, Việt Nam kêu gọi các doanh nghiệp ở nước phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản… đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam.

Nhưng quan trọng hơn cả là Chính phủ cần có chủ trương ở tầm vĩ mô trong bối cảnh địa chính trị hiện nay để đưa nền kinh tế giảm bớt sự lệ thuộc vào người láng giềng phương Bắc. Kinh nghiệm của nhiều nước đã và đang lệ thuộc từ đồng vốn đến kỹ thuật của Trung Quốc là bài học đáng cho chúng ta suy ngẫm. Sẽ khó khăn giữ được độc lập về chính trị khi không có được độc lập về kinh tế. Chính vì vậy việc sớm thoát khỏi sự lệ thuộc kinh tế phải được đặt ra ngay từ bây giờ, dù quá muộn còn hơn không.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010 Việt Nam nhập từ Trung Quốc 20,02 tỉ USD hàng hóa, trong đó các mặt hàng chính gồm: máy móc thiết bị, phụ tùng (22,37%); bông, vải, sợi, nguyên phụ liệu dệt may, da giày (15,64%); sắt thép, sản phẩm từ sắt thép, kim loại (11,39%); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (8,41%); xăng dầu, khí hóa lỏng, sản phẩm từ dầu mỏ (6,97%); hóa chất, sản phẩm hóa chất (4,56%); chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm (2,9%); phân bón, thuốc trừ sâu (2,25%).

Nhập khẩu nguyên liệu, bán thành phẩm để tiêu thụ hay sản xuất các mặt hàng tiêu thụ trong nước (thay thế hàng nhập khẩu) cũng chiếm tỷ lệ đáng kể (điện tử, máy tính, xăng, phân bón, thuốc trừ sâu)

– Giai đoạn 1996-2000, tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 5,4% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam.

– Giai đoạn 2001-2005, tỷ trọng này đã tăng lên 13,4%.

– Năm 2008 tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 19,8% tổng kim ngạch.

– Năm 2009 tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc tăng lên 25%.

– Năm 2010, Việt Nam chi 19,1 tỉ USD để mua hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, trong khi xuất khẩu đối ứng 6,4 tỉ USD.

– Năm 2000, Việt Nam đạt thặng dư thương mại với Trung Quốc 135 triệu USD.

– Năm 2001, thâm hụt trong cán cân thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc 200 triệu USD.

– Năm 2007, nhập siêu từ Trung Quốc của Việt Nam là 9,145 tỉ USD.

– Năm 2008, con số này là 11,16 tỉ USD.

– Năm 2009, tăng lên 11,532 tỉ USD.

– Năm 2010, nhập siêu từ Trung Quốc lên đến 12,7 tỉ USD.

– Năm 2011 dự kiến tăng lên 17 tỉ USD.

Nguồn: Thống kê tổng hợp

Posted in: Kinh Tế