Trường kỳ xuống đường- Sách lược đúng đắn đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa

Posted on July 11, 2011

0



I. Mở đầu.

Trong lịch sử hiện đại của Việt Nam, từ 1970 đến nay, Trung Quốc đã hơn 2 lần nổ súng, dùng vũ lực chiếm biển, đảo của Việt nam.

Đó là năm 1974, chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và từ năm 1988 tới nay, chiếm 9 đảo của Việt nam ở Trường Sa.

Hiện nay, Trung Quốc ngang ngược gộp các đảo của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam của Trung Quốc.

Ngang ngược cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên vùng biển mà tổ tiên Việt nam của họ vẫn đánh cá.

Ngang ngược coi Hoàng Sa, Trường sa là tâm điểm “đường lưỡi bò trung quốc” trên Biển Đông, là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc trên Biển Đông.

Gần đây nhất, trong các ngày 26/5 và 9/6/2011, Trung Quốc ngang ngược vào sâu lãnh hải 200 trăm hải lý Việt Nam, cắt cáp tầu Bình minh 2, tầu VIKING II, khi 2 tầu này đang thăm dò khoáng sản.

Chính phủ Trung Quốc ngày 29/5/2011, tuyên bố vô lý rằng các điểm xẩy ra 2 vụ cắt cáp là thuộc hải phận Trung Quốc.

Cảm giác của người dân Việt Nam là tức giận, bất bình, và không đồng ý với sự bất lực của chính phủ Việt Nam.

Không lẽ cứ Trung Quốc ra tay ăn cướp, là Việt Nam phải chịu mất đất, mất biển.

Đâu là đạo lý, đâu là chính nghĩa của thế giới này?

Không lẽ nếu ngày mai, Trung Quốc lại nổ súng, dùng chiến tranh chiếm nốt các đảo của Việt Nam tại Trường Sa, Việt Nam cũng chịu mất, như cho tới hôm nay, đang chịu mất Hoàng Sa hay sao?

Không lẽ ngày mai, Trung Quốc cấm tầu, thuyền Việt Nam hoạt động trong lãnh hải của Việt Nam, Việt Nam cũng phải nín nhịn ?

Tìm một sách lược đấu tranh đúng đắn để đòi lại Hoàng Sa, đòi lại 9 đảo đã mất tại Trường Sa, bảo vệ hữu hiệu các đảo còn lại đang thuộc chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của chính trị Việt Nam, của cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

II. Một vài phân tích cuộc chiến Trường Sa 1988.

Trước hết, ta bác bỏ các ảo tưởng cho rằng: Nếu cho Hoa Kỳ, hay Nga vào cảng Cam Ranh thì Trung Quốc sẽ không dám động đến các đảo của Việt Nam ở Trường Sa nữa.

Đây là một suy nghĩ sai lầm.

Năm 1974, khi hạm đội 7 của Hoa Kỳ đang hiện diện ở Thái Bình Dương, Trung quốc vẫn đánh, chiếm Hoàng Sa.

Năm 1988, tại cảng Cam Ranh vẫn có mặt các thuyền chiến của Liên Xô, hiệp ước an ninh Việt Nam-Liên Xô đang có hiệu lực. Trung Quốc vẫn đánh chiếm 6 đảo của Việt Nam tại Trường Sa.

Ở đây ta cũng khẳng định rằng, việc Trung Quốc năm 1988 chỉ chiếm 6 đảo của Trường Sa thôi, mà không chiếm toàn bộ Trường Sa, chính nhờ sự hiện diện của Liên Xô ở Cam Ranh, nhờ hiệp ước an ninh Việt-Xô.

Chính là Trung Quốc sợ Việt Nam chống cự quyết liệt, không chịu mất một li, một đảo nhỏ, sợ Việt Nam thổi bùng ngọn lửa yêu nước, quyết chiến đến cùng và Liên Xô hưởng ứng, Trung Quốc đã dừng lại. Họ  chỉ chiếm 6 hòn đảo, cho rằng  đây là giới hạn để Việt nam sẽ không phản ứng mạnh. Trung Quốc đã tính đúng.

Ở đây, ta phê phán mạnh mẽ nước cờ sai lầm này của chính quyền Việt Nam. Phê phán ở đây nhằm rút kinh nghiệm cho tương lai.

Trước hết Trung Quốc là kẻ cướp và Việt Nam là nước bị cướp.

Một bên là phi nghĩa và một bên là chính nghĩa.

Bị cướp mà không la làng, không đánh động cho dư luận thế giới biết chính nghĩa của mình.

Bị cướp mà không đánh động cho dư luận nhân dân Việt Nam biết hành động ăn cướp của Trung Quốc, thì đây là một hành động cực kỳ khó hiểu của nhà nước cộng sản Việt Nam.

Thay vì cho nhân dân Việt Nam biết sự thật nghiêm trọng, Trung Quốc xâm lăng 6 đảo Trường Sa, chính quyền Việt Nam chỉ phản ứng lấy lệ.

Họ như muốn ỉm sự việc hệ trọng quốc gia này trước dư luận nhân dân Việt Nam.

Họ như chỉ muốn giải quyết vụ việc này với Trung Quốc trong bóng tối dư luận.

Chính nắm được điểm yếu này của Việt Nam mà Trung Quốc luôn lấn tới trong kế hoạch bành trướng của họ ở Biển Đông.

Đến nay thì Trung Quốc ngang nhiên cho Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc.

Nếu năm 1988, Việt nam phản kích mạnh lại Trung Quốc, đánh chiếm trở lại tất cả các đảo thuộc Trường Sa, đánh chiếm trở lại cả quần đảo Hoàng Sa.

Sau đó, trường hợp Trung Quốc mở rộng chiến tranh, kêu gọi đại đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm, kêu gọi Liên Xô giúp đỡ, thì ngày hôm nay, ta đã có một cục diện khác.

Khi kẻ cướp vào nhà, lẽ thường chúng chỉ đáng sợ khi chủ nhà không có khả năng chống trả. Nếu Việt Nam chống trả quyết liệt, nếu Việt Nam có sức dáng trả lại những đòn mạnh mẽ, chắc chắn Trung Quốc sẽ phải rút lui.

Chúng không có chính nghĩa.

Càng đánh lâu, phi nghĩa càng bị phơi bầy trước thế giới.

Càng đánh lâu càng bị thế giới lên án.

Tôi khẳng định rằng nếu Việt Nam đã tiến hành cuộc hải chiến năm 1988 nhằm dành lại toàn bộ Hoàng Sa, Trường Sa thì cuộc hải chiến trong lý thuyết này, giá phải trả là nhỏ gấp nhiều lần một cuộc hải chiến nếu ngày hôm nay phải tiến hành.

Khi đó hải quân Trung quốc còn thô sơ hơn bây giờ.

Khi đó kinh tế Trung Quốc còn nhỏ bé hơn bây giờ.

Khi đó quyết tâm bành trướng Trung Quốc còn chưa bị kinh tế dầu hỏa thúc ép như bây giờ.

Nếu được như vậy, ngày hôm nay, Hoàng Sa, Trường Sa vẫn là máu thịt trong cơ thể tổ quốc Việt Nam.

Ngày hôm nay, Việt Nam đang tự do khai thác 2 quần đảo có nhiều dầu hỏa, khoáng sản, mà Trung Quốc không dám vẽ “đường lưỡi bò,” hay nói về chủ quyền “cốt lõi” của họ ở Biển Đông nữa.

Với trữ lượng dầu hỏa, khí đốt gần 2000 tỉ  đô la, tương lai của tổ quốc Việt Nam là tươi sáng.

Bài học rút ra từ đây : Không được sợ Trung Quốc.

Không được nhượng cho Trung Quốc dù một li nhỏ đất đai, biển đảo của tổ tiên.

Có chỗ bám, họ sẽ trăm phương, ngàn kế để thực hiện bành trướng.

Trung Quốc sẽ gây cho Việt Nam những hệ lụy to lớn như hiện nay: Việt Nam đang phải đối mặt với chiến tranh.

Sở dĩ Trung Quốc dám hải chiến chiếm Hoàng Sa 1974 là có 2 lý do:

+ Hoa Kỳ đã ra tín hiệu là sẽ rời bỏ Việt Nam Cộng Hòa, rời bỏ cuộc chiến tranh đẫm máu với Việt Nam.

+ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đang nhận viện trợ của Trung Quốc, sẽ không đứng cùng Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Hoàng Sa.

Sở dĩ Trung Quốc dám hải chiến chiếm 6 đảo tại Trường Sa của Việt Nam năm 1988 là vì họ biết Việt Nam đã kiệt sức, mệt mỏi vì cuộc chiến thầm lặng biên giới phía bắc do Trung Quốc tiến hành từ 1984. Họ biết Việt Nam sẵn sàng bỏ qua việc mất 6 đảo, để đổi lấy chính sách gọi là “hữu nghị” từ Trung Quốc.

Bài học rút ra ở đây là: Không được bưng bít thông tin trước nhân dân Việt Nam. Có nhân dân ủng hộ, Việt Nam sẽ vượt qua được những khó khăn của cuộc chiến chống bành trướng Trung Quốc.

Như vậy chiến tranh, hay không chiến tranh với Trung Quốc,  phụ thuộc phần chính vào quyết tâm của Việt Nam.

Quyết định không phải ở Hoa Kỳ hay nước Nga.

Hoa kỳ và nước Nga sẽ bó tay, nếu bản thân lãnh đạo Việt Nam không quyết tâm, không muốn chiến đấu bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của mình.

Việt Nam đã hài lòng với việc chỉ mất đi 6 hòn đảo nhỏ, mà không tính đến những hệ lụy của việc để cho Trung Quốc bám trụ vững trãi ở Trường Sa .

Những hệ lụy đó đã thể hiện rõ ràng trong những ngày hôm nay.

Trước khi chiếm thêm 6 hòn đảo năm 1988, ở Trường Sa Trung Quốc chỉ có 1 hòn đảo do Tưởng Giới Thạch chiếm đóng mập mờ theo lệnh đồng minh: giải giáp quân đội Nhật Bản năm 1946.

Ở hòn đảo này, trước thế giới, Trung Quốc vẫn chỉ là “khách không mời mà đến”.

Chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa đã được Việt Nam liên tục khẳng định từ các triều đại phong kiến xa xưa, đến thời thuộc địa thuộc Pháp. Gần đây nhất, 1951 tại Hội nghị San Francisco có 51 quốc gia tham dự, Thủ tướng Việt nam Trần Văn Hữu tuyên bố: “Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa “/ TheoVietBao 25.05.2002/.

Ngày hôm nay, họ đã có 9 hòn đảo tại Trường Sa.

Ngày hôm nay, họ lại vẽ nên “đường lưỡi bò trung quốc”. Đã coi nó là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc trên Biển Đông.

Trung Quốc đang ngang ngược coi những phần mà “đường lưỡi bò” giao thoa với hải phận 200 hải lý, tính từ bờ biển của Việt Nam là của Trung Quốc. ( Địa điểm họ cắt cáp tầu Bình minh2, hay VIKING II).

Lòng tham không dừng lại, hay khẩu vị tăng lên trong bữa ăn: Trung Quốc đang muốn chiếm thêm hải phận 200 hải lý của Việt Nam.

Trung Quốc đang dọa gây chiến tranh với Việt Nam như luận điệu của trang Hoàn cầu, phụ trang của Đảng Cộng Sản Trung Quốc tuyên truyền.

Các hệ lụy này đã có thể không có, nếu Việt nam đã được một đảng có tính dân tộc cao lãnh đạo, nếu Việt Nam đã là dân chủ, đa đảng phái, đã có đảng đối lập.

III. Đảng cộng sản Việt Nam xa rời truyền thống yêu nước dân tộc.

Đảng cộng sản Việt Nam do đã nhận quá nhiều “viện trợ quốc tế vô sản vô tư”, do lệ thuộc vào ý thức hệ giai cấp của chủ nghĩa cộng sản, lấy đoàn kết hữu ái giai cấp đặt trên quyền lợi quốc gia dân tộc, đã quên đấu tranh không khoan nhượng với bành trướng Trung Quốc.

Đảng cộng sản Việt Nam đã quên khí phách của tổ tiên Việt Nam từ Lý Thường Kiệt  ”Nam Quốc Sơn Hà Nam Để cư”, Trần Thủ Độ :” Nếu Bệ Hạ muốn hàng thì trước hết hãy chém đầu thần đi đã” đến vua Quang Trung Nguyễn Huệ  ”Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ (đánh cho biết rằng nước Nam anh hùng và có chủ)”  trong chống Thanh thế kỷ XVIII,.  Họ đã quên di chúc dặn dò tâm huyết vua Trần Nhân Tông :

“Cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhủ này như là một lời di chúc cho muôn đời con cháu về sau”.

Họ cũng quên lệnh của  Hoàng Đế Lê Thánh Tông năm 1473  ”Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại vứt bỏ… Kẻ nào dám đem một thước núi, một tấc đất, một tấc sông, một tấc biển của vua Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di”.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhận Trung quốc bành trướng làm người anh cả đỏ.

Đảng Cộng Sản Việt Nam là hậu duệ bất hiếu của tổ tiên Việt Nam.

Thất bại trong việc để Trung Quốc gây nên vấn đề chủ quyền Hoàng Sa Trường Sa, trong khi Hoàng Sa, Trường Sa đương nhiên là của Việt Nam, thuộc bản chất cộng sản của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Để Trung Quốc dụng kế “phản khách vi chủ” từ công hàm của Phạm Văn Đồng 14/9/1958, sau đó dùng sức mạnh ngang nhiên coi Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc, thể hiện sự yếu kém có tính bản chất.

Nó nằm trong cách hành sử của người theo chủ nghĩa cộng sản : Đặt quyền lợi giai cấp vô sản, quyền lợi của Đảng Cộng Sản lên trên quyền lợi dân tộc Việt nam.

Nó nằm trong nhân sinh quan và thế giới quan của người cộng sản Việt Nam.

Muốn bảo vệ hữu hiệu chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, Đảng cầm quyền ở Việt Nam hiện nay phải từ bỏ Chủ Nghĩa Cộng Sản, phải dân chủ hóa đất nước.

Đây là đòi hỏi của thực tế, của khách quan, của tình hình hiện tại.

Kẻ thù bành trướng đang từng ngày, từng giờ lăm le xâm lấn lãnh hải Việt Nam, tổ quốc Việt Nam.

Tổ quốc Việt Nam do hàng trăm thế hệ người Việt, trải qua hàng nghìn năm liên tục đã không tiếc công sức, không tiếc máu đỏ, khai khẩn, bảo vệ, mà nên hình hài chữ S như ngày này.

Từ Thánh Gióng nhổ tre ngà đánh giặc nhà Ân. Từ An Dương Vương dụng nỏ thần, xây loa thành giữ gìn đất Việt. Từ Hai Bà Trưng : Chị em nặng một lời nguyền, phất cờ nương tử thay quyền tướng quân. Từ Triệu Thị Trinh : Tôi muốn cưỡi một cơn gió mạnh, chém cá tràng, cá kình ở Biển Đông, cho dân Viêt Nam khỏi phải lầm than, đắm đuối. Từ Lý Thường Kiệt : Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm , nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Từ Lê Lợi, Nguyễn Trãi : Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc trẻ tro bay. Từ Nguyễn Huệ Quang Trung : Đánh cho chúng trích luân bất phản, đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn. …Đến các chiến sĩ Điện Biên 56 ngày đêm đánh quân đội viễn chinh Pháp, lập nên chiến công Điện Biên Phủ hào hùng. Đến giải phóng Sài Gòn 30/4/1975.

Tổ quốc Việt Nam không phải chỉ mới sinh ra từ ngày 2/9/1945.

Tổ quốc Việt Nam không phải chỉ do hơn 3 triệu những người cộng sản Việt Nam đấu tranh, xây dựng nên từ năm 1945.

Công sức xương máu của cả dân tộc Việt Nam là vô cùng to lớn, khi họ đi theo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ Tịch Nước Hồ Chí Minh.

Tổ quốc Việt nam không phải là của riêng của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Ba chữ ” sợ Trung Quốc”, hay ” tình anh em” mà Đảng Cộng Sản Việt nam đang theo đuổi, đã gây bao hệ quả nguy ngập mang tính quốc gia.

Để Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa một cách dễ dãi, Đảng Cộng Sản Việt Nam khác nào đã cống và dâng Biển, Đảo của Việt Nam cho Trung Quốc.

Cống và dâng Biển Đảo của tổ tiên để lại, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã không bảo vệ được tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam.

Khi nhà Nguyễn đã nhượng Nam Kỳ cho Pháp, đã đồng ý cho Pháp bảo hộ Bắc Kỳ, Đảng Cộng Sản tố cáo họ là bán nước.

Nay khi Đảng Cộng Sản Việt Nam nhượng Biển Đảo cho Trung Quốc, họ cũng đã bán nước.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bán nước. Bán Biển, Đảo của Việt Nam cho Trung Quốc.

Cống và dâng Biển, Đảo cho Trung Quốc trị giá hàng nghìn tỷ đôla, bao giờ Việt Nam mới xây dựng được đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn ?

Đây thực chất chỉ là một khẩu hiệu mị dân, mà Đảng Cộng Sản Việt Nam không bao giờ có ý định thực hiện .

IV. Điểm yếu của Trung Quốc trong cuộc chiến Hoàng Sa, Trường Sa.

Trung Quốc cộng sản tiến hành cuộc chiến tranh chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa với Việt Nam là do ban đầu thừa hưởng 2 hòn đảo của Trưởng Giới Thạch. Hai hòn đảo này Tưởng Giới Thạch chiếm đóng khi Nhật Bản thua trận, rút lui năm 1945. Trung Quốc  đóng quân trên 2 đảo nhỏ, 1 ở Hoàng Sa, 1 ở Trường Sa năm 1946.

Học bài học quân sự của Nhật Bản, Trung Quốc muốn có hoàn toàn hai quần đảo này vì vị trí chiến lược của nó trên Biển Đông.

Trước Thế giới, họ vẫn chưa có chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa. Họ chỉ là “khách không mời mà đến”.

Thật vậy, chính quyền phong kiến Trung Quốc chưa một lần tuyên bố chủ quyền với 2 quần đảo này.

Ngược lại, chính quyền phong kiến Việt Nam từ vua Gia Long Nguyễn Ánh năm 1916 đã tuyên bố chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo này.

Hai quần đảo này luôn được người Việt Nam khai thác một cách liên tục, hiện diện một cách liên tục từ xa xưa.

Hiện nay Trung Quốc nói họ có chứng cứ lịch sử, mà thực ra chỉ là vài mảnh bát vỡ, gốm trung quốc…

Trung Quốc chưa bao giờ trưng bầy trước thế giới một bằng chứng pháp lý nào thuyết phục hơn.

Bằng chứng thứ 2 mà họ tuyên truyền cho nhân dân trung quốc là bức công hàm của Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng kí ngày 14/9/1958.

Bức công hàm này, thực ra Thủ tướng Việt Nam trả lời việc thừa nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc mà thôi. Chủ quyền của Hoàng Sa, Trường Sa vào thời điểm 1958 là trong tay Việt Nam Cộng Hòa.

Thủ tướng Việt Nam dù có công nhận cho Trung Quốc chủ quyền trên 2 quần đảo này, thì sự công nhận ấy cũng không có giá trị pháp lý.

Tuy vậy ta vẫn lên án ông Thủ tướng này.

Sự mập mờ của ông ta ngày hôm qua, để Trung Quốc lợi dụng ngày hôm nay.

Những gì liên quan đến chủ quyền quốc gia, không thể làm quà biếu anh em cùng ý thức hệ cộng sản được.

Như vậy, thực tế 1958 Trung Quốc không có một tý chủ quyền nào.

Để biến “không thành có”, để biến “khách thành chủ”, Trung Quốc đã dùng sức mạnh hải quân đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974,  đánh chiếm 6 đảo của Trường Sa năm 1988.

Phải sử dụng đến sức mạnh quân sự, phải chiếm đoạt Hoàng Sa, Trường Sa bằng vũ lực là phi nghĩa.

Đây là điểm yếu nhất của Trung Quốc.

Không có chủ quyền trong lịch sử, không có chủ quyền thời hiện đại, Trung Quốc chỉ là một tên hàng xóm tham lam ăn cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam mà thôi.

V. Sách lược một Việt Nam yếu của Trung Quốc.

Ta đặt thêm câu hỏi: Tại sao Trung Quốc lại muối mặt trước dư luận thế giới, ăn cướp của Việt Nam bất chấp lẽ phải , trong khi họ đang muốn quét sơn bộ mặt “Trung Quốc trỗi dậy một cách hòa bình”?

Trả lời câu hỏi này, phải nói đến tính quỵ lụy của Đảng Cộng Sản Việt Nam trước Đảng Cộng Sản Trung Quốc, khi đi xin “viện trợ quốc tế vô sản” nhằm đẩy mạnh chiến tranh với Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam-Hoa kỳ 1954-1975.

Chính sự ấu trĩ của Đảng Cộng Sản Việt Nam về Chủ Nghĩa Cộng Sản, đã thúc đẩy Trung Quốc quyết tâm lợi dụng tính ấu trĩ này, quyết tâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, quyết tâm bành trướng ra Biển Đông.

Dưới đây, ta sẽ trả lời câu hỏi trên theo khía cạnh khác. Khía cạnh trung quốc.

Thực ra, Trung Quốc Mao Trạch Đông luôn mong muốn có một Việt Nam yếu ớt bên cạnh biên giới phía nam cửa họ.

Đặng Tiểu Bình đã có lần trả lời thẳng Lê Thanh Nghị đại ý là: Trung Quốc không có nghĩa vụ gì phải giúp Việt Nam đánh Mỹ trong khi người Trung Quốc còn đói. Các binh lính Trung Quốc trong cuộc Trường Chinh đã phải cắt cả giầy da để ăn.

Nhưng rồi, theo lệnh của Mao, Đặng vẫn viện trợ cho Việt Nam.

Tại sao vậy?

Vì Trung Quốc dùng viện trợ to lớn ấy để lệ thuộc Việt Nam vào chính sách của mình, để lệ thuộc Việt Nam làm chư hầu của mình.

Điển hình của chính sách này, mà Trung Quốc thành công là Bắc Triều và Cămpuchia của PolPot.

Dùng viện trợ để khuyến khích Việt Nam nội chiến, để Việt Nam yếu ớt.

Năm 1954, bên bàn hội nghị Genève, Chu Ân Lai đã ép Việt Nam ký hiệp định chia 2 Việt Nam.

Giả sử Phạm Văn Đồng không ký hiệp định này, trở về chiến khu Việt Bắc, tiếp tục cuộc kháng chiến, thì nước Việt Nam ta hôm nay đã hòa bình, thịnh vượng.

Có thể do không ký hiệp định Genève, Trung Quốc sẽ không viện trợ cho Việt Nam nữa.

Nhưng đây sẽ là điều may mắn cho dân tộc Việt Nam.

Có thể cuộc chiến tranh với Pháp sẽ kéo dài thêm vài năm nữa, nhưng nếu so sánh với cuộc chiến với Hoa Kỳ sau này, thì giá phải trả là ít hơn nhiều, rất nhiều.

Để Việt Nam yếu ớt, Trung Quốc ngăn cản Việt Nam kết thúc cuộc chiến với Hoa Kỳ. Khi cuộc chiến đã đến hồi kết, họ đã đón tổng thống Mỹ R. Nixon để mặc cả trước, để hớt tay trên của Việt Nam Hoàng Sa.

Trung Quốc đểu cáng đã tiến hành chiến tranh biên giới với Việt Nam năm 1979, khi Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến khốc liệt với Hoa Kỳ mới 4 năm, đang phải tiến hành chiến tranh biên giới phía tây nam với Cămpuchia.

Chỉ riêng điểm này thôi, việc kết nghĩa anh em với Trung Quốc năm 1990 tại Thành Đô đã là một việc đáng lên án trăm lần : nhận thằng đểu giả làm anh.

Như vậy rõ ràng, Trung Quốc không thể để Việt Nam làm chủ 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa giầu có ngoài Biển Đông được.

Hôm nay, các khảo sát địa lý đã có kết quả.

Trữ lượng dầu hỏa, khí đốt của Biển Đông có thể lên đến gần 2000 tỷ đôla.

Nếu Việt Nam làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa thì  Việt Nam sẽ là một quốc gia biển hùng mạnh.

Điều này có nghĩa Trung Quốc đã thất bại trong âm mưu làm yếu Việt Nam.

VI. Cuộc đấu tranh cho chính nghĩa chủ quyền Việt Nam sang trang mới.

Đã gần 53 năm kể từ ngày Phạm Văn Đồng ký công hàm 14/9/1958, chính phủ Việt Nam có đấu tranh cho chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông, song theo hướng chiếu lệ.

Do áp lực của dư luận Việt Nam và thế giới, chính phủ Việt Nam tổ chức được 2 Hội thảo về Biển Đông. Họ cũng cho phép các nhà khoa học Việt Nam tham gia 2 Hội thảo quốc tế về Biển Đông.

Mặc dù chính nghĩa rõ ràng ở phía Việt Nam, Việt Nam chưa làm nó được sáng tỏ.

Thế giới vẫn tai nghe, tai không nghe những luận cứ của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam tranh cãi.

Đây là tình huống bình thường khi nghe chuyện tranh chấp chủ quyền trên thế giới.

Thế nhưng thế giới đã thay đổi thái độ, cách nhìn về tranh chấp Biển Đông này, từ sau ngày 5/6/2011, ngày xuống đường của thanh niên Việt Nam, của nhân dân Việt nam yêu nước phản đối Trung Quốc coi Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc.

Một nước nhỏ chống lại nước lớn vì chính nghĩa sẽ  gây chú ý của truyền thông thế giới.

Một biểu tình yêu nước trong nhà nước độc tài đảng trị, sẽ gây sự chăm chú theo dõi cao hơn của truyền thông thế giới.

Cả ASEAN sôi động, cả Việt Nam sôi động.

Tác động của cuộc xuống đường yêu nước này đã làm thất bại kế hoạch công bố chủ quyền “đường lưỡi bò” ở Biển Đông của Trung Quốc tại hội nghị thượng đỉnh an ninh Châu Á tại Shangri-La.

Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đã phải thay đổi kế hoạch và nói về hòa bình, về sự “trỗi dậy một cách hòa bình” của Trung Quốc, một chủ đề cũ rích.

Những cuộc xuống đường tiếp theo 12/6, 19/6/2011 tại Hà Nội, Sài Gòn, đã được một người hoa kỳ quan trọng theo dõi với nguồn cảm hứng mạnh mẽ.

Người đó là Thượng Nghị Sĩ J. Mc Cain.

Từ ngày 19 đến 21/6/2011, một hội nghị khác :  Hội thảo về An ninh Biển Đông được tổ chức tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ.

Tại hội nghị này, tất cả các thành viên tham dự đã có một đồng thuận mà từ trước tới nay chưa hề có trong các hội nghị, hội thảo thế giới về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Đồng thuận đó xác định nguyên nhân gây căng thẳng trên Biển Đông là do những đòi hỏi chủ quyền vô lý của Trung Quốc về “đường lưỡi bò trung hoa”.

Trong suốt 53 năm qua của cuộc đấu tranh cho chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa, chưa bao giờ chính nghĩa Việt Nam lại sáng tỏ như bây giờ.

Một phát biểu quan trọng có thể làm thay đổi cách nhìn nhận của Hoa Kỳ về Trung Quốc đã được Thượng Nghị Sĩ J.Mc Cain phát biểu ngày 21/6 tại hội thảo này. Vị chính khách từng là ứng cử viên tổng thống cho rằng tình trạng căng thẳng ở Biển Đông  gần đây là do giới lãnh đạo ở Bắc Kinh gây ra và Washington nên gia tăng sự hỗ trợ cho các nước Đông Nam Á để họ có thể ứng phó tốt hơn với tình hình hiện nay.

Ông nói : “Điều làm cho tôi cảm thấy bất bình, và tôi cũng nghĩ rằng điều đó cũng gây bất bình cho nhiều người trong quí vị ở đây, là những tuyên bố đòi chủ quyền có tính chất thái quá của Trung Quốc ở Biển Đông – luận cứ của những đòi hỏi này không hề có cơ sở nào trong luật pháp quốc tế; và những hành động ngày càng hung hãn mà Trung Quốc thực hiện hồi gần đây để khẳng định các quyền mà họ tự cho là của mình, kể cả những hành động ở vùng trong vòng 200 hải lý ngoài khơi các nước ASEAN, như là trường hợp gần đây trong các vụ việc riêng biệt liên quan tới Việt Nam.”

Thượng nghị sĩ J.McCain cũng đề cập tới bản đồ chín vạch — phía Việt Nam thường gọi một cách diễu cợt là đường lưỡi bò, mà Trung Quốc đưa ra để đòi chủ quyền của 80% vùng biển rộng lớn chạy dài từ phía đông của miền bắc Việt Nam cho tới phía bắc của Philippines, và nói thêm rằng những giải thích cụ thể của Trung Quốc về luật pháp quốc tế sẽ làm xói mòn các nguyên tắc lâu dài về tự do hàng hải.

Bên cạnh việc đả kích Trung Quốc, thượng nghị sĩ J.McCain còn kêu gọi Hoa Kỳ nêu rõ lập trường ở Biển Đông và giúp đỡ các nước ASEAN hình thành “một mặt trận thống nhất hơn” để đối phó với Trung Quốc.

Ông cho biết: “Hoa Kỳ nên trợ giúp các đối tác ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp giữa họ với nhau ở Biển Đông, như một cách cổ vũ ASEAN đoàn kết hơn nữa để đương đầu với Trung Quốc. Trung Quốc tìm cách lợi dụng sự chia rẽ giữa các thành viên ASEAN, làm cho họ chống đối nhau, để phục vụ cho mưu đồ của Trung Quốc. Giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các nước ASEAN, như Malaysia và Brunei đã làm hồi gần đây, sẽ cho phép các đối tác của chúng ta hình thành một mặt trận thống nhất hơn.”

Ông J.McCain cũng hối thúc Washington giúp cho các nước Đông Nam Á tăng cường khả năng phòng vệ trên biển. Ông nói:

“Hoa Kỳ cần giúp đỡ các đối tác ASEAN tăng cường sự phòng thủ trên biển và khả năng trinh sát của họ, để phát triển và bố trí các hệ thống phòng thủ hải dương cơ bản như ra đa cảnh báo sớm và các chiến hạm bảo vệ an ninh duyên hải. Việc sửa chữa cho sự thiếu thốn này, cọng với việc tăng cường những cuộc thao dượt chung với chúng ta, sẽ giúp mang lại một tư thế ứng chiến chung và một khả năng đối phó tốt hơn với các mối đe dọa.”

Ông J.McCain cũng thúc giục quốc hội Mỹ quan tâm nhiều hơn tới Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển và đề nghị chính phủ Mỹ bố trí lại các lực lượng quân sự để chú trọng nhiều hơn tới những khu vực cạnh tranh mới trỗi dậy, đặc biệt là Ấn Độ dương và Biển Đông.

Đây là thắng lợi cực kỳ to lớn của phong trào dân chủ Việt Nam, của các cuộc xuống đường đầy hào hùng, tràn ngập lòng yêu nước của Thanh niên Việt Nam, của Nhân dân Việt Nam, của cuộc đấu tranh cho chủ quyền Biển Đảo của Việt Nam trên Biển Đông.

Chưa bao giờ thế giới chứng kiến sự kiện mà những cuộc xuống đường hòa bình có thể thay đổi cách nhìn chính trị của cường quốc số 1 trên thế giới, cường quốc Hoa Kỳ.

Chưa bao giờ thế giới chứng kiến một lập trường muốn đứng ngoài các tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải trên Biển Đông của Hoa Kỳ trước Shangri-La, có thể được thay thế bằng những quan điểm vùa phát biểu trên của Thượng Nghị Sĩ J. Mc Cain.

Hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới , Việt Nam phải hiểu sự không đồng thuận của Hoa Kỳ có hậu quả kinh tế, chính trị, an ninh quốc gia ra sao sau khi Việt Nam đưa quân vào Cămpuchia.

“Sức mạnh mềm” do các cuộc xuống đường của thanh niên, nhân dân Việt Nam tạo ra, đã làm Trung Quốc bị cô lập, mất mặt trên thế giới.

Khi Dương Khiết Trì, Ngoại trưởng Trung Quốc, nói rằng, “Việt Nam mời Hoa Kỳ đến làm trung gian (trong vấn đề biển Đông) là một sự tấn công vào Trung Quốc”. Đây là lời nói huyên thuyên của một kẻ bắt nạt hiếu chiến dùng để đe dọa kẻ yếu. Đây là tên Hitler năm 1935. Đây là tên Stalin1945. Biển Đông không chỉ thuộc về một mình Trung Quốc và thế giới phải bảo đảm rằng, Trung Quốc không bao giờ kiểm soát tất cả các nguồn tài nguyên vào sự đi lại trên vùng biển này. Việc nhân nhượng kẻ bắt nạt hiếu chiến ngày hôm nay, chắc chắn sẽ thiết lập giai đoạn cho một cuộc xung đột vũ trang trong tương lai không xa. Tất cả các nước Đông Nam Á khác đang tích cực tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho tình thế tiến thoái lưỡng nan này, không nên bị sai khiến bởi một nước duy nhất đã bóp méo sự thật lịch sử và sau đó sát hại để bảo vệ sự dối trá của họ”.James Rhodes.

Sức mạnh mềm tạo ra từ lòng yêu nước bất chấp công an cộng sản đàn áp của thanh niên, nhân dân Việt Nam đã giúp thế giới hiểu và bác hoàn toàn, sạch trơn các bằng chứng gọi là lịch sử, được tạo dựng từ vài đồ gốm, mảnh sành…của Trung Quốc về cái gọi là chủ quyền lịch sử của họ ở Biển Đông.

James Rhodes đã viết ngày 08-07-11 trong [viet-studies.info/kinhte/Rhodes_EndChineseTyranny.htm].

Các văn bản cổ Trung Quốc của Ling Zhi Wai Da và Zhu Fan Zhi cho thấy rằng, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có liên quan và là một phần của miền Bắc Việt Nam hiện nay. Thực tế này một lần nữa được lặp đi lặp lại trong các tài liệu hồi thế kỷ 17, một tập bản đồ khu vực năm 1838, và do Pháp, đế quốc phương Tây, thông qua các triều đại nhà Nguyễn năm 1887 và 1933. Có rất nhiều tài liệu tham khảo từ các nguồn khác nhau kết nối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam từ thời cổ đại. Tuy nhiên, vào lúc kết thúc Đệ nhị Thế chiến, Trung Quốc đã cố gắng chiếm đất ở biển Đông, nhưng Tuyên bố Cairo đã hỗ trợ yêu sách về các hòn đảo của Việt Nam. Lập trường này được khẳng định tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản năm 1951.”

Ngay cả bằng chứng họ đưa ra là công hàm của Phạm Văn Đồng 14/9/1958, cũng đã được thế giới hiểu thấu đáo. Như giáo sư Carlyle. A. Thayer cũng cho rằng Phạm Văn Đồng chỉ trả lời về chủ quyền 12 hải lý của Trung Quốc trong một trả lời phỏng vấn cho RFA sau ngày 26/5/2011.

Sức mạnh mềm tạo nên từ lòng yêu nước của thanh niên, nhân dân Việt Nam đã đưa vị thế của Việt Nam  trong cuộc đấu tranh dành chủ quyền Biển Đông lên cao hơn bao giờ hết.

Thế nhưng một lần nữa, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nối giáo cho giặc Trung Quốc.

Cuộc tuần tiễu chung của hải quân Việt Nam ngày 19/06-20/06  với kẻ vừa xâm lấn lãnh hải Việt Nam, với kẻ vừa ngang nhiên tuyên bố lãnh hải 200 hải lý của Việt Nam là của Trung Quốc, đã đưa dư luận thế giới vào điểm bế tắc. Họ muốn ủng hộ Việt Nam, mà Việt Nam khước từ một cách gián tiếp thông qua cuộc tuần hành chung này.

Còn tiến xa hơn nữa, ngày 25/6/2011, ông Hồ Xuân Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, đã có buổi gặp gỡ và làm việc với Ông Trương Chí Quân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc ở Bắc Kinh.

Sau chuyến thăm Trung Quốc này của thứ trưởng Việt Nam, Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc ông Hồng Lỗi, đã phát biểu:

“Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam và nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nvà Việt Nam và nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước ”

“Những hồ sơ lịch sử của Trung Quốc đã cho thấy rằng năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Hoa Nam như là bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc, và kế đó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao ngắn của mình gửi tới Thủ tướng khi đó là ông Chu Ân Lai.”

Rõ ràng chính phủ Việt Nam đã giúp Trung Quốc làm tăng thêm trọng lượng các bằng chứng pháp lý của họ về chủ quyền trên Biển Đông.

Rõ ràng chính phủ Việt Nam đã tự hạ thấp vị thế mà nhân dân Việt Nam đã tạo được sau các cuộc xuống đường yêu nước.

Có phải quan tâm duy nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam là cản trở, phá hoại phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, hơn là dương cao những kết quả mà phong trào yêu nước đã đạt được, góp phần đòi lại chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông trước Trung Quốc ?

Hôm nay, nội dung của chuyến thăm Trung Quốc củ thứ trưởng Hồ Xuân Sơn đã do chính ông ta truyền đạt trên VTV 4:

1. Khẳng định với Trung Quốc tiếp tục đường lối 16 chữ, 4 tốt.

Đây thực chất là đường lối nhận giặc làm cha. Đường lối mở cho Trung dụng các mưu kế tằm ăn rỗi, chiến dần Việt Nam, lệ thuộc dần Việt Nam như binh pháp Trung Quốc đã dậy.

2. Tiếp tục các cuộc thảo luận theo đồng thuận chung.

Đây thực ra là đường lối đi đêm, bịt thông tin cho dư luận đại chúng, của chính phủ Việt Nam.

3. Lãnh đạo dư luận, định hướng dư luận theo đồng thuận chung.

Đây chính là lệnh của Trung Quốc cho chính phủ Việt Nam trả thù những thanh niên Việt Nam yêu nước, trả thù những người dân Việt Nam yêu nước đã tham gia các cuộc xuống đường yêu nước các ngày 5/6, 12/6/, 19/6, 26/6/, 3/7 và 10/7 vừa qua.

Chính phủ Việt Nam đang thực hiện lệnh này một cách sốt sắng. Ngày 10/7 vừa qua, họ đã trấn áp mạnh mẽ cuộc tụ tập chỉ gồm hơn 100 người.

Soi vào lịch sử cuối triều Nguyễn, khi Phan Thanh Giản ký nhượng ước cho Pháp, Trương Công Định đã khởi nghĩa ở Nam Bộ.

Căn cứ vào nội dung của hội đàm Hồ Xuân Sơn, căn cứ vào tình hình khi Hồ Xuân Sơn đồng thuận với Trung Quốc, ta hoàn toàn có thể nói rõ ràng : đừng để khi quá muộn, khi Trung Quốc không cần 1 viên đạn cũng có cả Việt Nam.

Ngày hôm nay, ta phải vạch mặt Hồ Xuân Sơn bán nước, chính phủ Việt Nam khinh thị dân tộc Việt Nam.

VII. Các đối sách với Trung Quốc cho chính nghĩa Việt Nam toàn thắng.

Ở các đoạn viết trên, ta đã phân tích 3 trường hợp:

1. Hội nghị Genève 1954. Nếu Phạm Văn Đồng hiểu rõ mục đích cuối cùng của “viện trợ quốc tế vô sản vô tư” của Trung Quốc, bỏ hội nghị, đoạn tuyệt với CN Cộng Sản. Đoạn tuyệt với Trung Quốc thì đã không có chiến tranh Việt-Mỹ. Như vậy thì Hoàng Sa, Trường Sa cho đến hôm nay vẫn của Việt Nam.

2. Nếu 1988, Việt Nam quyết tâm chiến đấu bảo vệ 6 đảo Trường Sa. Dùng bài học của tướng quân Trần Khánh Dư, quay trở lại quyết chiến, quyết dành đến cùng 6 đảo, khi địch vừa thu được thắng lợi tạm thời, thì hôm nay 9 đảo Trường Sa vẫn của Việt Nam. Thì hôm nay, Trung quốc không có một tí gì trên Trường Sa.

3. Nếu những ngày tháng 6 vừa qua, Việt nam không tuần tiễu chung với hải quân Trung Quốc, thứ trưởng ngoại giao Việt Nam không sang họp kín với Trung Quốc thì hôm nay, Việt Nam đã có chính nghĩa sáng ngời về chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa.

Thì hôm nay, phong trào yêu nước không đảng phái của Việt Nam đã trưởng thành thêm về sức mạnh.

Hôm nay, Trung Quốc đã bị dư luận khắp 5 châu lên án mạnh mẽ.

Hôm nay có thể đã hình thành một mặt trận ASEAN đoàn kết chống bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông..

Như vậy thì kết luận rút ra từ 3 phân tích trên: Đảng Cộng Sản Việt Nam chính là nguyên nhân để Trung Quốc tiến hành bành trướng mạnh mẽ ra Biển Đông.

Đảng Cộng Sản Việt Nam chính là con ngựa thành Troa của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến chủ quyền Biển Đông với Trung Quốc.

Cũng từ 3 thí dụ trên, ta rút ra đối sách cho Việt Nam, chống bá quyền Trung Quốc trên Biển Đông.

1. Phát triển phong trào yêu nước, xuống đường không đảng phái lên một bước mới. Đây là sức mạnh mềm có sức cảm hóa dư luận thế giới cao. Phong trào này nhất định sẽ đoàn kết người Việt Nam thành một khối.

Từ phong trào này sẽ xuất hiện những lãnh tụ yêu nước trẻ của một Việt Nam dân chủ tương lai.

Từ Trưng Trắc, Trưng Nhị tới Trần Phú, Lê Hồng Phong… các lãnh tụ yêu nước Việt Nam đều rất trẻ. Bành trướng ra Biển Đông là quốc sách của Trung Quốc. Họ sẽ không dừng lại sau những thất bại vừa qua. Họ sẽ không để giàn khoan 981 bị dỉ mốc ở bờ biển Trung Quốc.

Sau đồng thuận của thứ trưởng Hồ Xuân Sơn với Trung Quốc, phong trào này cần một bước chuyển mới về chất lượng.

Phải đi vào chiều sâu tổ chức.

Phải bảo vệ mầm non yêu nước quí giá này của dân tộc Việt Nam.

2. Nếu Trung Quốc gây hấn, phải làm cho chúng lộ hết bản chất sảo trá, phải đưa chúng vào bẫy pháp lý thế giới, phải cho thế giới cảm nhận hết các nguy hiểm của bá quyền Trung Quốc.

3. Phải có kế hoạch cương quyết thu hồi hoàn toàn Hoàng Sa, Trường Sa khi Trung Quốc tiếp tục dùng vũ lực.

Giai đoạn hiện nay là giai đoạn Trung Quốc yếu nhất, so với tương lai gần của họ.

Hiện nay Trung Quốc đang có nhiều khó khăn nội bộ.

Những kêu gọi cải cách dân chủ của thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đầu năm 2011 nói lên điều đó.

Nhìn vào các cuộc chiến của Hoa Kỳ ở Việt Nam ,   ở Irăk,  ở Afganistan, ta quả quyết rằng hiện nay, Trung Quốc không dám tiến hành một cuộc chiến tranh tổng lực, lâu dài với Việt Nam.

Lý thuyết của ta là : thà chịu đựng một cuộc chiến tranh nhỏ bây giờ, hơn  một cuộc chiến tranh tàn khốc gấp nghìn lần trong tương lai.

Lý thuyết của ta dựa trên tấm lòng yêu nước của trí thức Việt Nam : tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, lo trước việc sắp tới.

Nếu như Phạm Văn Đồng 1954, lo trước việc nước, trở về chiến khu, từ bỏ Chủ Nghĩa Cộng Sản, thì đã không có chiến tranh với Hoa Kỳ.

Nếu như 1988, hải quân Việt Nam đánh phản công, chiếm lại Hoàng Sa, Trường Sa, thì hôm nay Việt Nam chắc không phải đối mặt với chiến tranh với Trung Quốc. Thì hôm nay Việt Nam đã giầu có, thịnh vượng.

Lý thuyết của ta dựa trên các thắng lợi lịch sử của các triều đại phong kiến Việt Nam bảo vệ thành công biên cương hải đảo Việt Nam.

Đó là Ngô Quyền mưu cao , dàn trận cọc gỗ ở Bạch Đằng chờ thuyền địch chui vào trận hiểm.

Đó là Thập đại tướng quân Lê Hoàn dùng phục binh, chém Hầu Nhân Bảo ở Chi Lăng, đánh đắm thuyền giặc trên sông Bạch Đằng.

Đó là Lý Thường Kiệt chủ động tiêu hao địch, đánh thẳng sang Châu Khâm, Châu Liêm.

Đó là phong thái của Trần Quốc Tuấn trả lời Vua Trần khi lần thứ 3 giặc Nguyên sang xâm lấn nước ta: Năm nay đánh giặc nhàn.

Đó là quyết tâm giải phóng đất nước của Lê Lợi, Nguyễn Trái mặc dù: Khi Linh Sơn, lương không đủ một tuần, khi Khôi Huyện quân không còn đầy một lữ.

Đó là khi vua Quang Trung tuyển quân ở Nghệ An, cho quân lính ăn tết trước và hẹn rằng : ngày mùng 5 sẽ vào Thăng Long ăn tết.

Tổ tiên Việt Nam đã thắng lợi do trước hết đoàn kết được toàn dân, và không sợ quân giặc Trung Quốc.

Việt Nam không có cái may mắn của Thái lan, Thụy Điển.

Việt Nam đã du nhập Chủ Nghĩa Cộng Sản, mối họa diệt tộc của dân tộc Việt Nam.

Trường kỳ xuống đường là sách lược yêu nước đúng đắn của Việt Nam cho cuộc chiến chính nghĩa chủ quyền Biển Đông.

Nguyễn Nghĩa