Thương lắm Việt Nam!

Posted on July 13, 2011

0



Tổ quốc như một sinh thể vĩ đại, tỏa sáng chói lòa sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu và trong thơ Nguyễn Đình Thi:

Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa!

Hào hùng mang tầm vóc thời đại sau đại thắng mùa xuân 1975 và trong thơ Tố Hữu:
Việt Nam!

Người là ta, mà ta chưa bao giờ hiểu hết
Người là ai ? Mà sức mạnh thần kì
Giữa cái chết, không phút nào chịu chết
Lửa quanh mình, một tấc cũng không đi!

Những năm tháng chiến tranh khói lửa, dẫu phải chịu nhiều đau thương tang tóc, nhưng Tổ quốc Việt Nam thật đáng tự hào !

Ấy là chuyện của hơn 30 năm trước, đã trở thành kí ức, đã đi vào lịch sử.

Bây giờ, xin nói chuyện nay.
Từ độ cao 35.000 km của vệ tinh Vinasat1, hình ảnh Tổ quốc thật đẹp và duyên dáng. Vẫn màu xanh biêng biếc trải dài trong tư thế “nằm nghiêng nghiêng” bên bờ tây Thái Bình Dương trước thềm Biển Đông xanh một màu ngọc bích. Vẻ đẹp đó cứ hiện diện hàng ngày trong mỗi bản tin dự báo thời tiết trên truyền hình. Ở độ cao vũ trụ, những hình ảnh đó như đánh lừa cảm giác chúng ta. Zom lại gần trên Google mới thấy giật mình, cái màu xanh tràn đầy sức sống ấy của Đất Nước đang vỡ toang ra từng mảng lớn.

Chiếc áo rừng bươm rách
Những mảnh vá thời gian

Chiếc áo da trên cơ thể Tổ quốc không còn lành lặn nữa. Rừng đại ngàn bị đẩy sang tận bên kia biên giới Lào, Campuchia. Những mảnh vá đụp nham nhở không đủ sức để chống chọi với thiên tai, giữ ấm cho cơ thể Tổ quốc. Còn đâu cái hình ảnh “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” của một thời đánh Pháp và đánh Mỹ ?

Hồi mới đặt chân lên Tây Nguyên công tác, cách nay cũng đã hơn ba chục năm rồi, tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ trước thiên nhiên. Dọc các con lộ đất đỏ bụi mù, rừng đại ngàn bát ngát ngút tầm mắt. Sát đằng sau cơ quan tôi đã là rừng. Rừng len vào thị xã Buôn Ma Thuột một thời được gắn cho cái biệt danh “bụi mù trời”. Có những đoạn đường xe chạy qua, đang giữa ngày hè mà hành khách bỗng thấy rùng mình ớn lạnh bởi rừng quãng đó còn nguyên sinh, những cây gỗ to vươn cành che kín cả mặt đường.

Thế mà chỉ sáu bảy năm sau, những cánh rừng đại ngàn ấy lần lượt biến mất bởi bàn tay độc ác của con người. Người ta phá rừng ồ ạt chỉ để lấy đất trồng bắp, trồng sắn. Đã có công trình khoa học cấp nhà nước với phát kiến tầm cỡ thời bao cấp: ăn bắp, ăn sắn cực bổ để mà cổ vũ cho cái chủ trương “đi ta đi khai phá rừng hoang” kia, một sự khai và phá đúng nghĩa. Ngày ấy, tôi là một giảng viên trẻ mới ra trường cùng các đồng nghiệp dẫn hàng ngàn sinh viên đi lao động xã hội chủ nghĩa, góp sức cùng đội quân phá rừng mà theo ngôn ngữ bây giờ gọi là “lâm tặc”.

Tôi đã thấy hàng trăm hecta rừng bị đốn không thương tiếc. Hàng ngàn m3 gỗ quí bị xe ủi chất đống như núi để chờ đốt lấy than tro. Lãnh đạo cao cấp xuống thăm những khu rừng bị phá, ai nấy phấn khởi, tự hào còn hơn cả chiến tích thời đánh Mĩ. Nhiều vị nhờ công lao phá rừng mà được thăng quan, tiến chức. Chao ôi, bây giờ ngẫm lại, té ra mình cũng là lâm tặc, chí ít thì cũng là tiếp tay cho lâm tặc mà không hay biết, lại còn tự hào vì lớp mình phụ trách được tuyên dương bởi thành tích phá rừng vượt trội.

Bây giờ nhìn lên cơ thể Tổ quốc mà thấy xót xa. Chiếc áo rừng bươm rách, tơi tả để lộ phần cơ thể đang nhức nhối, xói mòn sau mỗi trận lũ quét. Và những dòng sông cạn kiệt nguồn nước tự nhiên nhưng lại dư thừa mủ độc xả ra từ trăm ngàn nhà máy và khu công nghiệp. Chưa bao giờ như bây giờ, môi trường sống của tự nhiên và con người bị đe dọa gay gắt đến thế.

Chưa hết.
Trên cơ thể Đất Nước hiện nay lại xuất hiện vô số những vết lở loét. Hàng trăm, hàng ngàn mỏ khai khoáng hợp pháp và bất hợp pháp đang ngày đêm thọc sâu vào thịt xương Tổ quốc. Chiến tranh, bom đạn hủy diệt của quân thù, Tổ quốc vẫn nhẫn nại chịu đựng, vượt lên chết chóc, đau thương và chiến thắng bởi khát vọng độc lập, tự do. Còn bây giờ chính con cháu đang xẻ thịt, cắt da Đất Nước. Nỗi đau này chẳng thể nào nguôi được!

Chưa hết.
Cơ thể đớn đau của Tổ quốc đang mang trên mình những hiểm họa khôn lường. Nói Tổ quốc bao la chỉ là cách nói hình tượng của thi ca. Kì thực, nước ta đất chật, người đông. Mật độ dân cư hơn 260 người trên một cây số vuông, gấp năm sáu lần trung bình của thế giới. Thế mà nghịch lí thay, chúng ta lại còn cho nước ngoài thuê đất thì thật là khó hiểu. Trong khi nhiều nơi, không chỉ ở đồng bằng mà cả vùng rừng núi, dân không còn đất sản xuất thì hàng trăm ngàn hecta đất rừng đường biên, đất nằm sâu trong nội địa, có cả những vùng có vị trí chiến lược liên quan đến an ninh quốc phòng lại được các địa phương bán cho nước ngoài thuê mà giá mỗi m2 chưa mua nổi cọng rau muống. Tôi không nghĩ người ta tốt đến mức, bỏ tiền của hàng tỉ tỉ một cách vô tư để giúp ta phủ xanh đất trống đồi trọc mà không màng đến lợi nhuận như lời một vị lãnh đạo tỉnh Q đã nói khi trả lời phỏng vấn báo chí hồi năm ngoái. Ở những vùng đất cho thuê ấy (thời gian đến 50 mươi năm) người ta đang âm thầm cấy nấm độc lên cơ thể Tổ quốc để chờ thời.

Chưa hết.
Bây giờ lại xuất hiện những cái ung nhọt mới. Chuyện hàng ngàn lao động phổ thông Trung Quốc ào ạt nhập cư bất hợp pháp diễn ra suốt mấy năm nay mà chẳng ai quan tâm, dẫu biết rõ là vi phạm luật pháp Việt Nam. Điều đáng lo ngại ở đây là họ sang Việt Nam không chỉ làm công cho các dự án Trung Quốc thắng thầu. Họ còn muốn cố thủ ở lại. Bởi thế, những làng Tàu, phố Tàu mọc lên như nấm sau cơn mưa ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình và nhiều tỉnh thành khác trong cả nước.

Giữa trung tâm Thành phố Mới ở Bình Dương, chính quyền lại còn ưu ái xây sẵn một khu phố đặc biệt chỉ dành cho người Hoa do chính Công ty Becamex IJC tỉnh Bình Dương làm chủ đầu tư.

Chao ôi! Thử tưởng tượng xem, nếu cả sáu mươi tư tỉnh thành noi gương Bình Dương thì sẽ có sáu mươi tư cái “tô giới” kiểu mới (mà bọn thực dân đã áp đặt cho Trung Quốc thời nô lệ) mang màu sắc Tàu. Đó sẽ là những pháo đài bất khả xâm phạm, để rồi… Tôi chợt nghĩ đến cái chiến thuật “nở hoa” của họ mới thấy người ta tính toán không phải cho hôm nay mà cho ngày mai. Cái ngày mai ấy thật đáng sợ. Họ thâm độc quá, còn ta thì cả tin, thật thà đến “ngờ nghệch”?

Khi tôi đang viết những dòng này thì trên các trang báo mạng đăng đầy ý kiến của ông Trần Văn Đoàn một học giả Đài Loan nhận xét về âm mưu bành trướng của Trung Quốc với việc áp dụng ba cách: “Cách thứ nhất là thúc đẩy những người Trung Quốc di dân ra các nước lân cận để lâu dần biến đó thành vệ tinh của Trung Quốc. Cách thứ hai, họ tìm cách lấn từng tấc đất, từng tấc biển. Trong quá khứ, họ đã bành trướng nước Trung Hoa từ vùng Hoàng Hà cho đến giờ vượt ra ngoài Mông Cổ đến Tây Tạng và xuống tận dưới Việt Nam và có thể sẽ đi xa hơn nữa. Bước thứ ba là họ muốn bành trướng theo kiểu kinh tế của người Mỹ. Tức là nếu họ nắm được kinh tế của những nước xung quanh thì họ có thể thống trị đất nước đó.

Một người Trung Hoa mà còn dám nói thẳng cái âm mưu xấu xa của đồng bào mình, còn ta đối tượng nhắm đến của ba cái cách nói trên của chính quyền Trung Quốc, sao lại chẳng dám tỏ thái độ ?

Chưa hết.
Nhìn từ vũ trụ, thấy ở các cửa khẩu phía Bắc có hai dòng chảy. Dòng chảy ra màu đỏ phải chăng là máu Tổ quốc đang bị hút sang bên kia biên giới ? Người ta mua bất cứ thứ gì chỉ với mục đích hủy diệt nguồn sinh thái. Cho nên mới có chuyện xuất khẩu móng trâu bò, râu bắp ngô non, ba ba, rắn, cóc… Còn dòng chảy vào đất nước màu đen ngòm bởi những hàng hóa chứa đầy chất độc hại để ngấm ngầm đầu độc giống nòi ta ?

Chưa hết.
Những ngày qua, phần cơ thể Tổ quốc trên biển lại quặn đau. Đã đau thắt từ thuở Hoàng Sa bị chiếm. Bây giờ Biển quê hương lại cuồn cuộn triều dâng. Họ ngang nhiên, trắng trợn xâm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam. Quấy phá, bắt bớ cản trở tàu ta, ngư dân ta làm ăn trên vùng biển của mình. Lại còn đe dọa dùng sức mạnh quân sự để giải quyết tranh chấp, một sự tranh chấp vô cớ, vi phạm công pháp quốc tế.

Ôi, Tổ quốc! Chưa bao giờ Người đứng trước thử thách mà lại khó xử như hôm nay. Những năm sau Cách mạng tháng Tám, vừa mới giành được độc lập đã phải đối phó với thù trong, giặc ngoài;  Đất Nước nghìn cân treo sợi tóc, thế mà Cụ Hồ anh minh đã khôn khéo chèo lái vượt qua mọi thác ghềnh. Những năm Sáu mươi (1964-1965) đứng trước câu hỏi lớn của thời đại, Cụ Hồ đã triệu tập Hội nghị Diên Hồng của thế kỉ Hai mươi để có câu trả lời của cả dân tộc: Đánh! Và mùa xuân năm 1979 lại một lần nữa sục sôi hào khí Đông A, lại vang lên hai chữ “sát thát” giữa thời hiện đại.

Chưa hết.
Tổ quốc còn đứng trước bao thách thức mới, bên ngoài và bên trong. Người như Mẹ hiền suốt đời nhẫn nại, chịu thương, chịu khó và bao dung. Chưa một phút giây Người được lắng mình trong bình an, thanh thản.

Thương lắm, Việt Nam !
NguyễnDuy Xuân