Tranh chấp biển Đông: chủ quyền chưa hẳn là vấn đề

Posted on July 13, 2012

0



Thanh Trúc, phóng viên RFA, Bangkok
2011-10-14

Trong bài tham luận trên trang web của phân khoa Nghiên Cứu Quốc Tế thuộc đại học Nanyang Singapore

Source uschina-institude

Biển Đông và các quốc gia liên hệ

Tiến sĩ  Sam Bateman, cựu phó đô đốc hải quân Australia, hiện là chuyên gia cao cấp trong Chương Trình An Ninh Hàng Hải tại phân khoa  Nghiên Cứu Quốc Tế  viện đại học Nanyang , phân tích những quan điểm ông cho là cần xét lại trong phương hướng giải quyết tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa giữa các bên liên hệ đối với Trung Quốc. Bài do Thanh Trúc thực hiện:

Chủ quyền cần được bàn thảo song phương

Giải quyết tranh chấp lãnh hải trên biển Đông tự cơ bản là vấn đề chính trị trong thương thuyết giữa các phía tranh chấp. Trong lúc hướng tới tinh thần hợp tác hầu cải thiện tình hình trên biển Nam Trung Hoa và việc khai thác nguồn tài nguyên trong khu vực này có thể được bàn thảo đa phương, thì chủ quyền lại là vấn đề cần được bàn thảo song phương giữa từng quốc gia với nhau.
Đó là cái nhìn của tiến sĩ Sam Bateman, cựu phó đô đốc hải quân Australia, hiên là chuyên gia cao cấp trong Chương Trình An Ninh Hàng Hải tại phân khoa Nghiên Cứu Quốc Tế  viện đại học Nanyang ở Singapore.

Thứ nhất là quan niệm chủ quyền trên những đảo và thềm lục địa có thể giải quyết trên căn bản đối thoại đa phương. Suy nghĩ này không đúng vì chủ quyền trên vùng biển đó biển cơ bản là vấn đề phải được giải quyết song phương giữa các quốc gia liên hệ.

tiến sĩ Sam Bateman

Ông nói hai cách nghĩ nhầm lẫn trong những cuộc tranh cãi liên quan đến biển Nam Trung Hoa:

Tiến sĩ  Sam Bateman, cựu phó đô đốc hải quân Australia
Tiến sĩ Sam Bateman, cựu phó đô đốc hải quân Australia. Nguồn từ tác giả

Thứ nhất là quan niệm chủ quyền trên những đảo và thềm lục địa có thể giải quyết trên căn bản đối thoại đa phương. Suy nghĩ này không đúng vì chủ quyền trên vùng biển đó biển cơ bản là vấn đề phải được giải quyết song phương giữa các quốc gia liên hệ.
Sai lầm thứ hai, tiến sĩ Bateman giải thích tiếp, là ý kiến cho rằng ranh giới trên biển, hoặc những phần lãnh thổ xa bờ nằm trong tranh chấp, có thể được xác định bởi luật:
Quan niệm này cũng sai lầm bởi lãnh hải cũng như chủ quyền tự chúng là vấn đề chính trị trong tiến trình điều đình giàn xếp giữa các quốc gia đang có tranh chấp.
Dẫn ra một cái nhìn toàn cảnh về tình hình biển Nam Trung Hoa, tiến sĩ Sam Bateman giải thích, trừ một số đảo quá xa ở mạn Nam thuộc chủ quyền Indonesia và Malaysia, một số đảo nhỏ gần bờ biển Việt Nam, và một vài vùng đảo khác nữa trên biển Nam Trung Hoa mà Brunei, Philippines và Malaysia đang tranh giành chủ quyền, thì Trung Quốc đã vạch một đường lưỡi bò trên phần lớn khu vực còn lại để khẳng định chủ quyền. Điều này khiến các nước liên hệ mạnh mẻ chỉ trích, trong đó Philippines và Việt Nam lên tiếng gay gắt nhất.

ý kiến cho rằng ranh giới trên biển, hoặc những phần lãnh thổ xa bờ nằm trong tranh chấp, có thể được xác định bởi luật: Quan niệm này cũng sai lầm bởi lãnh hải cũng như chủ quyền tự chúng là vấn đề chính trị trong tiến trình điều đình giàn xếp giữa các quốc gia đang có tranh chấp.

tiến sĩ Sam Bateman

Về mâu thuẫn trên biển Nam Trung Hoa, mà Việt Nam gọi là biển Đông, Trung Quốc, được coi là tác nhân gây căng thẳng, vẫn giữ lập trường giải quyết mâu thuẫn với từng quốc gia, trong lúc Philippines muốn đưa vấn đề ra trước quốc tế. Hôm thứ Ba Việt Nam chính thức ký kết thỏa thuận sáu điểm với Trung

Luật biển trên cơ sở căn bản. RFA file
Luật biển trên cơ sở căn bản. RFA file

Quốc, nhắm tới giải pháp dài hạn để xứ lý các vấn đề trên biển.

ASEAN và biển Đông

Theo tiến sĩ Sam Bateman, trong tiến trình bàn thảo và hợp tác để giải quyết tình hình căng thẳng trên biển Nam Trung Hoa cũng như biện pháp giải quyết việc khai thác tài nguyên ở đây qua đối thoại đa phương,  thì chủ quyền lại là vấn đề bàn thảo song phương giữa các nước tranh chấp:
Ví dụ tôi nghe nhiều người nói rằng ASEAN có thể giúp giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Có nghĩa ASEAN, là một khối gồm nhiều quốc gia, ngồi xuống nói chuyện với chỉ một nước là Trung Quốc. Điều này cũng không đúng.
Trong tư cách một tổ chức như ASEAN, tức Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á, tổ chức khu vực này không thể mang vấn đề tranh chấp chủ quyền, đặc biệt chủ quyền giữa từng nước trong hiệp hội, ra bàn cãi với Trung Quốc được.

Trong tư cách một tổ chức như ASEAN, tức Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á, tổ chức khu vực này không thể mang vấn đề tranh chấp chủ quyền, đặc biệt chủ quyền giữa từng nước trong hiệp hội, ra bàn cãi với Trung Quốc được.

tiến sĩ Sam Bateman

Đề cập đến quan điểm của một nhà ngoại giao Singapore, ông Tommy Koh, từng giữ vai trò chủ chốt trong việc hình thành  Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển, UNCLOS, khi trả lời phỏng  vấn trên báo The Straits Time, đã nói rằng  “ là một tổ chức trong khu vực, ASEAN không thể ủng hộ hay chống đối việc tranh chấp chủ quyền của bốn quốc gia trong khối, tiến sĩ Bateman nhận định là nhà  ngoại giao Tommy Koh  muốn nhấn mạnh rằng ý kiến  ASEAN có thể ủng hộ Brunei, Malaysia, Philipppines và Việt Nam trong

Bản đồ biển Đông và vùng chủ quyền
Bản đồ biển Đông và vùng chủ quyền "Lưỡi Bò" theo Trung Quốc.

việc tranh chấp chủ quyền trên vùng biển Nam Trung Hoa cũng là một cách nghĩ sai lầm nốt.
Rõ ràng tình hình tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa đang là vấn đề khó khăn cho ASEAN, tiến sĩ Bateman phân tích tiếp, là vì những phần lãnh hải mà Philippines, Malaysia và Brunei nhận chủ quyền của họ thì cũng được giành chủ quyền bởi Việt Nam. Chính vì thế, ông nhấn mạnh:
Đối thoại song phương giữa các thành viên ASEAN này là một bước đầu tiên và quan trọng để tiến tới  đối thoại song phương giữa từng nước với Trung Quốc. Đáng tiếc điều kiện quan trọng này chưa thể xảy ra khi mà các quốc gia liên hệ chỉ chú mục vào chuyện giành chủ quyền trên từng từng vùng đảo này từng vùng biển nọ hơn là nghĩ đến chuyện đối thoại.

Đối thoại song phương giữa các thành viên ASEAN này là một bước đầu tiên và quan trọng để tiến tới  đối thoại song phương giữa từng nước với Trung Quốc.

tiến sĩ Sam Bateman

Biển Đông và Công Ước LHQ về Luật Biển

Được hỏi trong tình hình như vậy liệu UNCLOS tức Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển có thể giúp giải quyết  tranh chấp chủ quyền trên biển Nam Trung Hoa, tiến sĩ Bateman trả lời:
Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển thường được viện dẫn như một phép lạ, có nghĩa là nếu được tuân thủ nghiêm túc thì sẽ giải quyết được tức khắc tình hình tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa.
Cần hiểu Công Ước Quốc Tế Về Luật Biển không đề cập tới tranh chấp chủ quyền. Các nước tranh chấp

Sự phát triển không ngừng của hải quân Trung Quốc. AFP
Sự phát triển không ngừng của hải quân Trung Quốc. AFP

chủ quyền phải giải quyết vấn đề trên căn bản song phương . Luật biển chỉ thực sự có hiệu lực một khi chủ quyền về lãnh thổ hay lãnh hải đạt sự đồng thuận rõ ràng giữa các nước.
Ranh giới trên biển chủ yếu vạch giới hạn về quyền thực thi pháp lý trong việc định vị và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa thuộc chủ quyền từng nước, bên cạnh những chính  sách những biện pháp xử lý cơ bản liên quan đến lãnh hải  và vùng biển chung. Không có những điều kiện đó thì cái tôi tạm gọi là trật tự trên biển mãi mãi còn là một vấn đề.

Trật tự trên biển Nam Trung Hoa, bao gồm phương cách giàn xếp hữu hiệu để các nước có thể khai thác và phát triển nguồn tài nguyên trên vùng biển đó, theo chuyên gia an ninh hàng hải Sam Bateman, cần thiết phải có sự hợp tác, đồng thuận và chấp nhận chủ quyền giữa các quốc gia với nhau. Tuy nhiên, do vị trí địa lý phức tạp trên biển Nam Trung Hoa với những vùng nước và vùng thềm lục địa chồng lấn lên nhau, có thể nói việc phân định rạch ròi lãnh hải trên nguyên tắc là điều khó có thể thực hiện .
Vấn đề còn trở nên phức tạp hơn với quan điểm trong việc giải quyết chủ quyền, thí dụ vùng nào được gọi là đảo theo định nghĩa của luật quốc tế, khu vực nào được gọi là vùng hàng hải quốc tế có sự thông thương tự do.

Cần hiểu Công Ước Quốc Tế Về Luật Biển không đề cập tới tranh chấp chủ quyền. Các nước tranh chấp chủ quyền phải giải quyết vấn đề trên căn bản song phương . Luật biển chỉ thực sự có hiệu lực một khi chủ quyền về lãnh thổ hay lãnh hải đạt sự đồng thuận rõ ràng giữa các nước.

tiến sĩ Sam Bateman

Do vậy tranh chấp  trên biển Nam Trung Hoa chỉ có thể giải quyết khi những nước can dự thay đổi nếp nghĩ cứng ngắc về chủ quyền của mình trên biển sang tư thế sẳn sàng hợp tác
Trong lúc các quốc gia liên hệ cố giữ lập trường ái quốc hay yêu nước một cách cứng rắn  thì cũng khó có thể tìm được biện pháp khả dĩ cho vấn đề biển Nam Trung Hoa. Một trong những cái khó nữa là Đài Loan, vốn không được một số nước công nhận tư cách pháp nhân về một quốc gia, cũng sẽ không kiếm được sự đồng thuận hay nhượng bộ từ một quốc gia nào đang tranh chấp chủ quyền trên biển Nam Trung Hoa.
Thể chế chính trị dung hòa và tinh thần hợp tác là điều kiện căn bản để giải quyết những bất cập trên biển Nam Trung Hoa, bao gồm vấn đề an ninh, hàng hải, thông thương, nghiên cứu, ngư trường đánh bắt cá, khai thác tài nguyên, trật tự trên biển, và cả vấn đề bảo tồn môi trường biển.
Các nước cũng không thể gọi là cố tình bỏ qua hoặc loại trừ vị thế của Trung Quốc trong tất cả các tiền trình vừa nói, tiến sĩ Bateman cảnh báo:
Hơn thế nữa, mọi kế hoạch mọi thỏa thuận mọi sự phát triển của các thành viên ASEAN trên vùng biển Nam Trung Hoa mà nếu không kể đến Trung Quốc thì cũng sẽ bị thất bại.
Tóm lại, tiến sĩ Sam Bateman kết luận, sau những vòng đối thoại song phương giữa các bên tranh chấp  để tìm giải pháp, tiếp đến phải là chiến lược tiếp cận và bàn thảo hữu hiệu giữa từng nước với Trung Quốc, thì mới tránh được tình trạng căng thẳng bất ổn và mới giải quyết được rốt ráo mọi mặt của vấn để tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa hay biển Đông.

Mập mờ tuyên bố chủ quyền không phục vụ bất kỳ ai

Trong hai ngày 27-28/6 vừa qua, Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) Mỹ đã tổ chức cuộc hội thảo hàng năm về vấn đề Biển Đông, với sự tham gia của nhiều học giả quốc tế và cả chính khách Mỹ. Nhà nghiên cứu Gregorv Associate thuộc Chương trình Đông Nam Á của CSIS đã có bài viết tổng kết trên trang web của tổ chức này ngày 5/7. Sau đây là nội dung bài viết:

Đúng như dự kiến, các cuộc thảo luận, có tiêu đề “Biển Đông và châu Á – Thái Bình Dương đang thay đổi: Tìm kiếm lựa chọn cho việc quản lý tranh chấp,” chứng kiến sự căng thẳng giữa các diễn giả. Điều này đặc biệt đúng giữa các diễn giả Trung Quốc với Philíppin và Trung Quốc với Việt Nam. Nhưng sau một ngày rưỡi thảo luận gay gắt, một thông điệp rõ ràng là: sự mập mờ trong tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và biển tại Biển Đông không phục vụ lợi ích của bất kỳ ai.

Trong khi những người tham gia có xu hướng xem xét lại các vấn đề chủ quyền và đưa ra những ý tưởng nhằm quản lý chứ không phải là giải quyết tranh chấp, hội thảo năm nay thể hiện rõ những điểm khác so với năm trước. Có thể cảm nhận được sự căng thẳng trong phòng hội thảo khi ba chuyên gia Trung Quốc tìm cách bảo vệ lập trường của Bắc Kinh. Một điều quan trọng cần ghi nhận là người ta chưa biết rõ lập trường chính xác của Trung Quốc là thế nào. Những người tham dự hội nghị đã có những phát biếu mạnh mẽ cho thấy rằng không ai mong muốn các tuyên bố mơ hồ về chính sách và giải trình của Trung Quốc.

Những gì họ thể hiện chính là sự bực tức đã lan truyền khắp các cộng đồng chính sách tại Oasinhtơn và châu Á. Đó không chỉ là sự bực tức về các tranh chấp ở Biển Đông, hay thậm chí là nhận thức về thái độ gây hấn gần đây của Bắc Kinh, cả hai điều đã trở thành một phần trong bức tranh chung của khu vực. Đúng hơn, đó là sự thất vọng trước sự mập mờ lâu nay từ chính sách của Trung Quốc, muốn tránh phải có một lập trường rõ ràng bằng mọi giá. Nếu không có một lập trường rõ ràng của Trung Quốc, việc giải quyết các tranh chấp và hòa hợp các lập trường là điều không thể.

Chính sách mập mờ chiến lược của Trung Quốc là nhằm mục đích của nó. Nó cho phép Trung Quốc linh hoạt để giải thích lập trường của mình. Đây là lý do tại sao Bộ Ngoại giao Trung Quốc có thể ra tuyên bố công khai vào tháng Hai năm 2012 nói rằng họ không tuyên bố chủ quyền quốc gia với toàn bộ Biển Đông và chỉ có tranh chấp về “hải đảo và vùng biển lân cận.” Điều này đã làm dấy lên hy vọng tại Mỹ và các bên tranh chấp châu Á khác rằng Trung Quốc đang rút khỏi tuyên bố đường lưỡi bò và đưa lại tuyên bố của mình phù họp với luật pháp quốc tế.

Tuy nhiên, điều đó rõ ràng là không đúng. Các căng thẳng trong năm nay trên biển bắt đầu với hai tháng bế tắc giữa các tàu Trung Quốc và Philíppin tại bãi cạn Scarborough. Cuộc đối đầu đó, cho dù có những tuyên bố ngược lại từ Bắc Kinh, là một ví dụ về một sự điều chỉnh dần dần trong tuyên bố của Bắc Kinh. Trong nhiều năm, tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông chỉ giới hạn trong quần đảo Trường Sa (Nam Sa) và quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa). Bất kỳ tuyên bố nào với các cấu trúc địa chất khác, như bãi cạn Scarborough, chỉ được ngụ ý là nằm trong đường lưỡi bò đầy mơ hồ. Sau đó, Trung Quốc mở rộng tuyên bố chủ quyền với bãi Macclesfield hoàn toàn nằm dưới mặt nước dưới cái tên Trung Sa do tưởng tượng, mặc dù có không có cách nào theo quy định của pháp luật quốc tế để tuyên bố chủ quyền với một cấu trúc địa chất thấp hơn mặt nước giống như một hòn đảo. Hơn nữa, trong những năm gần đây, khi Bắc Kinh cố gắng không bị quá phụ thuộc vào đường chín đoạn không thể giải thích được, bãi cạn Scarborough đã được đưa vào thành một phần của Trung Sa. Việc bãi này nằm cách Macclesfield hàng trăm dặm hay việc nó chưa hề xuất hiện trong các tài liệu lịch sử mà Trung Quốc đưa ra để chứng minh chủ quyền với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa dường như không quan trọng.

Bắc Kinh thể hiện sự bất chấp tương tự với chính sách mà tuyên bố của Bộ Ngoại giao đưa ra hồi tháng Hai khi áp đặt lại lệnh cấm đánh bắt hàng năm đơn phương cho toàn bộ Biển Đông bên trên vĩ tuyến 12. Lệnh cấm như vậy sẽ chỉ có thể khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với tất cả các vùng biển trong đường chín đoạn, chứ không chỉ với “các đảo và vùng biển lân cận.” Sau đó, vào cuối tháng Sáu, Tập đoàn Dầu khí CNOOC khiêu khích Việt Nam bằng việc thông báo công ty sẽ mở 9 lô dầu khí ở Biển Đông (Biển Đông) cho nước ngoài dự thầu, vấn đề là ở chỗ toàn bộ chín lô này nằm trong phạm vi 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, và trong thực tế, nhiều lô trùng với các lô mà hiện Việt Nam đã cho các công ty nước ngoài thầu, trong đó có công ty Exxon-Mobil. Quan trọng hơn, các lô của CNOOC không thể biện hộ được theo tuyên bố chủ quyền với “các đảo và vùng biển lân cận” của Biển Đông vì không có hòn đảo nào trong vòng 200 hải lý (EEZ tối đa cho phép) của tất cả các lô.

Những diễn biến này làm nổi bật sự cần thiết cho các bên tranh chấp ASEAN-Việt Nam, Philíppin, Malaixia và Brunây, phải có lập trường về những gì là tranh chấp thực sự ở Biển Đông và những gì không. Chừng nào điều căn bản này vẫn chưa rõ ràng, Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục sử dụng các tuyên bố mơ hồ và mâu thuẫn để theo đuổi lợi ích của mình ở Biển Đông với phần thua thiệt thuộc về các nước láng giềng nhỏ hơn.

Một số bước đi đã được thực hiện theo hướng này. Việc Việt Nam và Malaixia năm 2009 nộp hồ sơ chung về thềm lục địa mở rộng ở phía Nam lên Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Ranh giới Thềm lục địa là một bước quan trọng đâu tiên trong nỗ lực này. Luật về đường cơ sở của Philíppin, thông qua cùng năm đó, thiết lập đường cơ sở ven biển theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), cũng là một nỗ lực nữa.

Mặc dù có các bước này, vẫn còn quá nhiều mơ hồ về Biển Đông. Quốc hội Việt Nam gần đây đã thông qua Luật Biển nhắc lại tuyên bố chủ quyền của mình với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng vẫn chưa rõ ràng về việc Việt Nam tuyên bố cái gì trong vùng biển của mình. Ngoài các ranh giới phía Nam với Malaixia, đâu là đường cơ sở và vùng thềm lục địa mở rộng của Việt Nam? Việt Nam có coi Hoàng Sa và Trường Sa được hưởng quy chế EEZ hay không? Các câu hỏi tương tự phải được đặt ra và trả lời với ba nước ASEAN có tranh chấp, gồm Brunây, Malaixia và Philíppin.

Các nước ASEAN đã có lập trường thống nhất về nhiều vấn đề. Ví dụ, cả bốn nước có vẻ như đã chấp nhận rằng Trường Sa và Hoàng Sa không phải là các đảo theo luật pháp, mà chỉ đơn thuần là đá và do đó chỉ được hưởng lãnh hải 12 hải lý.

Một nỗ lực thực tâm để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông đòi hỏi những quan điểm này phải được luật hóa. Điều này không có nghĩa là các bên tranh chấp phải từ bỏ bất cứ điều gì liên quan đến tuyên bố chủ quyền của mình đối với các cấu trúc địa chất trên Biển Đông. Thay vào đó, nó sẽ cho phép họ củng cố có sở pháp lý cho tuyên bố về biển của mình và tách biệt các tranh chấp lãnh thổ khó khăn hơn nhiều nhưng có phạm vi địa lý nhỏ hơn rất nhiều. Quan trọng nhất, nó sẽ cho phép các nước này thể hiện một mặt trận thống nhất trước Trung Quốc trong lập luận về một điểm tối quan trọng: cơ sở duy nhất chấp nhận được cho các tuyên bố về biển trên Biển Đông phải là luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS.

Nếu các bên tranh chấp ASEAN tạo được một khuôn khổ thống nhất về những gì có và không có tranh chấp, phần trách nhiệm còn lại sẽ là của Bắc Kinh phải làm rõ cơ sở cho tuyên bố của mình. Tại thời điểm đó, Bắc Kinh sẽ có các lựa chọn giới hạn. Áp lực như vậy có thể tạo ra các tiếng nói ôn hòa hơn, giống như những tiếng nói trong Bộ Ngoại giao, sự đáng tin cậy hơn, cho phép Trung Quốc làm rõ tuyên bố của mình bằng cách giữ nguyên tuyên bố chủ quyền vói Trường Sa và Hoàng Sa, nhưng từ bỏ đòi hỏi quá đáng đối với các vùng biển nằm giữa. Điều này sẽ đánh dấu một bước quan trọng hướng tới việc giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Theo cách khác, Bắc Kinh có thể loại bỏ hoàn toàn luật pháp quốc tế đã được chấp nhận trong tranh chấp, nhưng nó sẽ gây tổn hại cho lợi ích lớn hơn của Trung Quốc. Bắc Kinh có thể sẽ từ chối tham gia bất kỳ cuộc đối thoại nào. Nếu điều đó xảy ra, thì nó sẽ cho thấy Trung Quốc là bên tham chiến không thể chối cãi trong tranh chấp và dư luận quốc tế sẽ ủng hộ lập trường của các bên tranh chấp trong ASEAN. Cuối cùng, Trung Quốc có thể sẽ thấy việc làm rõ tuyên bố chủ quyền ít gây tổn hại đến danh tiếng và lợi ích của mình hơn so với việc bám vào sự mơ hồ lâu nay.

Hầu hết thời gian trong hội thảo CSIS được dành để thao luận về các cơ sở của tranh chấp và tìm kiếm những cách thức để giải quyết các sự cố không thể tránh khỏi chứ không phải là đề xuất cách thức thực sự để giải quyết các tranh chấp. Do sự phức tạp và thời gian lâu dài của vấn đề Biển Đông, những khó khăn như vậy được dự đoán là chắc chắn có.

Nhưng lý do quan trọng nhất của việc dường như có rất ít ánh sáng ở cuối đường hầm là vì rất nhiều tranh chấp vẫn còn mơ hồ. Giờ là lúc các bên tranh chấp ASEAN phải luật hóa đầy đủ, cả luật trong nước và trong một khuôn khổ đa phương, những gì tranh chấp và không phải là tranh chấp theo luật pháp quốc tế. Đó sẽ là một lập trường mà cộng đồng quốc tế, trong đó có Mỹ, có thế ủng hộ một cách chính đáng bởi vì nó sẽ có nghĩa là không bảo vệ những tuyên bố riêng của bất kỳ bên tranh chấp nào, mà là ủng hộ chính luật pháp quốc tế.

Quy Tắc Ứng Xử Biển Ðông có thể chỉ là tờ giấy vô giá trị

Ngoại Trưởng Hillary Clinton (thứ ba từ trái, hàng đầu) chụp hình chung trước khi dự bữa tiệc ở Tòa Thị Chính Phnom Penh hôm 12 Tháng Bảy, khi dự cuộc họp ASEAN. (Hình: Brendan Smialowski/AFP/GettyImages)

PHNOM PENH, Cambodia (NV) – Một bộ quy tắc ứng xử mà các nước ASEAN muốn ký với Trung Quốc để tránh các xung đột liên quan tới chủ quyền biển đảo trên Biển Ðông có thể chỉ là một tờ giấy vô giá trị.

Các tin tức từ các phiên họp của ASEAN ở thủ đô Phnom Penh nói những gì quan trọng mà các nước có tranh chấp với Trung Quốc về Biển Ðông muốn đưa vào văn bản đều bị Bắc Kinh bác bỏ.

Một mặt, Bắc Kinh áp lực với nước chủ nhà Cambodia, chủ tịch luân phiên ASEAN, không đem vấn đề Biển Ðông ra thảo luận. Mặt khác, Bắc Kinh muốn một bộ quy tắc ứng xử kiểu lời lẽ mơ hồ để có thể bên nào cũng có cách giải thích theo ý mình mà vi phạm.

Trong trường hợp này, Bắc Kinh, với thế mạnh quân sự và hải quân hơn hẳn tất cả các nước đang tranh chấp, sẽ tận dụng mọi đòn phép để chiếm ưu thế mà trên hết vẫn là muốn nuốt hết khối dầu khí khổng lồ nằm dưới đáy biển.

Theo hãng thông tấn AFP, các nước ASEAN muốn một bộ Quy Tắc Ứng Xử (Code of Conduct-COC) căn cứ trên luật lệ và thông lệ quốc tế bao gồm cả Công Ước Quốc Tế Về Luật Biển (UNCLOS).

Công ước UNCLOS ấn định giới hạn các nước ven biển được quyền xác định lãnh hải tới đâu và các vùng đặc quyền kinh tế. Nhưng Bắc Kinh kịch liệt chống đối một bộ quy tắc ứng xử có tính ràng buộc pháp lý chặt chẽ và rõ ràng.

Bắc Kinh coi chuyện tranh chấp Biển Ðông chỉ là chuyện giữa một số nước với Bắc Kinh chứ không phải với cả khối ASEAN, nên tìm đủ mọi cách ảnh hưởng và chống đối để COC thành hình một cách có lợi cho mình.

“Vấn đề Biển Ðông không phải là chuyện giữa Trung Quốc và ASEAN mà chỉ là giữa Trung Quốc và một số nước ASEAN,” ông Lưu Vi Dân, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, phát biểu hôm Thứ Tư.

Ngoại Trưởng Dương Khiết Trì của Trung Quốc, khi đến Phnom Penh dự hội nghị, cũng như hệ thống tuyên truyền của Bắc Kinh, chỉ cổ võ cho một thứ văn bản “tăng cường sự tin tưởng lẫn nhau.” Rồi “tới khi chín mùi” thì mới thảo luận một bộ quy tắc ứng xử.

Hoa Kỳ, Việt Nam, và Philippines muốn cuộc thảo luận đa phương để giải quyết tranh chấp Biển Ðông, nhưng Bắc Kinh luôn luôn bác bỏ. Ðàm phán song phương sẽ dễ cho Bắc Kinh áp đảo các nước láng giềng nhỏ và yếu hơn.

Một bộ quy tắc ứng xử kiểu không thể xác định ranh giới sẽ không có khả năng áp dụng và trở nên không có tác dụng đích thực.

Trong chiều hướng đó, người ta thấy văn bản sẽ phản ảnh sự chia rẽ của khối ASEAN do hậu quả từ các áp lực của Trung Quốc với riêng từng nước.

Advertisements
Posted in: Chính Trị