Đồng loã với giặc! Gian ác với dân!

Posted on July 14, 2012

0



Từ lâu, giữa giới người Việt yêu dân chủ từ trong ra tới ngoài nước, có thành ngữ gán cho đảng và nhà cầm quyền CSVN: “Hèn với giặc! Ác với dân”. Thiển nghĩ thành ngữ này chưa được chính xác cho lắm, khi chúng ta nhìn lại cả một lịch sử dài về mối quan hệ giữa đảng Cộng sản Việt (Việt cộng) với đảng Cộng sản Tàu (Tàu cộng). Không như Nam Tư của Tito đã từng đứng độc lập với anh cả đỏ Liên Xô, Việt cộng kể từ thời Hồ Chí Minh cho đến hôm nay, vẫn luôn sát cánh với Tàu cộng. Sự sát cánh này chỉ tạm gián đoạn khoảng hơn thập niên khi Việt cộng phản phé đi theo anh cả để kết án anh thứ (ngay cả trong Hiến pháp) nên bị anh thứ “dạy cho bài học”; rồi sau khi anh cả sụp đổ, lại chạy sang anh thứ quỳ tạ lỗi và khấu đầu tái bái phục (tại Thành Đô, Tứ Xuyên, 09-1990).

Quả thế, khi bắt đầu hoạt động cách mạng, ông Hồ Chí Minh, ngoài việc coi hai lãnh tụ Lênin và Stalin như thần tượng (đúng ra như thần linh), còn sùng bái Mao Trạch Đông và đảng Tàu cộng. Lòng sùng bái ấy đi kèm với lòng hãi sợ (Cộng sản luôn duy trì hai tâm tình sùng bái và hãi sợ này song song trong những người của nó), nên HCM đã chấp nhận cuộc mặc cả chính trị giữa Tàu cộng với các cường quốc tại Hội nghị Genève (1954) là qua phân nước Việt (chính phủ Ngô Đình Diệm phản đối điều này). Tiếp đến, dưới sự chỉ đạo của Mao, rập khuôn mẫu Tàu cộng và được các cố vấn Tàu cộng trợ giúp, Hồ Chí Minh phát động vụ Cải cách ruộng đất khiến cho đạo đức phong hóa đất nước, cơ cấu làng xã họ tộc, tiềm lực nhân sĩ lãnh đạo bị phá hoại nặng nề, rồi dựng lên vụ Nhân văn Giai phẩm và vụ Chỉnh đốn Tổ chức khiến cho bao tài năng nhiệt huyết của giới trí thức bị mai một dữ dội. Đây là một sự đồng lõa với âm mưu “tàn hại sinh khí và văn hóa Việt” của Tàu cộng.

Khi Mao Trạch Đông tiến hành kế hoạch mở rộng lãnh thổ Đại Hán xuống Đông Nam Á (như lời ông ta tuyên bố năm 1939, 1959 rồi năm 1965 -xem “Bị vong lục của Bộ Ngoại giao CSVN ngày 15-03-1979”- và lời thú nhận của Lê Duẩn năm 1976: “Chúng ta đánh Mỹ Ngụy là đánh cho Trung Quốc!”), qua việc giúp đỡ Việt cộng xâm chiếm miền Nam, Hồ Chí Minh đã dâng trên giấy cho Tàu cộng hai quần đảo Hoàng Trường Sa của nước Việt (qua Công hàm 1958), đã để cho Tàu cộng chiếm cứ Ải Nam Quan, đồn biên phòng bền vững vạn niên, đem hơn 300 ngàn quân xâm nhập sâu vào miền Bắc để “giữ hậu phương giùm”, len lỏi vào tận hàng lãnh đạo của đảng Việt cộng để “bảo đảm tình đoàn kết “răng môi” giữa hai chính đảng và chính thể”. Đây là một sự đồng lõa với âm mưu “tàn hại nền chính trị nước Nam” của Tàu cộng.

Khi cuộc thôn tính miền Nam kết thúc, do bị Tàu cộng đòi nợ chiến phí bằng đất đai và quyền lợi kinh tế trên đất Việt, do mù quáng tin tưởng vào tình hữu nghị TrungViệt (16 chữ vàng và 4 tốt, bất chấp cuộc chiến biên giới năm 1979 và cuộc chiến Trường Sa năm 1988 đầy cay đắng) cũng như do yếu nhược phải cậy dựa vào đàn anh duy nhất còn lại, Việt cộng đã nhượng cho Tàu cộng gần cả ngàn km2 lãnh thổ qua Hiệp định biên giới năm 1999, trên 10.000 km2 lãnh hải qua Hiệp định vịnh Bắc bộ năm 2000, cả vùng Tây Nguyên yếu huyệt qua Quyết định năm 2007 cho Tàu cộng khai thác bauxite; đã cho Tàu cộng thuê hơn 300.000 hecta rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ, xây nhiều làng mạc và đô thị Tàu từ Nam chí Bắc, đi vào đất Việt không cần thị thực nhập cảnh, trúng thầu 90% các công trình kinh tế chủ yếu, các dự án trọng điểm quốc gia, tuôn tràn vào Việt Nam vô số sản phẩm văn hóa, kỹ thuật, ẩm thực (đa phần kém chất lượng hay độc hại)…

Đây là một sự đồng lõa với âm mưu “tàn hại nền kinh tế và quốc phòng đất nước”. Chính Đỗ Mười đã thú nhận điều này: “Tuy Trung Quốc nó đánh ta nhưng nó cùng là cộng sản”. Nghĩa là tuy bọn Tàu chiếm đất, chiếm biển Việt Nam, nhưng dù sao chúng cũng là đồng chí anh em. Đồng chí hướng lý tưởng cộng sản vô biên giới! Chung tình nghĩa anh em cộng sản một gia đình! Núi liền núi sông liền sông, môi bị hở răng phải lạnh! Của em cũng là của anh, là của cộng sản! Đây là một sự đồng lõa với âm mưu “xâm hại nền kinh tế và quốc phòng đất nước” của Tàu cộng.

Thập niên gần đây, khi Tàu cộng quyết định mở rộng chủ quyền trên Biển Đông qua yêu sách phi lý “Đường lưỡi bò 9 đoạn”, Việt cộng tiếp tục theo đuổi chính sách ngoại giao lạ đời (dựa trên bảng phân loại các nước thành bạn hay thù, chứ không phải trên quyền lợi quốc gia lẫn tương quan lợi quyền quốc tế) và thái độ ngày càng khiếp nhược trước Tàu cộng dưới mỹ từ “hiếu hòa hữu nghị”, do đó đã bị Tàu cộng liên tục lấn lướt trên Biển đông. Cụ thể là xua đuổi, bắt tù, cướp bóc, bắn giết ngư dân Việt; là thúc giục, bảo vệ, hộ tống ngư dân Tàu vào đánh cá ngay trong thềm lục địa Việt; là hăm dọa các công ty khai thác dầu hỏa ngoại quốc muốn làm ăn với nước Việt; và mới nhất là xâm phạm lãnh hải Việt Nam để phá hoại những tàu thăm dò khoáng sản của Hà Nội, trong mục tiêu muốn biến luôn vùng biển chủ quyền của nước Việt thành vùng biển tranh chấp hầu đòi chia nửa (như đối với vịnh Bắc bộ năm nào)…

Thế nhưng, Việt cộng lại chỉ phản ứng bằng cách cho các viên chức thấp trong bộ Ngoại giao lên tiếng rồi thân hành tới gặp đại sứ Tàu cộng trao công hàm “yêu cầu dừng lại”; bằng cách bỏ mặc ngư dân bơ vơ trước sói biển, lấy cớ tàu quân sự không xen vào chuyện dân sự (lời phát biểu của Nguyễn Chí Vịnh); bằng cách tiếp tục hợp tác toàn diện với Đại Hán xâm lấn, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc (từ kinh tế tới quốc phòng, từ pháp luật tới an ninh, từ thông tin tới văn hóa… qua những cuộc trao đổi gặp gỡ cấp cao kể từ tháng 4-2011); bằng cách tiến hành tuần tra chung Trung-Việt trên vịnh Bắc Bộ; bằng cách từ khước liên minh với lực lượng hùng mạnh của các quốc gia dân chủ như Hoa Kỳ; bằng cách giấu nhẹm thông tin về vụ việc trước quốc dân và không trình vụ việc lên Tòa án quốc tế. Đây là một sự đồng lõa với âm mưu “xâm hại chủ quyền quốc gia” của Tàu cộng.

Trước thái độ “hợp đồng” này, đồng bào Việt Nam, đặc biệt tại quốc nội, mấy Chúa nhật tháng 6, đã biểu tình khắp nơi, đặc biệt tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn. Lẽ ra phải nhận thấy đó vừa là sự nhắc nhở cảnh báo, vừa là sự trợ giúp ủng hộ, nhà cầm quyền Việt cộng lại ra tay hạn chế và quấy rối (tại Hà Nội), cấm cản và bắt bớ (tại Sài Gòn), hăm dọa và ngăn chận trọn vẹn (tại Hải Phòng, Nghệ An, Đà Nẵng)… Thông tấn xã Việt Nam và 700 tờ báo trong nước không dám nhắc đến 2 chữ “biểu tình”, đang khi báo chí nước ngoài và báo chí “lề trái” đã phổ biến chi tiết cùng hình ảnh “phong phú, sinh động” về các cuộc xuống đường chống Tàu cộng như vậy.

Nhiều biện pháp đểu cáng và hung bạo đã được tung ra để bóp chết lòng yêu nước và hành hạ người yêu nước. Lẽ ra nhân cơ hội toàn dân muốn đoàn kết để bày tỏ sự phản kháng lũ ngoại xâm, thậm chí có người còn đề nghị Quốc hội xác định quyền biểu tình, ban hành Luật Đoàn kết dân tộc, sau khi một nhóm trí thức ra Tuyên cáo về việc Tàu cộng có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam (tiếc là Tuyên cáo này không đề cập đến việc quốc tế hóa, đa phương hóa vấn đề biển Đông), nhà cầm quyền phải thả ngay những nhà dân chủ đã bị tống ngục vì bênh vực chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ này (như nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, cô Phạm Thanh Nghiên, luật sư Cù Huy Hà Vũ…), phải đổi mới hệ thống chính trị theo mệnh lệnh của tình thế. Đau đớn thay, Việt cộng lại càng ra tay hung bạo cách trắng trợn, điển hình là bắt bớ, hành hung, khám nhà và tống ngục Mục sư Phạm Ngọc Thạch hôm 25-06 khi ông đi dán truyền đơn về Hoàng Trường Sa, mang tội “kích động biểu tình, vi phạm pháp luật”!?! Những ai dũng cảm biểu lộ lòng yêu nước, chống ngoại xâm tiếp tục ngồi tù và sẽ tiếp tục vào tù. Thật là chưa từng có trong lịch sử Việt Nam và lịch sử loài người (thậm chí trong “lịch sử” loài vật).

Thái độ đồng lõa với giặc mới đây còn biểu lộ qua việc cùng ngày nói trên (25-06), Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã thân hành sang Trung Hoa gặp Ủy viên Quốc vụ Tàu cộng là Đới Bỉnh Quốc (mình là nạn nhân mà lại đi xin “cầu hòa” thì đúng là khiếp nhược, quỵ lụy và vô liêm sỉ). Cùng nhai lại 16 chữ vàng và 4 tốt, “hai bên khẳng định cần tích cực thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo hai nước, giải quyết hoà bình các bất đồng trên biển giữa hai nước thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị, áp dụng biện pháp có hiệu quả, cùng nhau duy trì hoà bình và ổn định tại Biển Đông, tăng cường định hướng đúng đắn dư luận, tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước, đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm kết ký kết “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam – Trung Quốc”; thúc đẩy việc thực hiện “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và công việc tìếp theo, cố gắng sớm đạt tiến trển thực chất”. Điều này có nghĩa là Việt cộng đã chấp thuận thoả hiệp song phương với Tầu cộng, để ký kết dâng thềm lục điạ của mình cho Tầu trước, rồi sau đó cùng đứng chung một phía với Tầu để thảo luận đa phương với các nước trong khối ASEAN và Hoa Kỳ, theo tuyên bố DOC sau.

Mỉa mai thay, trong cùng ngày của cuộc gặp gỡ này, viên tướng Bành Quang Khiêm, phó tổng thư ký Ủy ban Chính sách an ninh quốc gia, thành viên Hội Nghiên cứu Khoa học Chính sách Tàu cộng, lại ngạo mạn tuyên bố: “Trung Quốc từng dạy Việt Nam một bài học và có thể cho Việt Nam bài học lớn hơn nữa”. Khiêm không quên đổ lỗi cho Việt Nam và Philippin gần đây “liên tục khiêu khích”. Khiêm còn dùng những ngôn từ khích động rằng: “Nếu Việt Nam tiếp tục diễu võ dương oai, múa trên lưỡi dao, sớm muộn có ngày Việt Nam sẽ ngã trên lưỡi dao đó”. Nhà cầm quyền Việt cộng không biết tới thái độ nước lớn chẳng bao giờ thay đổi này của Tàu cộng chăng?

Tại sao Việt cộng vẫn mãi “đồng lõa với giặc, gian ác với dân” như thế? Đó là vì đối với Việt cộng sản, độc lập tự do của đất nước chỉ là chiêu bài (nay không cần dùng nữa), Tổ quốc Dân tộc chỉ là những khái niệm vô nghĩa. Việt cộng chỉ biết có một điều duy nhất: quyền lực của đảng, quyền lợi của phe phái; chỉ có một bận tâm duy nhất: giữ ngai vàng bằng mọi giá, dù có phải bán nước, buôn dân!

Tiếp tục đè đầu, bịt miệng, móc túi, thắt dạ dày nhân dân

Bị đè nặng bởi một quá khứ đầy tội ác đối với nhân dân và đất nước, bị lạc hướng vì những sai lầm do cuồng tín vào một chủ thuyết mà cả nhân loại đã phỉ nhổ, bị suy yếu vì những thất bại về kinh tế, tài chánh, văn hóa, vì thói khiếp nhược trước đàn anh Tàu cộng và vì sự chống đối của mọi tầng lớp nhân dân, chế độ Cộng sản Việt Nam đang nhìn thấy ngày tàn của nó đến gần. Thúc đẩy bởi bản năng sinh tồn, nhưng không sáng suốt trả mọi quyền cho nhân dân theo gương Miến Điện, trái lại vẫn mù quáng trong não trạng Cộng sản là sính độc tài, gian dối và bạo lực, tập đoàn Ba Đình Hà Nội tiếp tục giở thói đè đầu, bịt miệng, móc túi và thắt dạ dày nhân dân.

1- Đè đầu: Người ta những tưởng đảng sẽ lợi dụng cơ hội sửa đổi Hiến pháp để làm một bước đột phá liên quan đến điều 4 và chuyện tam quyền, như nhân dân và nhân sĩ lâu nay đòi hỏi. Thế nhưng hội nghị Trung ương 5 Đảng vừa khai mạc hôm mồng 7 tháng 5 -nhằm bàn thảo các chủ đề quan trọng, trong đó có việc sửa đổi Hiến pháp- đã khiến ai nấy thất vọng. Ngay từ đầu, Tổng bí thư CS Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo các ủy viên trung ương là chỉ sửa đổi và bổ sung vào Hiến pháp 1992 “những vấn đề thực sự cần thiết, được thực tiễn chứng minh là đúng”. Những vấn đề thực sự cần thiết, được thực tiễn chứng minh đúng đắn này, theo đầu óc cố chấp của ông ta, vẫn là “phải tiếp tục khẳng định bản chất của thể chế chính trị” Việt Nam mà ông giải thích là “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” và rằng “nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng”, rồi thì vẫn là “quyền lực nhà nước là thống nhất” và “sẽ không có chuyện tam quyền phân lập” mà chỉ “có sự phối hợp phân công”.

“Thực tiễn chứng minh là đúng” có nghĩa là cơ cấu tam quyền phân công quái đản ấy đã giúp đảng thống trị dài lâu không có đối thủ, đã giúp bộ Chính trị cai quản đất nước như một bạo chúa tập thể chuyên quyền, đã giúp các thành viên Trung ương đảng (vốn đứng đầu các bộ, các tỉnh, các cơ quan trọng yếu) hành xử như những lãnh chúa địa phương, những ông trời con mặc sức làm mưa làm gió trong địa hạt trấn nhậm. Thành ra dại gì mà không dùng Quốc hội gia nô để củng cố lần nữa ngai vàng của Bộ Chính trị? Tam quyền phân lập để Quốc hội phải làm luật theo ý dân sao? để tòa án phải xét xử theo công lý và pháp luật sao? để chính quyền phải phục vụ nhân dân như công bộc sao? để công an và quân đội hết làm “lá chắn và thanh kiếm bảo vệ đảng và chế độ” sao?

2- Bịt miệng: Tuy đảng nhất quyết phải đứng đè đầu nhân dân, phải ngồi xổm trên pháp luật, nhưng xui cho đảng là kỹ thuật thông tin của thời hiện đại đã làm vỡ từng mảng bức tường bưng bít mà đảng đã dựng lên từ lâu. “Nghe theo đảng, nói theo đài”, “đảng là tiêu chuẩn của công lý và sự thật” đã trở thành trò cười cho thiên hạ từ khi nhân dân có máy vi tính, có mạng toàn cầu, có điện thoại di động… Sai lầm của đảng ngày càng bị vạch trần, tội ác của đảng ngày càng bị tố cáo, các thánh nhân và anh hùng của đảng ngày càng bị lật tẩy để phô bày ra tất cả sự đê tiện, đểu giả, gian tham, tàn ác, mà nổi bật nhất là Hồ Chí Minh (Hai cựu đảng viên cao cấp là Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn mới đây đã xác nhận điều này). Dù thế, đảng vẫn không thất vọng, vẫn tìm cách kiểm soát sàng lọc mọi thông tin, hướng dẫn lèo lái mọi nhận định.

Chính vì vậy mà bộ Thông tin Truyền thông đang nỗ lực xây dựng một quy định mới hòng tăng cường quản lý việc sử dụng, khai thác mạng internet, trong đó dự kiến bắt người sử dụng phải công khai thông tin cá nhân, cũng như yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải chia sẻ thông tin khách hàng với bộ phận quản lý của nhà nước, của đảng. Đây là hai trong số những điểm mới của một dự thảo có tên “Nghị định quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và nội dung thông tin trên mạng” đang được bộ Bốn T soạn thảo, nhằm thay thế Nghị định 97-CP đã được ban hành từ năm 2008. Cụ thể là các blogger sẽ bị buộc phải đăng ký dưới danh tính thật và địa chỉ thật. Các website chứa các trang blog đó buộc phải khai báo bất kỳ hoạt động “bất hợp pháp” nào. Các tập đoàn internet ngoại quốc, đứng đầu là Facebook và Google, phải hợp tác với nhà cầm quyền Hà Nội. Song song đó, đảng tiếp tục trò răn đe trấn áp bằng những phiên tòa kết án các blogger cứng đầu cứng cổ như nhóm Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, trò bịt miệng các chứng nhân và nạn nhân như trong phiên xử phúc thẩm ông Trịnh Xuân Tùng (bị đình hoãn), như qua những biện pháp vô luật đối với các nông dân bị bắt sau cuộc càn quét ở Văn Giang, Hưng Yên mới rồi.

3- Móc túi: Do tài năng kém cỏi, do lương tâm thui chột, do lòng tham vô đáy, tập đoàn lãnh đạo CS đã đặt đất nước vào cơn khủng hoảng kinh tế và tài chánh nghiêm trọng. Những đại tập đoàn, những tổng công ty -từng được tâng bốc như các quả đấm thép- đã thật sự tung những quả đấm làm vỡ ngân khố quốc gia, dự trữ xã hội, gây nên những món nợ khổng lồ. Thành ra phải tìm cách móc túi, vét túi nhân dân để bù lỗ. Và đó chính là lý do của việc ra đời Nghị định số 95/2011/NĐ-CP ngày 20-10-2011 liên quan đến đồng đô-la và Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03-04-2012 liên quan đến vàng miếng.

Nghị định 95/2001 có những chế tài khủng khiếp, tăng những “vi phạm” lên gấp nhiều lần, có những khoản phạt khi dự thảo ở mức 45 triệu đồng nhưng khi ban hành chính thức đã vọt lên đến 500 triệu, có lệnh cấm: giao dịch USD tự do sẽ bị bắt và tịch thu. Ngoài ra, theo một nguồn tin khả tín thì từ đầu năm ngoái đến nay, nhà cầm quyền đã in ra hơn 120 ngàn tỷ VNĐ. Nhưng in bạc ra nhiều như thế tại sao lại chẳng gây thêm lạm phát, lại không thấy nó trong lưu thông tiền tệ? Ấy là vì nó đã dành để thế cho số USD lên tới 6 tỷ mà nhân dân gửi ở Ngân hàng. Nghĩa là tiền đô của nhân dân nhờ các Ngân hàng Nhà nước giữ đã bị “VNĐ hóa”, hóa thành tiền Hồ, tiền Việt. Nhà nước đã in ra tiền Việt và bơm vào hệ thống ngân hàng để rút tiền đô của dân theo một chu trình khép kín. Tóm lại là dân không có tiền đô nữa mà chỉ còn tiền Hồ thôi! Rủi hôm nào đó có chính biến thì mớ tiền ấy trở thành giấy lộn. Người ta bảo chiêu là này của Thống đốc Ngân hàng Nguyễn Văn Bình và Bộ trưởng Tài chánh Vương Đình Huệ mà tài năng kinh tế chỉ nằm ở chỗ sử dụng các công cụ tài chính để ăn cướp tiền của dân.

Về vàng cũng thế. Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, mở cửa cho đầu tư ngọai quốc, nhà nước mời dân gởi vào ngân hàng, chủ yếu ngân hàng nhà nước, tiền tiết kiệm bằng đô và vàng, với lãi suất cao, với lời hứa gởi gì lấy lại nấy. Gần đây, viện cớ chống lạm phát, nhà nước “quản lý” vàng, cấm tư nhân không được sản xuất và kinh doanh vàng, chỉ có cơ quan nhà nước, ngân hàng nhà nước mới được. Rồi nhân danh chủ quyền quốc gia, nay lại cấm người dân thanh toán, giao dịch với nhau bằng vàng (kể từ ngày 25-05 tới). Vàng phải bán cho công ty nhà nước, và vàng thiệt đã gửi cho ngân hàng nhà nước thì chỉ được trả lại bằng vàng giấy (chứng chỉ) khi muốn đòi lại! Không khéo sẽ đến một lúc nào đó, đảng tuyên bố cất giấu vàng là phạm pháp và lực lượng cưỡng chế có thể vào mỗi tư gia, “phá két sắt và đào nền nhà” lên để truy tìm tang vật.

Cũng cần nói thêm một cách thức móc túi mới, đó là cái luật quái gở nhất hành tinh và chưa từng thấy trong lịch sử : xử phạt vi phạm đối với những trường hợp sử dụng nhà ở sai mục đích! Nghĩa là dùng nhà ở làm nơi kinh doanh. Và số tiền phạt này sẽ từ 20 đến 30 triệu. Nếu muốn tránh bị phạt thì phải dẹp tiệm hay chung chi đầy đủ cho các quan chức nhà nước và công an địa phương. Quy định này được ban hành bởi Bộ Xây dựng, nơi con trai thủ tướng Dũng là Nguyễn Thanh Nghị đang giữ chức thứ trưởng. Điều luật vi hiến và bất nhân này, ngoài việc muốn thọc sâu vào túi tiền từng nhà và khoắm sạch thu nhập của dân, còn muốn tạo ra tâm lý nhà nào cũng vi phạm luật pháp, khiến nhân dân luôn mang mặc cảm phạm tội và tâm trạng sợ hãi chế độ.

4- Thắt dạ dày: Nhờ nguyên tắc pháp lý quái đản: nhà nước đại diện sở hữu mọi đất đai, cộng sản từ mấy chục năm nay đã lộng hành xóa sổ hàng triệu hecta đất nông nghiệp “bờ xôi ruộng mật” qua chủ trương gọi là “xây dựng khu du lịch sinh thái, khu đô thị sinh thái, khu chế xuất công nghiệp, khu giải trí cao cấp sân gôn, sòng bài”…. Việc xây dựng này đã được thực hiện với những cuộc thu hồi ngang nhiên, đền bù rẻ mạt, cưỡng chế tàn bạo, mà điển hình mới nhất là tại Đak Ngô (Đak Nông), Văn Giang (Hưng Yên), Dương Nội (Hà Đông), Vụ Bản (Nam Định)… Hơn nữa, chính sách nông nghiệp lại chỉ tạo cơ hội cho các công ty lương thực làm giàu trên xương máu những con người sản xuất ra hạt lúa. Tất cả đã tước đoạt nguồn sống, kế sinh nhai của hàng triệu nông dân lẫn thị dân Việt, thắt dạ dày của họ ngày càng teo tóp hơn.

Ngoài ra, vì nông dân bị xem như tá điền, chỉ được thuê ruộng nhà nước trong 20 năm, nên như ông Nguyễn Minh Cần nói, “họ coi mảnh ruộng đất của nhà nước giao như là một vật dụng được mượn tạm, trước sau gì cũng phải trả lại, cho nên họ cố khai thác triệt để theo kiểu vắt kiệt mảnh ruộng đất đó để cố kiếm lợi nhanh chóng nhất, chứ không muốn xây dựng cho mình kế hoạch lâu dài, họ không muốn đầu tư công sức, tiền của để cải tạo chất đất, tăng độ phì nhiêu cho đất để tăng năng suất, tăng thu hoạch cho mình, vì họ sợ uổng phí công sức, tiền của mà cuối cùng bản thân mình và con cháu chẳng được hưởng gì khi mảnh ruộng đất đó bị thu hồi. Cái tâm lý đó ảnh hưởng rất tiêu cực về mặt kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước” và chắc chắn sẽ gây nguy cho an ninh lương thực, sẽ thắt dạ dày không những của nông dân mà là của toàn thể nhân dân.

Đang lúc Tàu cộng, thầy và anh của Việt cộng, cho thấy nhiều dấu hiệu biến chuyển theo chiều hướng cởi mở hơn về chính trị (vụ dân làng Ô Khảm tự bầu đại diện năm rồi, vụ bí thư tỉnh Quảng Đông tuyên bố hôm 09-05: “Nói đảng CS và chính quyền phục vụ nhân dân là một điều sai quấy cần phải dẹp bỏ”), về kinh tế (cởi trói dần dần cho thị trường tài chánh, giảm bớt việc kiểm soát tiền vốn, cho đồng nhân dân tệ được thả nổi nhiều hơn…) thì tập đoàn lãnh đạo Ba Đình vẫn cứ mù quáng với đường lối chính trị độc đoán và chủ trương kinh tế lỗi thời. Họ tưởng như thế là sẽ kéo dài thêm sự tồn tại vốn mong manh của họ và củng cố thêm ngai vàng vốn lung lay của họ sao?

Tự Do Thông Tin Ngôn Luận

Posted in: Chính Trị