Lý Luận Của Ông Độc Quyền Và Sự Thật

Posted on July 14, 2012

0



Ngôi nhà của dân lao động dù chỉ thắp 1 ngọn đèn cũng chịu ảnh hưởng bởi điện tăng giá vì các loại thực phẩm, gạo muối, thuốc men đều tăng cao.

Giá điện tăng 5% kể từ sáng ngày 1/7 làm lu mờ những câu chuyện về Euro 2012. Ngay trước khi trận chung kết giữa Tân Ban Nha và Ý diễn ra vào ngày 1-7, ở VN là vào đêm 1-7 bước sang 2-7. Ngay buổi sáng hôm 1-7 người VN chưa xem trận cuối cùng hứa hẹn rất hào hứng đã xen vào nỗi lo giá điện nước tăng, xem trận chung kết rất hay song không trọn vẹn. Nỗi lo vẫn ám ảnh trước mặt.

Cũng cần phải kể đến nạn cá độ bóng đá, “hậu Euro” đã và đang để lại những hậu quả lớn lao và lâu dài. Kỳ trước, tôi đã tường thuật những nét chính, chắc các bạn đã biết qua rõ rồi, nó cũng là nỗi ám ảnh trong nhiều gia đình.

Chuyện Euro đã thành lạc hậu
Thế nên sau trận chung kết này, hầu hết những người hâm mộ bóng đá cũng chỉ còn nhớ đôi điều về Euro năm nay.

“Thằng Tây Ban Nha ăn Ý tới 4 trái, không ai ngờ tới được. Có người bực mình cho rằng cầu thủ Ý bán độ.. Tôi không tin bởi thực lực đội Ý chỉ có thế. Trận trước Ý đá rất hay thắng Đức, nhưng trận này lại đá rất dở với TBN, bởi lối đá của “thằng Tây” quá linh hoạt, chẳng biết đường nào mà đỡ. Thằng nào cũng là tiền đạo, thằng nào cũng sút được hết, không chỉ có môt hai anh như Balotelli, như Pirlo của Ý. Nó thua là đáng đời. Nhưng thôi quên nó đi, giá điện nước đang tăng, giá ngoài chợ cái gì cũng tăng, thế mà nói lạm phát giảm thì giảm ở cái chỗ nào? Hay là giảm với các ông chuyên tính toán, vẽ sơ đồ cho nhà nước. Lo làm gì chuyện tận Ba Lan, lo chuyện cơm gạo áo tiền của vợ con mình chưa xong”. Có lẽ người bình dân chỉ lý giải “ngây thơ” cái gì cũng tăng là lạm phát tăng.

Đó là đại ý những câu chuyện của mấy anh tài trẻ chờ khách trong cái “bến xe ôm” ở đầu mấy cái ngã tư thành phố và dân đầu chợ. Những cái bến xe ôm tự phát, không ai tổ chức, nó tự động mọc lên ở những địa điểm thuận tiện cho việc đón khách. Đôi khi có cả mấy chị bán cây cảnh, anh hàng quà rong ghé vào góp chuyện.

Cho nên bây giờ nói đến chuyện Euro trở thành lạc hậu, có thể nói là xa xỉ, chuyện đó chỉ dành cho những ông rủng rỉnh tiền bạc, ngày rộng tháng dài, điện nước có tăng cũng chẳng ảnh hưởng gì tới đời sống của gia đình họ. Người yêu bóng đá không còn được hưởng cái dư âm ngọt ngào của những ngày hội bóng đá lớn như Euro, như World Cup vừa qua. Họ không còn hào hứng để biết Torres hay Xavi, anh nào lãnh giải quả bóng vàng, anh nào là cầu thủ xuất sắc nhất nữa. Euro chỉ còn lại trong ký ức lơ mơ của người bình dân và rồi nó sẽ lu mờ dần vài ngày là mất hẳn.

Những câu chuyện cửa miệng của các bác xem ôm, của mấy chị bán hàng rong phản ảnh trung thực nhất tình hình sinh hoạt của đại da số người dân. Chẳng phải chỉ có thành phần người lao động đó lo ngại mà ngay cả những gia đình công tư chức, gia đình trung lưu, ngay cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa quanh đây cũng đang méo mặt về chuyện tăng giá điện.

Lý luận của ông độc quyền
Giá điện sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh đồng loạt được điều chỉnh, với mức tăng trung bình 65 đồng, tương đương 5% lên trung bình 1.369 đồng mỗi kWh (chưa bao gồm VAT). Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho rằng, việc điều chỉnh giá bán điện ngày 1/7 có tác động động không lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân (?).

Các gia đình nghèo, gia đình có thu nhập thấp sử dụng điện sinh hoạt đến 50 kWh mỗi tháng không bị tác động do giữ nguyên giá bán điện. Các nhà sử dụng điện sinh hoạt bình thường 100 kWh mỗi tháng tăng chi 4.200 đồng mỗi tháng, sử dụng 150 kWh tăng chi 8.600 đồng, sử dụng 200 kWh tăng chi 14.050 đồng, sử dụng 300 kWh tăng chi 26.050 đồng, sử dụng 400 kWh tăng chi 38.950 đồng.

Thật ra quyết định tăng giá điện được đưa ra trong bối cảnh EVN thua lỗ và nợ đọng các đối tác hàng ngàn tỷ đồng. Đúng lúc này, chỉ số giá tiêu dùng cũng đang ở mức thấp kỷ lục suốt 38 năm qua. Một số ý kiến cho rằng có thể tận dụng bối cảnh này để điều chỉnh một cách hợp lý giá các mặt hàng thiết yếu đang phải kìm nén lâu nay. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cảnh báo CPI âm hiện nay chủ yếu do sức mua của người dân kiệt quệ vì kinh tế suy giảm, thu nhập của từng gia đình sa sút.

Sau khi tăng hơn 15% vào tháng 3 năm 2011, giá điện tiếp tục tăng lần thứ hai trong năm vào ngày 20/12/2011, lên 1.304 đồng mỗi kWh, tăng 62 đồng, tương đương với 5%. Ngành điện cho biết, với mức tăng này, EVN thu thêm được khoảng 6.000 tỷ đồng và chỉ đủ bù lỗ cho chi phí môi trường rừng khoảng 700 tỷ đồng, chi phí nhiên liệu trong năm 2012. Còn khoản lỗ 10.000 tỷ đồng, EVN vẫn chưa thể giải quyết được. Đó là vấn đề của EVN trong chiến lược kinh doanh.

Lạm phát cao đánh vào đời sống người dân
Về phía người dân, tỉ trọng thu nhập của người dân tiêu pha cho việc ăn uống ngày càng cao tất yếu mức sống của người dân càng thấp. Lạm phát ở Việt Nam đang quá cao và là một thứ “thuế” rất nặng đánh vào đời sống người dân.

Lạm phát tháng 6-2012 giảm nhưng giá cả hàng hóa vẫn đứng ở mức cao. So với tháng 12-2011, chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 2,52%, nhưng nếu so với cùng tháng này năm 2011, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng đến 6,9%.

Hiểu một cách đơn giản nhất, lạm phát là hiện tượng tăng giá của hàng hóa khiến cho cùng một mức tiền nhưng chỉ mua được số hàng hóa ít hơn. Khi giá tiêu dùng tăng lên, thu nhập không tăng tương ứng nên người dân phải giảm lượng tiêu dùng hoặc giảm loại hàng hóa, làm dịch chuyển sức mua.

Cụ thể, ông Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội, ông Vũ Vinh Phú, cho biết theo thống kê của hiệp hội, số người mua sắm tại hệ thống siêu thị Hà Nội 6 tháng đầu năm nay đã giảm một nửa so với trước. Doanh số bán hàng phi thực phẩm giảm rất mạnh do cơ cấu giỏ hàng của khách mua hiện nay chủ yếu là mặt hàng lương thực, thực phẩm phục vụ ăn uống hằng ngày, chiếm đến 80%.

Bà Dương Thị Quỳnh Trang, Giám đốc đối ngoại của hệ thống siêu thị BigC, cũng nhận định: Doanh số bán hàng của các mặt hàng gạo, thịt, trứng, đường… nhích lên trong khi hàng may mặc, tivi, tủ lạnh… bán ngày càng chậm.

Không còn tiền để nâng cao đời sống
Kết quả điều tra xã hội học về đời sống dân cư năm 2010 do Tổng cục Thống kê công bố cho thấy người dân đang phải dành quá nửa thu nhập để chi tiêu cho ăn uống hằng ngày. Năm 2002, tỉ trọng chi cho ăn uống chiếm 56,7% trong chi tiêu đời sống và đến năm 2010 giảm xuống còn 52,9%. Tỉ trọng chi ăn uống trong chi tiêu đời sống là một chỉ tiêu đánh giá mức sống cao hay thấp. Tỉ trọng chi ăn uống càng cao thì mức sống càng thấp và ngược lại.

Trong những hàng hóa gồm 10 nhóm tính CPI hiện nay, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (gồm lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình) chiếm tới 42,85% tỉ trọng cả nhóm hàng hóa. Điều này cũng cho thấy cơm ăn, nước uống vẫn là vấn đề quan trọng nhất của người dân, chiếm tỉ trọng gần bằng tổng số tiền các nhu cầu khác cộng lại. Vì vậy, sau khi lo cho đủ cơm ăn, nước uống và dành một phần để dành, người dân không còn tiền để chi cho các hàng hóa, dịch vụ khác nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.

Báo cáo kết quả nghiên cứu tâm lý, thái độ người tiêu dùng của người dân TP Sài Gòn năm 2011 do Báo Sài Gòn Tiếp Thị thực hiện cũng cho thấy ăn uống chiếm 34,3% tổng thu nhập của người dân. Còn lại, khoảng 30% để dành và tất cả các nhu cầu khác như học hành, chữa bệnh, vui chơi giải trí, mua sắm thiết bị gia đình… đều gói gọn trong hơn 30% thu nhập còn lại.

Theo chuyên gia kinh tế Trần Hoàng Ngân, tăng trưởng thấp, lạm phát vẫn cao đang khiến người dân phải vật lộn với cuộc sống. Trong hoàn cảnh này, số người nghèo không những không giảm mà còn tăng lên do khả năng tái nghèo ở một bộ phận dân cư rất cao.

Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên nhận xét lạm phát ở Việt Nam đang quá cao và đây là một thứ “thuế” rất nặng đánh vào đời sống người dân.

Người dân phải gồng gánh cả những thua lỗ của ngành điện
Đã có rất nhiều ý kiến của các chuyên gia kinh tế khi đề cập việc điều chỉnh tăng giá điện 5% vừa qua của Bộ Công Thương. Các chuyên gia cho rằng đây không phải thời điểm thích hợp cho việc tăng giá, nhất là tăng với những lý do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đưa ra.

Chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Minh Phong cho rằng thực ra chỉ có một lý do giải thích hợp lý việc tăng giá là lấy kinh phí này để bù vào những khoản lỗ trong các năm trước. Và tăng giá điện còn để bù vào những khoản lương “khủng” của lãnh đạo ngành điện, thay vì chi phí sản xuất.
EVN đang tính giá điện theo cách “gom” mọi chi phí đầu vào để ra giá thành. Điều này chẳng khác nào bắt người dân gồng gánh những hoạt động đầu tư ngoài ngành thua lỗ của mình. Trong khi người dân lại không thể kiểm soát được đâu là chi phí sản xuất, chi phí đầu tư ngoài ngành… EVN là tập đoàn Nhà nước được ưu ái về nhiều mặt từ vốn, đầu tư… nhưng không giúp cho việc giảm giá điện mà còn tăng liên tục trong thời gian qua.

Một đòn nặng vào các doanh nghiệp (DN)
TS Lê Đăng Doanh nói: Điện là yếu tố đầu vào của hàng loạt ngành sản xuất nên tác động từ việc tăng giá sẽ lớn hơn nhiều mức công bố của EVN, nhất là việc lợi dụng tăng giá điện để “té nước theo mưa”. “Có thể sau vài tháng, người ta mới thấy tác động trực tiếp của việc điện tăng giá nhưng chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều so với dự báo của EVN và không thể là “tác động không đáng kể”. Ông lo ngại doanh nghiệp (DN) đang phải xoay xở với hàng loạt khó khăn trước mắt, nay điện tăng giá, giá nước cũng tăng gấp rưỡi từ ngày 11-7 chẳng khác nào bồi thêm một đòn nặng nề cho DN. Các DN sẽ phải tăng chi phí, đẩy giá thành sản phẩm tăng lên nhưng giá bán lại khó điều chỉnh nên càng khó khăn.

Các chuyên gia kinh tế lo ngại DN sẽ bị bồi thêm đòn nặng vào hoạt động sản xuất kinh doanh đang bị đình trệ hiện nay. Trong kết quả rà soát số lượng DN được Tổng cục Thống kê công bố mới đây, tại thời điểm ngày 1-1 có đến 92.710 DN không thể xác minh được (là DN đã đăng ký kinh doanh, cấp mã số thuế nhưng thực chất không còn hoạt động vì thua lỗ, bỏ trốn, giải thể…).

Số lượng tạm ngừng sản xuất kinh doanh, chờ giải thể lên tới hơn 55.000 DN. Còn hàng ngàn DN đang “sống lay lắt” vì gặp nợ xấu, khó vay vốn, không bán được hàng sẽ gặp cú sốc từ việc điện tăng giá.

Có một thực tế hơn cả thực tế là tâm trạng người dân
Nói những chuyện trên đây còn mang đậm tính chất lý luận về kinh tế, chưa rõ ràng lắm về đời sống thực của người dân. Có một thực tế dễ hiểu và trung thực hơn, đó là những lời phát biểu từ trong sâu thẳm ý nghĩ của người dân trong hoàn cảnh hiện nay. Tôi không nói nhận định của riêng mình, xin mượn tâm tình của người dân trên các trang thông tin của báo chí trong nước lên tiếng về vần đề này, bạn đọc dễ thông cảm hơn cái giá của người dân phải trả khi điện nước tăng giá. Người dân nghèo “mạt” nhất, có thể chỉ trả giá điện như cũ, nhưng thực tế họ đã phải mua bất cứ thứ gì cũng đắt hơn trước. Như thế ảnh hưởng sẽ rất lớn đối với đời sống quá nghèo của họ hiện nay, còn hơn là phải trả giá tiền điện như cũ. Lý luận của EVN và các “nhà thống kê” không thuyết phục được người dân.

Thể hiện lòng “yêu nước”

– Bạn -Le Hung (lehung2010@yahoo.com) trên báo Người Lao Động có một ý kiến nửa cay đắng, nửa khôi hài:
“Đồng ý lạm phát là một thứ thuế đánh vào người dân. Nhưng nói theo lời của một BT (bộ trưởng), thì nộp thuế càng cao thì càng thể hiện lòng yêu nước, nên tôi nghĩ là người dân nên vui mừng vì khi lạm phát cao thì mình càng yêu nước nhiều hơn. Không đủ tiền mua thực phẩm, thì chúng ta nên uống nhiều nước hơn. Đó cũng là thể hiện lòng “yêu nước”.

Các ông độc quyền mặc sức tung hoành

– Bạn Nguyễn Các Điềm (ncdiem.aasc@gmail.com) lại chĩa mũi dùi vào các ông độc quyền:
“Đó là điều thật dễ hiểu. Hậu quả của các ngành thiết yếu như: xăng dầu, điện, nước… đều được CP (chính phủ) giao hết cho các ông độc quyền mặc sức tung hoành. Thuế, phí, lệ phí… như cái mạng nhện rồi đổ hết lên đầu người dân. Người dân kêu gào thì CP lại sợ thâm hụt, thất thu ngân sách. Tham nhũng thì ngày càng quy mô, xử lý thì như cóc bỏ dĩa. Kinh tế không lao dốc, rơi tự do mới là chuyện lạ.”

Các nhà khảo sát chưa hợp với tính thực tiễn
– Bạn Tai Lanh (lgtvquoi@gmail.com) đưa ra những điển hình về sự khảo sát điều tra của các nhà thống kê chưa làm đúng với thực tế đời sống của nhân dân:
“Các chuyên gia kinh tế đều đưa ra tình trạng rất khả quan cho nên kinh tế Việt Nam nào lạm phát kiềm chế lạm phát đã có tác dụng, lo ngại sự giảm phát xảy ra. Nhưng thực tế đời sống của người dân chưa được cải thiện, nhứt là bộ phận làm công ăn lương, cán bộ hưu trí, đồng lương công chức hiện nay không đủ sống tối thiểu được một tháng, người mới ra trường có việc làm thì sống với đồng lương tần tiện lắm chỉ được 20 ngày, ra chợ cái gì cũng tăng, không tăng tiền thì giảm lượng nhưng các nhà điều tra không quan tâm đến điều này, ví dụ: một bó rau muống 5.000đồng khoảng 1 ký, nay bó rau muống cũng 5.000đồng nhưng trọng lượng còn 500g.
Đó là một thực tế mà các nhà thống kê chỉ số giá tiêu dùng cần quan tâm, không chỉ cứ nhìn bề ngoài không tăng giá mà đánh giá giá cả hàng hóa giảm không tăng, mà tất cả các mặt hàng thiết yếu tiêu dùng trong bữa ăn hàng ngày đều tăng đến chóng mặt. Mong rằng các nhà kinh tế khảo sát điều tra hãy thực tế hơn, không chỉ cứ căn cứ vào rổ hàng hóa mà các ngài đưa ra chưa hợp với tính thực tiễn cuộc sống hằng ngày của người dân”.

Chuyện anh hàng xóm bất lương xin để kỳ sau bàn tiếp

Thưa bạn đọc,

Đó là mối lo thiết thực, mối lo tâm huyết của người dân VN trước một đời sống quá khó khăn. Tất nhiên, tình hình chung trên toàn thế giới hiện nay, nước nào cũng lâm vào tình trạng suy thoái kinh tế, nước nào cũng lo tiết kiệm từ ngân sách chính phủ đến số tiền chi tiêu hàng ngày của người dân. Mỗi nước có hoàn cảnh khác nhau, VN cũng không thể đi ra ngoài cái qũy đạo chung ấy. Có thể nói bất cứ thứ gì tăng giá cũng làm người dân lo lắng, ở VN giá điện nước tăng có một hiệu ứng rất lớn với người dân và ngay cả các doanh nghiệp. Đó là đề tài nóng bỏng nhất trong đời sống thực tế.

Vấn đề thứ hai là chuyện anh hàng xóm xấu bụng Trung Quốc luôn dùng mọi thủ đoạn thâm độc nhất để phá phách nền kinh tế của VN. Mới nhất anh ta còn mời cả thế giới tham dự vào trò chơi đấu thầu khai thác dầu vùng biển thuộc chủ quyền VN. Đó là một trò cười, ngang nhiên coi như “đất nhà hàng xóm thuộc quyền của mình”.

Cái trò chơi ngông cuồng ấy càng thể hiện bộ mặt “xâm lược” xấu xa mà lâu nay anh ta che giấu dưới muôn hình vạn trạng khác nhau. Nào là “hữu hảo, hữu nghị, VN và TQ như răng với môi…” Nhưng bây giờ rõ ràng răng cắn môi đau quá, ai cũng thấy trò thâm độc này của anh “răng cắn vỡ môi”.

Ngoài ra còn những chuyện trớ trêu là những “bệnh viện” của người Trung Quốc nằm la liệt chình ình giữa Hà Nội, Sài Gòn từ bao năm nay, các cơ quan được gọi là chức năng vẫn bình thản coi như nó hợp lệ, cho nó tự do lừa bịp móc túi dân, trong đó phải kể đến cả sự tiếp tay của những cơ quan được gọi là truyền thông VN.

Thêm một chuyện hy hữu nữa là người Việt đã cùng thương nhân Trung Quốc xây dựng trái phép một nhà máy chế biến tinh bột wolfram (ATP) xuất khẩu công suất 3.000 tấn/năm trên diện tích 5 ha tại TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, nhưng chính quyền không hề hay biết. Sự việc diễn ra từ đầu năm 2011 đến tận tháng 11.2011 chính quyền địa phương mới phát hiện…

Kỳ này dành riêng cho những sự việc không thể không nói về thực trạng đời sống và dư luận của người dân Việt, kỳ sau xin điểm tiếp đến những trò chơi gian lận của anh hàng xóm bất lương này.

Văn Quang

Những biểu hiện tiêu cực trong thể chế độc tài đảng trị

Đã là đảng thì tất phải có đảng trưởng. Đảng trưởng là nhân vật tối thượng, có nhiều lợi quyền nhất. Trong một quốc gia, nếu độc đảng toàn trị, đảng trưởng như một ông vua, đảng viên là quần thần, còn lại là đám thảo dân. Đảng CSVN hiện nay là đứa con lai tạp chủng, giống cha nhiều hơn giống mẹ, cha là ông Phong (Phong kiến), mẹ là bà Tư (Tư bản), đang hưởng di sản cha mẹ mà không thừa nhận cha mẹ. Đứa con lai nầy rất xảo trá, khó nhận dạng – nó nhưng không phải là nó…

*

Mọi trì trệ người ta đều đổ do cơ chế. Vậy cơ chế hiện nay là gì? từ đâu ra? nếu bất lợi sao còn giữ mãi nó?…

Cơ chế là một thiết chế do giai cấp đang thống trị đặt ra nhằm giữ thế thượng phong cho giai cấp ấy. Như mọi người ít nhất một lần nghe đến, cơ chế chính trị bao trùm ở VN hiện nay là đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, dân làm chủ. Nó ra đời cùng thời với thể chế chính trị độc đảng, độc tôn, độc tài toàn trị của đảng CSVN. Người ta cố giữ nó với bất cứ giá nào là vì lợi thế, lợi ích của đảng, của phe nhóm người ta, đó là điều dễ hiểu. Còn có chấp nhận nó hay không đó là việc của cộng đồng dân tộc.

Để giữ thế độc tôn, toàn trị, từ Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp, các bộ ở Trung ương đến lãnh đạo các địa phương đều do đảng CSVN cơ cấu đảng viên của họ ra ứng cử, theo thể thức đảng chọn dân bầu. Từ đó, họ có làm bậy dân cũng không có quyền bãi miễn. Cán bộ chủ chốt ở các cấp, các ngành… đều là đảng viên. Họ ngồi vào ghế quan do đảng, họ được thăng quan tiến chức do đảng… Họ chỉ sợ đảng cấp trên của họ. Đối với cấp dưới và dân, họ như những ông vua con, tha hồ mà tác oai tác quái.

Đảng là trừu tượng, như một cơ thể; đảng viên là cụ thể, như những tế bào. Đảng bảo vệ đảng viên là bảo vệ tế bào của bản thân mình, đó là điều dễ hiểu. Đảng giết đảng viên khác nào tự sát. Rõ mối liên hệ chung riêng ấy, đảng viên mới dám làm những điểu mà người ngoài đảng không hề dám. Người ta đảnh giá đảng qua đảng viên, đảng viên tốt thì đảng mới tốt và ngược lại.

Nói con số tròn, dân số Việt Nam hiện nay gần 90 triệu, trong đó có khoảng non 4 triệu đảng viên. Những vụ tham nhũng, tiêu cực được phát hiện, vụ nào cũng có ít nhất bốn phần năm (4/5) can phạm là đảng viên – một tỷ lệ hư hỏng trong đảng đang cầm quyền đã báo động đỏ. Tế bào (đảng viên) hư nhiều như vậy, cơ thể (đảng) nếu không vào nhà thương nhờ danh y dùng thuốc đặc trị, tử vong là cầm chắc?.

Tại sao lúc đầu dùng cụm từ chống tiêu cực, nhưng ít lâu sau thay nó bằng cụm từ chống tham nhũng?. Có lẽ Trung ương thấy vi khuẩn đã thâm nhập vào não bộ. Tham thì có thể bất cứ ai, còn nhũng phải người có quyền. Chống tham nhũng là chống người có quyền mà tham. Người không quyền mà bảo chống người có quyền ai mà dám!. Thật khôi hài: “Lãnh đạo mà ở dơ rồi bảo người bị lãnh đạo tắm, vị bụng người ta tắm cho rồi đạp người ta…” Hơn nữa, những người làm bậy ấy do đảng cơ cấu họ vào ghế quan, họ là tế bào của đảng, tốt hơn hết để đảng tự xử cho tròn trách nhiệm với dân. Nếu không tự xử được, dẹp qua một bên, đừng chàng ràng ở đó chướng mắt, khiến cho người đời thêm tâm và khẩu đều không phục.

Tôi về nông thôn dự giỗ, một lão nông vốn quen biết hồi còn chiến tranh, ông xề lại gần tôi nói: “Hồi đó tao đánh giá tụi bây tốt là sai…” Tôi đáp lại: “Hồi đó ông đánh giá chúng tôi tốt là đúng, giờ đây ông xem chúng tôi vẫn tốt như thế là sai.” Ông vỗ vai tôi mấy cái, nói: “Sám hối như thế còn có thể chơi được”.

Trong tiệc cưới ở nhà hàng, hai người khách ngồi gần nhau, một người chỉ người mới vào cửa nói: “Thằng đó tuy đảng viên nhưng nó tốt” – Vậy là sao?.

Trong chiến tranh, vào đảng là vào đội tiên phong chiến đấu, ngày nay vào đảng như vào dân Tây. Được thẻ đảng là được ghế quan. Thẻ đảng có giá trị hơn bằng Đại học, có bằng Đại học đôi khi thất nghiệp, có thẻ đảng thì chắc ăn như bắp. Do vậy, kẻ thất đức, bất tài bằng mọi cách luồn lách để được vào đảng, được đảng cơ cấu làm quan. Hễ quan thì có quyền, hễ có quyền thì có lợi: Ngoài việc ăn trên ngồi trước, ít nhất cũng có lương khá; có phương tiện công đi lại; được ưu đãi trong trị bịnh; con cái được ưu tiên trong học hành và làm việc; có chế độ tiếp khách; chữ ký bán rất có giá trị; làm quấy nếu bị phát hiện có đảng binh, xử lý nội bộ; lộ liễu quá không thể che được phải ra tòa thì được tòa xử theo chỉ thị của đảng; kẹt lắm phải vào tù thì ở tù cha và sẽ được tha vào kỳ ân xá gần nhất v.v… Càng về sau, cán bộ đảng viên càng tha hóa biến chất. Từ thực tế đó, miệng đời ngân nga:

Đảng là mẹ, Bác là cha
Từ khi Bác mất, Đảng ta tái chồng
Sanh ra một lũ con đông
Thạch Sanh thì ít, Lý Thông thì nhiều. (1)

Ở Việt Nam, từ cán bộ dùng ám chỉ cho các hạng quan chức nói chung, cửa quan là cửa quyền. Cũng ở VN, xưa nay đều rêu rao “Cán bộ là đày tớ nhân dân”, nhưng thực chất thì hoàn toàn ngược lại “Dân là đày tớ cho cán bộ”. Vì vậy mới có chuyện mua quan bán chức lan tràn, cán bộ là đích đến của mọi tham vọng. Việc thăng quan tiến chức nhìn vào chóng mặt. Quan chức mà không biết làm gì (chủ trương) và chẳng biết làm thế nào (thực hiện). Họ giỏi nói phét, tham nhũng, nhậu, tán gái… Ở Sài Gòn, Hà Nội nói riêng, cả nước nói chung, phần đông cán bộ cao cấp đều có mướn “Osin”, gọi hoa mỹ là “người giúp việc”, nói trắng ra là người “đày tớ” không hơn không kém. Vậy, nói một cách chính xác: Người giúp việc là đày tớ thật, còn người thuê người giúp việc (cán bộ) là đày tớ giả.

Nếu cán bộ thực sự là đày tớ nhân dân thì ít ai chịu làm bán bộ. Làm cán bộ ở VN thời nay sướng chưa từng thấy. Tôi mô tả cái sướng của họ bằng bài thơ “Sống, chết như Ông”:

Làm việc như Ông (bà) sướng bậc tiên:
Việc gì cũng có trợ lý riêng
Xe đưa, xe rước trưa, chiều, sớm
Trần thế khác gì chốn non tiên?.

Tiếp khách kiểu Ông sướng quá tay:
Bao nhiêu phí tổn cứ chi xài
Kê chung phiếu đỏ đưa Ông ký
Công quỹ phải nào của riêng ai?

Nằm viện như Ông sướng bậc cha:
Nhân viên nuôi bịnh chia thành ca
Ông sai Ông khiển như đày tớ
Lựng bựng coi chừng Ông thải ra.

Đám táng của Ông lớn quá trời:
Ngày đêm phúng điếu chẳng giờ ngơi
Tiễn đưa Ông đến nơi an nghỉ
Xe nối đuôi dài đếm hụt hơi.

Đâu chỉ thế, còn chôn trước chôn sau, mả lớn mả nhỏ theo tôn ty trật tự Phong kiến.

Người ta biến ê kíp thành cánh hẩu (nhóm lợi ích). Hễ hẩu thì hảo (gôm vào), hễ bất hẩu thì bất hảo (thải ra). Tội phạm cộng với quyền lực thành ma-phi-a: Mầy ăn, tao ăn, nó ăn = chúng ta cùng ăn. Phải rạch ròi: Cái nào ăn thì ăn, cái nào cúng thì cúng, cái nào kiếng thì kiếng. Phải giữ kín cho nhau, thực thi luật giang hồ “Mi không đánh ta, ta không đánh mi”, “bịt khẩu” là thượng sách trong ngăn ngừa lây lan. Bọn cơ hội, tham nhũng thường dùng thủ thuật “Tạo rồi biến cái nhược của người thành cái lợi thế cho mình”…

Đã là đảng thì tất phải có đảng trưởng (đầu đảng). Đảng trưởng là nhân vật tối thượng, có nhiều lợi quyền nhất. Trong một quốc gia, nếu độc đảng toàn trị, đảng trưởng như một ông vua, đảng viên là quần thần, còn lại là đám thảo dân. Đảng CSVN hiện nay là đứa con lai tạp chủng, giống cha nhiều hơn giống mẹ, cha là ông Phong (Phong kiến), mẹ là bà Tư (Tư bản), đang hưởng di sản cha mẹ mà không thừa nhận cha mẹ. Đứa con lai nầy rất xảo trá, khó nhận dạng – nó nhưng không phải là nó: Phong kiến thì chỉ có 1 vua, còn nó thì nhiều vua (vua tập thể), vua ở từng cấp từ cao đến thấp – vua của vua. Nói một đàng làm một nẻo, theo kiểu “treo đầu Dê bán thịt chó”. Làm kinh tế thị trường còn định hướng XHCN. Nó núp dưới dạng thể chế Dân chủ cho hợp thời, đưa ra luật pháp có đủ “đầu đuôi thủ vĩ ”, nhưng hành xử thực chất là “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”.

Đã là đảng thì sớm muộn gì cũng chia phái. Phái nầy đấu đá với phái kia để tranh quyền đạt lợi. Nếu có liên minh các phái với nhau, đó cũng là sự liên minh ma quỷ, vì khi hạ gục đối phương rồi thì quay lại cấu xé lẫn nhau cho đến khi chỉ còn 1 phái. Cũng chưa dừng, đến lượt thanh toán nhau trong phái để giành quyền làm đảng trưởng. Cuộc đấu đá tranh giành ngôi thứ không bao giờ kết thúc.

Muốn chấm dứt việc đấu đá tranh giành quyền lực nầy chỉ có con đường duy nhất là thực hiện Dân chủ, thiết lập Nhà nước Pháp quyền, bằng cách: để cho dân chọn người đứng ra quản lý xã hội, phúc quyết Hiến pháp và các luật cơ bản. Nếu không thực hiện Dân chủ, xã hội chẳng khác một đàn khỉ, nhứt thời con khỉ đực nào mạnh nhất, nó nhăn d… tất cả những con khỉ đực khác để độc chiếm…, giống như vua chúa ngày xưa, thiến tất đàn ông phục vụ nội cung.

Bọn tham nhũng chống chế ghê gớm đối với bất cứ ai chống lại chúng. Cũng dễ hiểu, nếu để bị bóc vỏ thì mất hết, nếu không mất mạng thì mất quyền, mất cả những gì mà họ dày công vung vén, và mất uy tín đối với xã hội. Chúng rất sợ báo chí phanh phui việc làm sai trái của chúng, nếu để đổ bể ra chết chùm hoặc ít nhất đội quần trước công chúng. Không cần sắm ra Ban nầy, Bộ nọ chi cho hao tài tốn của; không cần ông Thủ Dũng, Tổng Trọng, Chủ Sang… làm động tác giả, hét hò chi cho tốn sức, chỉ cần cho truyền thông đại chúng đưa ra công khai những việc tiêu cực, tham nhũng trong xã hội thì sẽ hạn chế đến mức thấp nhứt những tệ nạn nầy. Tham nhũng cũng được đôn lên, cũng được hạ cánh an toàn thì dại gì mà không… Nói nhỏ nghe: Họ đang nơm nớp lo sợ thuốc đặc trị có tên “Hồi tố”.

Ai cũng thấy, cũng nói tham nhũng trở thành quốc nạn. Vì lý do nầy nọ, không diệt được chúng từ trong trứng nước, giờ đây nó sinh con đẻ cháu đầy đàng, cày cắm khắp mỗi cấp, mỗi ngành, mọi nơi, phần lớn họ là đảng viên (tế bào) nên được đảng (cơ thể) bảo vệ. Chỉ còn mỗi cách, đảng chấp nhận đau đớn làm cuộc “đại phẫu thuật” mới may ra sống sót với hình hài dị dạng.

Việt Nam đang trong thực trạng Tiền và quyền cấu kết với nhau: Tiền nhờ Quyền giúp đỡ, che chắn trong làm ăn; Quyền nhờ Tiền xây cơ lập nghiệp, biến đội thành phần từ Vô sản thành thành Tư sản. Họ đã và đang cấu kết với nhau, xem tiền là tất cả:

Tiền là Tiên là Phật
– là sức bật tuổi trẻ
– là sức khỏe ông già
– là cái đà danh vọng
– là cái lộng che thân
– là cán cân công lý
– là tình đồng chí
– hết ý cuộc đời…

Dưới cái cơ chế của tiền và quyền quấn quít với nhau, các quan chức đảng cơ cấu con cháu họ vào, bất cần nó có đức tài hay không. Họ cơ cấu theo huyết thống (theo dòng máu), cha truyền con nối “Con vua thì được làm vua, con sải ở chùa thì quét lá đa”, họ cố lờ đi vế sau: “Đến khi binh lửa can qua, con vua thất thế phải ra quét chùa”.

Quan chức thích kết thông gia với nhau: Con anh dâu tôi, con tôi rễ anh, chúng ta có trách nhiệm lo cho chúng có cuộc sống đàng hoàng, có vị thế xã hội xứng đáng. Người ta thường nói “nhứt thân, nhì thế”. Họ quen thân nhau và đều có thế, chơi trò: “Anh nhận con tôi, tôi nhận con anh/ anh chiếu cố con tôi, tôi chiếu cố con anh/ anh đuổi con tôi, tôi đuổi con anh”.

“Chủ nghĩa lý lịch theo kiểu cha truyền con nối, ngoài cản trở việc kén chọn nhân tài, nó còn là nguồn gốc của nạn tham nhũng, tiêu cực xã hội. Thử lấy người đương nhiệm làm trung tâm để xét xem: Có khi nào họ mạnh tay đánh vào sai trái của hậu duệ họ?. Có khi nào họ mạnh dạn truy cứu lỗi lầm của người tiền nhiệm họ? – Tiền nhiệm, đương nhiệm và hậu duệ cùng dòng tộc với nhau họ nở nào?. Đã thế thì họ yên tâm “quậy”, quậy cũng được “đôn”, cũng được “hạ cánh an toàn” thì dại gì. Vậy, “Chủ nghĩa lý lịch” không những là tội đồ, còn là tôi đầu – nơi khởi nguồn tội lỗi.

Có người hỏi tôi: Vì sao con em cán bộ học dở, không có cấp bằng học vị, kém tài đức mà được trọng dụng, còn không ít con em dân thường có cấp bằng học vị, có đức độ mà nhà nước không trọng dụng?. Tôi trả lời: Vô duyên, nhà nước làm sao không tìm nhà nước hỏi mà hỏi tôi!. Đức độ thế nào thì tôi không rõ, nhìn vào danh sách ứng cử, người nào cũng có cấp băng học vị, một số không ít, nếu không “bằng thật học giả”, thì cũng “bằng chính trị”. Nhưng mà anh ơi, thời bấy giờ, kẻ có thân thế thì:

Bằng có người lo
Chức to có người bầu
Đi đâu có xe chở
Nói dở có người nghe
Đe có người sợ
Làm dở có người khen
Hèn có người giấu
Nhậu có người bao
Đau có người bóp
Họp có người ghi
Chi có người bù
Tù có người chạy…

Trong buổi trà đàm, một người bạn hỏi tôi: “Theo anh có độc quyền yêu nước không?”. Một câu hỏi hóc búa thật, đắn đo một hồi rồi một chữ cũng thi, hai chữ cũng thi, tôi nói: “Suy cho cùng chẳng có đâu, yêu nước phải vì dân, xả thân không vụ lợi”. Thời nay chẳng mấy ai chịu làm như thế, giành quyền yêu nước thì có thật: Họ nhân danh gì có thể nhân danh, lợi dụng gì có thể lợi dụng theo kiểu ăn mày dĩ vãng. Đến mức họ đem Hồ Chí Minh ra “thế chấp” thì không còn gì để nói. Họ cho mình là người yêu nước hơn cả, ai đụng đến họ thì họ chụp cho cái mũ cao nhất là phản động, thấp nhứt là chống đối.

Người ngồi cạnh xía vô: Giao thông, Giáo dục, Y tế ngày một tệ, theo anh đến bao giờ mới có thể cải thiện?

– Khi nào trên 3 cùng với dưới.

– Nghĩa là sao?

– Hiện tại cấp trên dùng phương tiện riêng đi lại, đi đến đâu có cảnh sát mở đường. Phần lớn con các vị cấp cao cho đi học ở nước ngoài. Trong nước các vị có nhà thương riêng, nếu bịnh nặng ra nước ngoài trị. Vậy thì ngày nào lãnh đạo cấp trên chưa: cùng đi, cùng học, cùng trị bịnh chung với dưới thì ngày đó Giao thông, Giáo dục, Y tế còn trì trệ.

Kê khai tài sản, kiểm tra thu nhập trong cán bộ là một chủ trương lớn của đảng CSVN, nhưng thực tế nó không mang lại kết quả mà đem lại hậu quả là thêm mất lòng tin trong nhân dân. Thử hỏi, kê khai mà không công khai thì người ngoại cuộc biết đâu mà có ý kiến?!. Nếu để người trong diện phải kê khai giám sát lẫn nhau thì chặng lẽ lươn chê lịch (2), thôi thì “Mi không đánh ta, ta không đánh mi” thì huề cả làng?. Chủ trương ấy chắc có lẽ cốt để giải nhiệt, làm thiệt chết chùm làm sao?. Nhìn chung, cán bộ lãnh đạo quận, huyện, tỉnh, thành và trung ương nói chung, những ngành kinh tế Hải quan, Công an, Tài chính, Thuế vụ, Sổ số… nói riêng, hầu như tuyệt đại đa số họ đã là đại gia. Tài sản ngầm của họ cỡ nào khó mà biết được, chớ nhà cửa, cơ ngơi làm ăn của họ sờ sờ ra đó còn giấu được ai. Muốn biết cơ ngơi, cơ sở làm ăn của họ cụ thể thế nào vào mạng Internet gõ “CLB NOKIA.Wordpress.com (Câu lạc bộ Nó Kìa) thì rõ họ là những ai.

Có người thắc mắc: Họ tham nhũng giàu quá rồi sao mà vẫn tiếp tục tham nhũng?. Tôi nói: Họ giàu như thế không quá đâu, thử ước tính các khoản cần chi của họ:

Chi cho xây dựng cơ ngơi hiện đại
Chi cho đi lại cao sang
Chi cho ăn uống như ông Hoàng
Chi boa cho những cô nàng bồ nhí
Chi cho cô cậu Tí đi học nước ngoài
Chi cho Ngài trị bịnh ngoại quốc
Chi cho xây cất từ đường
Chi cho sắm sẵn hàng rương, nhà mộ
Chi cho hối lộ lúc lâm nguy…..
Tính lại suy đi biết bao là đủ?
Đôi lời nhắn nhủ:
Hãy tận thu cho đủ để có mà chi.

Hiện nay, người tốt, người xấu rất khó phân biệt. Hiện tượng và bản chất những kẻ xấu không đồng nhất vói nhau, họ lớn tiếng hô hào chống tham nhũng, nhưng họ lại là chúa chổm tham nhũng không chừng. Hãy xem họ làm, đừng tin họ nói. Nhìn chung có vẻ phức tạp như vậy, nhưng chung quy chỉ có 3 nhóm người:

– Nhóm thấy đúng bảo vệ, thấy sai đấu tranh, họ chỉ sợ lẽ phải chớ không sợ bạo lực cường quyền. Đó là những chính nhân quân tử, đáng nể trọng.

– Nhóm thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, họ sợ bạo lực cường quyền hơn sợ lẽ phải. Đó là những người cơ hội xu thời, nhu nhược, theo đốm ăn tàn (3)…, đáng chê trách.

– Nhóm bất chấp phải trái, ỷ thế cậy quyền…, họ không sợ lẽ phải, chỉ biết dựa và dùng bạo lực cường quyền để mưu danh đoạt lợi… Đó là những kẻ không nhân cách (không có tính người) hoặc cho điểm an ủi là “tiểu nhân” (người nhỏ), đáng khinh bỉ.

Đất đai đang là điểm nóng:

Người ta trụ được nhờ có đất. Mất đất là mất chỗ trụ để ở và mưu sinh khi còn sống, mất chỗ cất mớ xương tàn khi chết.

Đảng CS VN đưa ra luật đất đai với nội dung “Công hữu toàn bộ đất”, tạo ra sự bất an thường trực đối với bất cứ người dân ở nông thôn cũng như thành thị.

An sao được, đất ở, đất canh tác từ lâu thuộc sở hữu của mỗi hộ, giờ đây luật đất đai tước đi quyền sở hữu tư nhân, chỉ cho họ quyền sử dụng có thời hạn và phải nộp thuế.

Người ta tự dự thảo luật đất đai rồi đưa ra Quốc hội do người ta nặn ra thông qua thành luật. Đã là luật được Quốc hội thông qua, có ăn gan Trời hay uống hàng xâu mật gấu cũng không dám ọ ẹ, mặc cho số phận đẩy đưa!

Cái gì đến đã đến, khi nắm quyền đất trong tay, dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, nhà nước các cấp thấy chỗ nào đất tốt, tiện lợi khoanh những vùng quy hoạch, chẳng cần tham khảo ý kiến người dân tại chỗ. Biết rằng, muốn phát triển đất nước phải xây dựng, muốn xây dựng phải có đất, nhưng xây dựng ở đâu, với quy mô nào, giải quyết việc sinh sống của người tại chỗ ra sao… nên đưa ra bàn bạc với dân sở tại, ít nhất cũng làm cho họ mát dạ trước khi nhìn sản vật, mồ mả người thân… vốn có từ lâu bị ủi phá tan hoang.

Quy hoạch làm ngay thì áp tới đền bù, giải tỏa. nhà nước đã là chủ đất, đền bù chỉ tính giá trị sản vật hiện có trên mặt đất. Nhà nước nói giá nào người bị giải tỏa phải chấp nhận giá đó và lập tức di dời đi, nếu không thì bị cưỡng chế.

Để những hộ bị giải tỏa trắng có nơi cất nhà ở, nhà nước lại quy hoạch ở một nơi nào đó, cũng bằng cách giải tỏa đền bù để lấy đất lập ra khu tái định cư cho số bị giải tỏa trước. Từ gây bất ổn ở nơi nầy dẫn đến gây bất ổn ở nơi khác, làm mất an cư của người dân.

Để khỏi đền bù nhiều khi giải tỏa, áng chừng những việc sẽ làm, nhà nước phóng tay lập những dự án rồi chọn vùng quy hoạch treo. Những hộ lọt trong khu vực treo nầy không được sang nhượng đất, không được xây dựng mới, không được trồng cây lâu năm… chỉ được “tản cư” càng sớm càng tốt xương cốt người thân ra khỏi khu vực. Người sống hãy ở đó chờ, nếu có mọc râu thì cạo, nếu chết tự do tìm chỗ trước mắt chưa quy hoạch mà chôn hay đem đi đốt tùy ý.

Quy hoạch xây dựng những công trình công cộng mới, nhà nước có định giá thấp đôi chút, dân có thể chấp nhận, coi như góp chút phần nhỏ của mình cho công ích. Còn quy hoạch để rồi cho tư nhân xây dựng gì đó, lẽ ra để cho tư nhân ấy thương lượng giá đền bù trực tiếp với người bị giải tỏa, đàng nầy, nhà nước cử người đứng ra làm cò, định giá đền bù thì thấp, cho tư nhân thuê lại thì cao, vôi ra số tiền không nhỏ tha hồ mà nhậu. Cần đất cho công trình 1, quy hoạch giải tỏa bằng 2 chẳng hạn, số đất vôi ra thành đắc địa rồi chia nhau xơi. Đủ cách, xúm nhau ăn trên đầu ông nội cha người ta, dân không buồn mới là lạ?.

Thương thay cho dân nghèo thành thị bị giải tỏa trắng, họ vốn sống bằng nghề mua bán, lao động dịch vụ, nhà như ổ chuột, bồi thường sản vật trên mặt đất có là bao. Đến vùng tái định cư, không hành nghề cũ được, thất nghiệp, với số tiền ít ỏi vừa được đền bù, mua đất cất cái nhà tạm bợ đủ che nắng che mưa. Họ phải sống sao đây, chẳng lẽ đợi tối rủ nhau ngữa mặt lên trời hứng sương mà sống!?.

Từ những bất hợp lý, bất công như đã nói, người dân khiếu nại, khiếu tố, biểu tình về nhà đất ngày một tăng là lẽ đương nhiên. Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, Thủ Thiêm, Cái Răng v.v… là những vụ người dân đấu tranh “tìm cái sống trong cái chết”, họ đấu với tất cả những gì mình có. Đặc biệt vụ Cái Răng, ngươi dân bất lực đến cùng cực, đấu bằng cách thí mạng cùi “Có chi dùng nấy”. Tôi có thể cố cầm được nước mắt nếu nhà cầm quyền bắn chết họ, nhưng không thể cầm được nước mắt khi thấy họ oằn oại bên chén thuốc độc và hai người nữ trần truồng, bị lôi kéo vì “cái tội giữ đất của cha ông họ để lại” để mưu sinh. Lột tả vụ cưỡng chế tàn bạo nầy, Bà Lê Hiền Đức đặt câu hỏi không cần lời đáp rất sắc “cưỡng chế hay cưỡng dâm?”.

Tôi đang thắc mắc: Kinh tế thị trường thì “đèn nhà ai nấy sáng”, tức là mọi người tự lo cuộc sống cho mình. Cớ sao đảng CSVN chủ trương làm kinh tế thị trường mà không công nhận quyền sở hữu tư nhân, nhất là sở hữu về đất đai. Người dân, đặc biệt là nông dân, không thể sống thiếu đất. Họ dám thay phiên nhau đổ máu để bảo vệ đất nước để làm gì chẳng lẽ đảng CSVN không biết?!.

Sông Tiền

Khi chế độ độc tài chấm dứt…

Ngày chế độ độc tài toàn trị chấm dứt, bối cảnh Việt Nam sẽ khác hẳn những gì đã xảy ra vào tháng 04/1975. Ở ngày đó, dù sự thay đổi đến từ đâu, và do ai, chắc chắn sẽ KHÔNG thể có “chính sách trả thù” và những “trại cải tạo”. Tình trạng độc quyền thay thế vị trí lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) cũng sẽ KHÔNG thể xảy ra. Khi độc tài không còn nữa, Tự do sẽ bùng nở, và Dân chủ sẽ từng bước được phát triển. Việt Nam sẽ có một thể chế dân chủ pháp quyền. Song thay đổi lớn đó sẽ không xảy ra một cách dễ dàng, hoặc không điều kiện.

Khi đất nước hết độc tài, nền dân chủ non trẻ sẽ khởi đầu với vô số trở ngại không thể tránh khỏi của buổi giao thời. Hoàn cảnh của chính phủ lâm thời, và ngay cả chính phủ dân cử chính thức sau đó, chắc chắn sẽ rất khó khăn. Ổn định tình hình trong khi xã hội đầy tâm lý nôn nóng là một áp lực vô cùng to lớn. Nhưng chính phủ mới sẽ phải bắt đầu bằng những gì có được — tương tự như hoàn cảnh các nước vừa thoát khỏi chế độ độc tài trên thế giới.

Công việc đầu tiên là nỗ lực xây dựng thế hòa giải và đoàn kết dân tộc. Những người lãnh đạo mới phải có bản lãnh dung hoà được dị biệt giữa các thế lực chính trị bản xứ, và những ảnh hưởng chi phối bởi ngoại bang. Với khát vọng vươn lên đã được ươm mầm từ nhiều năm qua, hy vọng là các thành phần trí thức và công dân yêu nước sẽ hậu thuẫn chính quyền mới có được những chính sách đối nội và đối ngoại thích hợp với bối cảnh mới của đất nước.

Kế đến là xây dựng, củng cố và phát triển Dân Chủ như thế nào để thích hợp với văn hoá và hoàn cảnh đặc thù của nước ta. Trong thế giới liên lập ngày nay, nền chính trị của một quốc gia luôn có nhiều liên hệ sâu rộng với cộng đồng thế giới bên ngoài. Mặt khác, tuy cuộc chiến tranh lạnh đã chấm dứt song Việt Nam vẫn là một yếu tố trong nhu cầu cân bằng và phát triển quyền lực của các siêu cường. Do vậy, làm sao để đất nước có thể phát triển mà không bị lệ thuộc một cách bất lợi vào bất cứ thế lực quốc tế nào… là một thử thách đầy cam go; đòi hỏi sự linh động, cân bằng hiệu quả giữa nhu cầu đối ngoại và tinh thần dân tộc tự quyết. Nếu không muốn nền dân chủ mới sẽ bị lai căng, què quặt, người Việt không có sự chọn lựa nào hơn là phải dám đứng thẳng trên đôi chân của mình, và cùng đưa vai gánh vác lấy trách nhiệm với quốc gia.

Thách đố to lớn khác là giải quyết là những hậu quả để lại từ tình trạng độc đảng, tham ô và bất công. Tháo gỡ các quốc nạn tồn đọng cần có nhiều thời gian và biện pháp, nhưng khả năng ban đầu của chính phủ mới chắc chắn còn nhiều giới hạn. Tài nguyên quốc gia vận dụng được cho việc ổn định kinh tế lúc đó có thể sẽ không có nhiều. Việc hàng ngũ hoá nhân tài của đất nước cũng sẽ lắm nhiêu khê. Do vậy, chính phủ dân chủ đầu tiên sẽ phải chứng tỏ một thiện chí, bản lãnh và khả năng lãnh đạo vượt bực, bao gồm việc huy động được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ giới trí thức, doanh nhân và các tầng lớp xã hội. Tiến trình đó sẽ tốt đẹp hơn quá trình lột xác của các nước Đông Nam Á, Đông Âu, Bắc Phi và Trung Đông… hay không, câu trả lời tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố.

Công cuộc dân chủ hoá và phát triển đất nước sẽ đầy dẫy cam go song đó là một tiến trình khả thi.
Chúng ta có quyền tin tưởng mãnh liệt vào điều đó vì chế độ độc tài đương quyền đang mất dần khả năng tồn tại. Từ nhiều năm qua, đảng CSVN là một trở ngại to lớn cho sự phát triển của đất nước. Lý tưởng, kỷ luật và kiểm soát là ba yếu tố sinh tồn của CSVN, hiện đang bị hư hoại và lung lay tận gốc rễ. Cùng lúc đó, tình trạng khủng hoảng kinh tế, xã hội, chính trị và hệ thống lãnh đạo của đảng cầm quyền sẽ là chất liệu tự huỷ diệt khả năng tồn tại còn lại của chế độ. Sự tồn vong của hậu thân đảng CSVN trong tương lai tuỳ thuộc vào thái độ thành khẩn của những người cầm quyền hiện nay. Đối với chúng ta, vấn đề khẩn thiết là chuẩn bị như thế nào để giai đoạn giao thời đó sẽ không phải là một trang sử đau thương nhuộm đầy máu và nước mắt. Cách giải quyết của người quốc gia phải được đặt trên nền tảng của tinh thần nhân bản.

Khi đất nước hết độc tài, toàn dân sẽ có tự do. Ngày chiến thắng đó sẽ là thành quả chung của mọi thành phần dân tộc, kể cả những người vì hoàn cảnh lịch sử, đã từng có một thời góp phần gây ra những thảm trạng cho dân tộc. Khi đất nước có Dân Chủ, mọi công dân Việt Nam đều có cơ hội thụ hưởng nhân quyền một cách đúng nghĩa và trọn vẹn, kể cả những người đã từng là đảng viên CSVN. Chính phủ mới sẽ không thể trừng trị những người đã từng phục vụ cho chế độ cũ chỉ vì yếu tố quá khứ. Nhưng thiểu số có trọng tội với đất nước, đồng bào phải cần được luật pháp xét xử công minh và lịch sử ghi lại rõ ràng để làm gương cho hậu thế, dù còn sống hay đã chết — không phân biệt là phục vụ cho chế độ Cộng sản hay Cộng hoà ngày trước.

Với hoàn cảnh chung hiện nay, hoạt động của các phong trào quần chúng rất quan trọng. Tuy nhiên, hoạt động của các đoàn thể đấu tranh đóng một vai trò không thể thiếu. Ở hiện tại, tuy phần lớn hoạt động của các tổ chức phải giữ trong vòng bí mật, song đều chủ động thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình dân chủ hoá đất nước. Trong chiều hướng đó, chắc chắn sẽ có một tổ chức đạt được thành công sau cùng. Đó là một vinh dự lịch sử nhưng dù vậy, sẽ không phải, và không thể, là điều kiện để có thể độc quyền thay thế đảng CSVN trong vai trò lãnh đạo đất nước.

Khi Việt Nam có dân chủ, một chính phủ đa đảng sẽ là kết quả tất nhiên qua cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do. Nói cách khác, dù tổ chức nào thành công trong cuộc đấu tranh dân chủ hoá Việt Nam, các tổ chức, chính đảng ở trong và ngoài nước cũng sẽ có cơ hội đồng đều để ganh đua phụng sự đất nước và đồng bào trong các vai trò dân cử.

Việt Nam cần có một chính phủ thực sự đáp ứng được nguyện vọng nhân dân và nhu cầu ổn định, phát triển của đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày nay, vượt thắng được trước những cạnh tranh khốc liệt trên thị trường sẽ không phải là điều đơn giản. Xây dựng được uy thế trên chính trường quốc tế cũng sẽ lắm cam go. Nhưng thực tế thế giới cho thấy, nước nào không bị phân hoá nội bộ, có một chính phủ tốt và thực sự thương nước thương dân, thì nước đó vẫn có khả năng và điều kiện để đứng vững trước các thử thách lớn của thời đại.

Nước Việt Nam mới có tốt đẹp như kỳ vọng của nhiều người hay không là tuỳ thuộc vào quyết tâm cách mạng hoá xã hội của toàn dân, và của những người lãnh đạo đất nước ở giai đoạn giao thời đó. Đó là một tiến trình tự nhiên và cần thiết để xem người Việt có đủ bản lãnh và xứng đáng để thụ hưởng một đời sống tự do, dân chủ đích thực.
Một nước Việt Nam dân chủ, tự do tuy chưa ở trong tầm tay song đã ở trong tầm mắt của chúng ta. Khoảng cách đó không tự nhiên mất đi mà cần phải được rút ngắn bằng chính những nỗ lực dấn thân và hy sinh đồng loạt của nhiều người. Ngày nào những người yêu nước thật sự biết quên mình để cùng lo việc chung, thì ngày đó tương lai Việt Nam sẽ ở trong tầm tay.

Lâm Thế Nguyên (Vidan.info)

THEO DÒNG SỰ KIỆN:

  1. Đại gia: Tích tụ văn hóa chậm
  2. Cần chấm dứt ngay lý tưởng hoá sự nô lệ và tâm lý xin cho
  3. Chấm lại bài chấm cho điểm Bộ trưởng Phạm Bình Minh.
  4. Trò “đu dây” bao giờ mới chấm dứt?
  5. Chậm còn hơn không
  6. VN lại chậm hơn TQ trong vấn đề biển Đông