Không phải ai cũng sợ

Posted on July 17, 2012

1



Bắt đầu từ năm ngoái khi phong trào biểu tình chống Trung Quốc nổ ra tại Hà nội, một mặt chính quyền ra lệnh đàn áp, một mặt gửi những tổ chức mặt trận, công an khu vực và các đoàn thể tới từng nhà của người tham gia biểu tình để vận động, hăm dọa họ bỏ cuộc.


AFPThanh niên, sinh viên mạnh mẽ xuống đường phản đối TQ lấn chiếm lãnh hải Việt Nam

Tuy nhiên chính sách này chưa bao giờ thành công vì người biểu tình ý thức rất rõ việc họ làm và quan trọng hơn hết họ không cảm thấy sợ hãi trước sự đàn áp của nhà nước vì đối với họ biều tình chống Trung Quốc là yêu nước. Mặc Lâm tìm hiểu thêm qua các thông tin mới nhất.

Tin tức về những hoạt động mới nhất của Trung Quốc trên Biển Đông vẫn là những sự kiện nóng bỏng hàng đầu của báo chí trong vài ngày qua. Trước hết, ba mươi tàu đánh cá loại lớn của Bắc Kinh được hỗ trợ của tàu ngư chính và tàu chuyên dụng đã chính thức xâm nhập trái phép trên vùng biển Trường Sa của Việt Nam để hành nghề. Tiếp đó, bất kể sự phản đối vô vọng của chính quyền Hà Nội, Trung Quốc ngang nhiên xây dựng nhà tù trên quần đảo Hoàng Sa mà họ đã chiếm của Việt Nam vào năm 1974. Nhà tù này không nói thì ai cũng biết được xây dựng để giam giữ ngư dân Việt Nam thay vì chở họ về đảo Phú Lâm như trước.

Nước mất thì nhà tan

Tuy nhiên sự ngang ngược của Trung Quốc không làm cho chính quyền Hà Nội thay đổi thái độ như từ trước tới nay với chủ trương dè xẻn trong lời lẽ chống đối. Chẳng những trên ngôn ngữ ngoại giao

Để chứng minh chủ quyền của mình trên gần 80% ở biển Đông, Trung Quốc đã bắt hàng trăm ngư dân VN trong những năm gần đây...(báo TQ)
Để chứng minh chủ quyền của mình trên gần 80% ở biển Đông, Trung Quốc đã bắt hàng trăm ngư dân VN trong những năm gần đây…(báo TQ)

mà còn chứng tỏ sự kiên nhẫn vô giới hạn qua việc ngăn chặn người dân của mình bày tỏ chính kiến, bày tỏ lòng căm phẫn trước sự xâm lược hiển nhiên của Trung Quốc.Cấm biểu tình trong những ngày Chúa Nhật, khẳng định người đi biểu tình đang bị xúi giục bởi các phần tử phản động. Gửi chính quyền cơ sở đi tới từng nhà của người biểu tình vận động, thậm chí hăm dọa họ bỏ cuộc. Tệ hại hơn nữa, tổ chức đấu tố người đi biểu tình, khủng bố bằng những thủ đoạn như ném vật nhơ bẩn vào nhà người đi biểu tình, lảng vãng trước nhà họ cả ngày lẫn đêm, gửi tin nhắn hăm dọa…tất cả với mục đích ngăn chặn những cuộc xuống đường chống Trung Quốc trên khắp nước.

Chị Trần Thị Nga, một phụ nữ từng nhiều lần bị chính quyền hăm dọa, thậm chí bắt cóc, đã tham gia nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc lên tiếng bày tỏ quan điểm của chị:

…ngoài trách nhiệm với bản thân và gia đình ra thì tôi thấy mình cũng có trách và nghĩa vụ với những người ngư dân đang bị Trung Quốc bắt giữ đánh giết. Đi biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược một là để bảo vệ đất nước hai là bảo vệ chính những ngư dân đang hoạn nạn

Chị Trần Thị Nga

Các cụ có câu nước mất thì nhà tan, nếu mình thờ ơ trước nỗi đau người khác thì khi mình hoạn nạn người khác cũng thờ ơ trước nỗi đau của mình. Bản thân tôi khi gặp hoạn nạn thì được rất nhiều người giúp đỡ nên mới có ngày hôm nay. Vì vậy ngoài trách nhiệm với bản thân và gia đình ra thì tôi thấy mình cũng có trách và nghĩa vụ với những người ngư dân đang bị Trung Quốc bắt giữ đánh giết. Đi biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược một là để bảo vệ đất nước hai là bảo vệ chính những ngư dân đang hoạn nạn.

Chính quyền tuy dùng đủ các biện pháp nhưng vẫn gặp những sự chống đối ngày càng dai dẳng và mạnh mẽ hơn. Người biểu tình tỏ ra không hề sợ hãi trước những gì mà nhà nước đưa ra. Họ thẳng thừng tuyên bố sẽ tiếp tục biểu tình cho dù có gặp bất cứ trở ngại nào. Chị Phương Bích một thành viên ngoan cường trong mọi cuộc biểu tình chống Trung Quốc cho biết:

Không cứ gì riêng tôi mà tất cả mọi người đều tỏ ra bức xúc. Nói về lý đương nhiên họ không có lý rồi thế nhưng họ cứ làm. Cũng giống như hôm nay chúng tôi đang đứng trước phiên tòa xử ông trung tá công an đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng, họ cứ nói là xử công khai nhưng cuối cùng có công khai đâu? Ở dất nước này cứ nói một đằng người ta lại làm một nẻo. Cái việc người ta vận động như thế chằng phải vì vấn đề Trung Quốc đâu. Tôi vẫn cho cái nguyên nhân sâu

Tàu Trung Quốc chặn đuổi tàu công vụ của Viêt Nam ra khỏi khu vực lãnh hải của VN ở khu vực quần đảo Trường Sa. Ảnh chụp trên CCTV của TQ
Tàu Trung Quốc chặn đuổi tàu cảnh sát biển của Viêt Nam ra khỏi khu vực lãnh hải của VN ở khu vực quần đảo Trường Sa. Ảnh chụp trên CCTV của TQ

xa họ vẫn ngại từ một đốm lửa sẽ gây ra đám cháy lớn thôi.Nhân dân “ném chuột”, nhà nước “sợ vỡ đồ”

Cái đốm lửa mà chị Phương Bích nói luôn ám ảnh chính quyền đến nỗi họ xem chuyện người dân biểu tình chống Trung Quốc sẽ trực tiếp nguy hại đến chế độ mà họ đang hết sức bảo vệ. Nếu ví Trung Quốc là một con chuột đang ngang nhiên vào căn nhà Việt Nam gậm nhấm, phá hoại lương thực, tài sản thì những người dân đang đi biểu tình kia đang cố sức tìm ném con chuột ấy bằng chính lòng yêu nước của họ để bảo vệ tài sản đồ đạc trong căn nhà của mình. Tuy nhiên nhà nước lại sợ “hòn đá mang tên biểu tình” ném con chuột Trung Quốc sẽ làm vỡ luôn cả đồ đạc là hệ thống cai trị.

Trung Quốc nắm rõ điều này và ngày càng lộng hành hơn không cần e dè khi biết rằng người chủ căn nhà đó đã bị trói tay không còn khả năng ném đá.

Những con người như chúng tôi không rỗi hơi tập trung người để hò hét hay làm điều gì tương tự như vậy. Chúng tôi khẳng định là đi biêu tình thế thôi, còn định nghĩa như thế nào thì phải ra tòa và tất nhiên dù có ra tòa đi chăng nữa thì những người đã đi biều tình thì họ chấp nhận điều đó

chị Phương Bích

Tuy đã nhiêu lần bị giam giữ do đi biểu tình nhưng đối với chị Phương Bích lòng yêu nước không thể bị vùi dập và chị không cảm thấy sợ hãi khi tiếp tục biểu tình, chị nói:

Cá nhân tôi thì tôi không sợ và tôi nghĩ rằng rất nhiều người như thế. Từ trước đến nay khi người ta đi biểu tình là người ta xác định sẽ gặp những phiền toái trong cuộc sống. Tôi cho rằng ông Nguyễn Thế Thảo chỉ nói lên cá nhân ông ấy thôi mặc dù ông ta là chủ tịch UBND thành phố. Ông ta không thề cấm được. Những con người như chúng tôi không rỗi hơi tập trung người để hò hét hay làm điều gì tương tự như vậy. Chúng tôi khẳng định là đi biêu tình thế thôi, còn định nghĩa như thế nào thì phải ra tòa và tất nhiên dù có ra tòa đi chăng nữa thì những người đã đi biều tình thì họ chấp nhận điều đó. Tôi cũng thế tôi khẳng định mình sẽ đối mặt với chuyện đó.

Chi Trần Thị Nga tuy ôn tồn hơn nhưng lập trường vẫn không thay đổi. Khi được hỏi về thái độ tiếp theo của chị khi có dịp tiếp tục biểu tình chị nói:

Các cụ mình ngày xưa người ta phải bỏ bao nhiêu xương máu để bảo vệ cái đất nước Việt Nam hiện nay. Các cụ để lại đất nước cho toàn dân tộc chứ không phải cho một cá nhân hay một tổ chức nào cả. Chính vì vậy

Trung Quốc cho khai thác dầu ngay trong vùng đặc quyền kinh tế thuộc thềm lục địa của Việt Nam
Trung Quốc cho khai thác dầu ngay trong vùng đặc quyền kinh tế thuộc thềm lục địa của Việt Nam. PetroVN

trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ đất nước là của toàn dân. Họ đàn áp là việc của họ còn việc bảo vệ đất nước, bảo vệ chính nghĩa, sự thật thì mình cứ bảo vệ thôi. Dù có chết cũng phải bảo vệ, cũng giống như các cụ ta ngày xưa cũng thế dù có bỏ bao nhiêu xương máu thì các cụ cũng bỏ ra bảo vệ đất nước Việt Nam toàn vẹn cho đời con đời cháu hưởng.Một sự việc đáng trân trọng vừa xảy ra mới đây tại Hà nội cho thấy người đi biểu tình chống Trung Quốc không dễ gì bị khuất phục hoặc mua chuộc. Đó là trường hợp của ông JB Nguyễn Hữu Vinh, một người kiên cường tham gia tất cả các cuộc biểu tình và đã nhiều lần bị công an Hà Nội lẫn Bộ công an triệu tập vì đi biểu tình chống Trung Quốc.

Câu chuyện phản công ngược lại một cách gay gắt của ông Vinh trước một phái đoàn do chính quyền cử tới nhà ông được quay thành video clip và tung lên mạng đã khiến  nhiều người sửng sốt. Người dân thấy rõ cái được gọi là vận động ấy hoàn toàn phi nghĩa bởi người được vận động có đầy đủ lý do để tố cáo người đi vận động đang tiếp tay với thế lực phản động chống lại ý nguyện bảo vệ tổ quốc cao cả và không thể tranh cãi của nhân dân.

Ông JB Nguyễn Hữu Vinh kể lại câu chuyện vào ngày hôm ấy:

Chiều thứ Bảy có phái đoàn của Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường đi cùng với công an khu vực khoảng 5-6 người gì đấy đến nhà tôi vận động đừng đi biểu tình chống Trung Quốc. Họ gồm chủ tịch Mật trận Phường, một người ở hội Phụ nữ. Một người ở Văn phòng Ủy ban, rồi cảnh sát khu vực và thêm vài ba người nữa.

Trên video clip dài hơn 5 phút chứa đựng hầu hết những gì mà chỉ một mình ông Nguyễn Hữu Vinh nói. Phái đoàn ấy gần như chết cứng trong im lặng vì hơn ai hết họ cũng là người Việt Nam. Một trong những luận cứ hùng hồn nhất được ông Vinh đưa ra:

Hiến pháp ghi rõ ràng công dân Việt Nam có nhiệm vụ và nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc không riêng bất cứ ai cả. Hiến pháp không ghi rằng việc bảo vệ tổ quốc chỉ có Đảng và Nhà nước lo. Xin lỗi các bác Đảng và Nhà nước mà không có dân thì vứt đi.

ông Nguyễn Hữu Vinh

Hiến pháp ghi rõ ràng công dân Việt Nam có nhiệm vụ và nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc không riêng bất cứ ai cả. Hiến pháp không ghi rằng việc bảo vệ tổ quốc chỉ có Đảng và Nhà nước lo. Xin lỗi các bác Đảng và Nhà nước mà không có dân thì vứt đi.

Nhất quá tam, ba lần quá đủ

Còn cái việc yêu nước đã có Đảng lo thì xin hỏi các bác, năm 1958 Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải, “Đảng và nhà

Trung Quốc đưa 4 tàu hải giám vào tuần tiểu ngay trong vùng lãnh hải của Việt Nam ở khu vực quần đảo Trường Sa (tháng 7, 2012). Source báo TQ online-sina.cn
Trung Quốc đưa 4 tàu hải giám vào tuần tiểu ngay trong vùng lãnh hải của Việt Nam ở khu vực quần đảo Trường Sa (tháng 7, 2012). Source báo TQ online-sina.cn

nước lo” bằng công hàm của Phạm Văn Đồng công nhận lãnh hải Trung Quốc. Năm 1974 Trung Quốc chiếm Hoàng sa, “Đảng và nhà nước lo”, Việt Nam mất Hoàng sa. Năm 1988 Trung Quốc đánh chiếm Trường sa, “Đảng và nhà nước lo” thì Trường sa mất một phần và bây giờ tiếp tục “Đảng và Nhà nước lo”?Nói như bác là đúng, yêu nước có nhiều cách thể hiện và Đảng và nhà nước kiên quyết đấu tranh thì đó là việc của Đảng và Nhà nước. Nhưng nếu không có nghĩa vụ và tấm lòng yêu nước của nhân dân thì Đảng và nhà nước làm được gì?

Trong suốt 5 phút giảng bài học yêu nước ấy ông chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường được lên tiếng một lần, nhưng tiếc thay ông lại tạo cơ hội cho người đối diện vạch trần điều ngớ ngẩn mà nhiều người đang đi vận động như ông mắc phải:

Anh nói về vấn đề gì? Ai xâm lược ai? Người ta đang đấu tranh…ai xâm lược ai mà anh có thái độ như thế…

Tôi nói thẳng với anh tổ quốc toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng, bất cứ công dân nào cũng phải bảo vệ. Tôi đã làm việc với công an Hà Nội, tôi làm việc với Bộ công an tôi nói rất rõ ràng tôi chết thì thôi chứ tôi vẫn biểu tình phản đối Trung Quốc. Còn ai ngăn cản lòng yêu nước của người dân đó là phản động.

ông Nguyễn Hữu Vinh

Ông Nguyễn Hữu Vinh đã ngay lập tức trả lời câu hỏi của ông chủ tịch:

Xin lỗi anh, anh có ra Biển Đông để nhìn nó bắt giữ ngư dân ngay trên bờ biển của Việt Nam? Anh có nhìn thấy nó hoàn toàn, nó vào đấu thầu trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam không?Tôi hỏi anh khi nào Trung Quốc nó tràn vào đây thì mới là xâm lược phải không. Tôi nói thẳng với anh tổ quốc toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng, bất cứ công dân nào cũng phải bảo vệ. Tôi đã làm việc với công an Hà Nội, tôi làm việc với Bộ công an tôi nói rất rõ ràng tôi chết thì thôi chứ tôi vẫn biểu tình phản đối Trung Quốc. Còn ai ngăn cản lòng yêu nước của người dân đó là phản động, không thể chấp nhận điều đó được.

Đừng gieo thêm sự ươn hèn

Có lẽ câu cuối cùng của JB Nguyễn Hữu Vinh sẽ khiến không ít người suy nghĩ. Nó ẩn chứa tất cả các vấn đề mà nhà nước Việt Nam đang mắc phải hiện nay. Tất cả các sai lầm này đã và đang lây lan sang người dân làm cho một bộ phận rất lớn tỏ ra ươn hèn còn bản thân nhà nước được ông Vinh mô tả là hèn hạ:

Cái nhà nước này hèn hạ ở chỗ đấy. Đối với người dân thì sừng sộ, công an thì thế này thế nọ…nhưng khi phản đối Trung Quốc thì như con cá ươn. Vậy đã đến lúc người dân phải đứng lên để bảo vệ tổ quốc mình chứ không thể nói rằng cái này đã có Đảng và Nhà nước lo. Đảng và Nhà nước lo mất hết chỗ nọ, mất hết chỗ kia…

ông Nguyễn Hữu Vinh

Đất nước Việt Nam ươn hèn ở chỗ đấy. Cái nhà nước này hèn hạ ở chỗ đấy. Đối với người dân thì sừng sộ, công an thì thế này thế nọ…nhưng khi phản đối Trung Quốc thì như con cá ươn. Vậy đã đến lúc người dân phải đứng lên để bảo vệ tổ quốc mình chứ không thể nói rằng cái này đã có Đảng và Nhà nước lo. Đảng và Nhà nước lo mất hết chỗ nọ, mất hết chỗ kia cho nên tôi đề nghị đây là lần cuối cùng tôi tiếp những phái đoàn như thế này.

Câu chuyện vể người biểu tình chống Trung Quốc có lẽ sẽ còn rất dài nếu không muốn nói là bất tận. Sau khi xem clip của JB Nguyễn Hữu Vinh người dân sẽ vững tin hơn rằng lòng yêu nước của họ sẽ không ai có thể tiêu diệt, ngoại trừ ý chí và sự thèm khát độc lập tự do bị chính họ bỏ rơi.

Nhưng có lẽ quan trọng hơn hết là sự can trường ấy sẽ thức tỉnh nhà nước trước tiên. Có thế lực thù địch nào đủ khả năng gieo vào lòng những con người yêu nước ấy sự dũng cảm quên mình như thế? Chỉ có lòng yêu nước, lòng yêu nước và lòng yêu nước mà thôi.

Theo dòng thời sự:

Lý giải tại sao công an an ninh Việt Nam lại hung hãn và bất chấp pháp luật

Nhiều người cho rằng hiện nay công an đang ngày một tàn nhẫn và bất chấp pháp luật đối với người đấu tranh ôn hòa. Thậm chí ngay cả những ai có tư tưởng khác biệt hay có tiếng nói khác với tư tưởng của chế độ Cộng Sản thì đều bị đàn áp thẳng tay. Nhìn những tấm ảnh chụp thương tích của một số bloggers bị đánh, xe cộ bị đập bể kính, người bị hành hung vô cớ ngay giữa đường phố đông đúc, ngày 13/07/2012, ai cũng tức giận cách hành xử như côn đồ thảo khấu của công an an ninh Việt nam.

Thực ra chúng ta tưởng là công an an ninh thì chuyên lo chuyện an ninh. Chuyện đó đúng, nhưng an ninh cũng có dăm bảy loại. Có người mặc áo an ninh nhưng suốt đời chỉ lo chuyện nhà bếp, thông tin, lái xe, hậu cần, mà chẳng biết gì đến chuyện bắt bớ hay đàn áp.

Cỡ an ninh “xịn” tức là sinh viên tốt nghiệp các trường an ninh tình báo công khai như C500 (Học viện an ninh), Đại học an ninh Linh Trung – Thủ Đức, hay được đào tạo bí mật và không bao giờ mặc quân phục tại các trung tâm đặc biệt. Còn loại an ninh làng nhàng, tức là tốt nghiệp các trường trung cấp an ninh, hoặc là sinh viên (con của các gia đình không có thần thế) mới ra trường từ học viện và đại học an ninh, thì luôn là lực lượng đắc lực chuyên trách việc khám xét, bắt bớ, và “xử lý” những thành phần mà họ quen gọi là “phản động”.

Có thể xác nhận công an an ninh của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam ngày nay đã đỡ tàn ác, đỡ lộng hành và bất chấp pháp luật so với cách đây khoảng 20 năm trở về trước rất nhiều. Trước đây an ninh từ cấp tỉnh trở lên luôn có những tập lệnh bắt người đã ký tên và đóng dấu sẵn, khi muốn bắt một ai đó trong diện tình nghi “phản động”, một số viên công an an ninh địa bàn chỉ cần điền tên người cần bắt và tiến hành bắt người mà không thèm đếm xỉa đến nguyên nhân.

Đặc biệt, nhiều nhân chứng sống cho biết, sau năm 1975 tại một số nơi như khu vực nhà thờ Công Giáo Tây Ninh, Châu Đốc – An Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu,… nhiều vụ thảm sát hàng chục người đã từng xảy ra, dù đối tượng chỉ mới bị nghi ngờ là nhóm phản động, nhưng đã bị an ninh bắn chết hàng loạt, khi họ có hành vi chạy trốn trong lúc công an an ninh bố ráp bắt bớ…

Lý giải vì sao công an an ninh Việt Nam lại có những hành động mất nhân tính đến như vậy là điều không dễ. Nhưng chúng ta hãy xem lại lịch sử của ngành công an thì sẽ thấy: Họ chỉ quen dùng bạo lực để đạt được mục đích của cấp trên mà không mảy may suy xét xem những việc làm của mình có vi phạm pháp luật và đạo đức hay không…

Vụ “ra quân” đầu tiên của công an an ninh Việt Nam dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp ngày 12/07/1946 tại phố Ôn Như Hầu – Hà Nội, là một vụ thảm sát kinh hoàng. Vụ tấn công ấy nhằm vào những nhân vật dân sự có quyền hạn và chức vụ cao trong nội các chính phủ của chính Hồ Chí Minh. Đây là hình mẫu và cũng là bài học giáo khoa thực tế cho các trường an ninh về phương cách “làm việc” luôn bất chấp luật pháp, bất chấp đạo đức của ngành an ninh trong chế độ Cộng Sản về sau.

Một điều trớ trêu là, tuy các trường từ học viện an ninh trở xuống đều có khoa luật, nhưng học viên tại các khoa khác không được tiếp cận các kiến thức pháp luật cơ bản. Họ có thể được đào tạo đa năng: Kiến thức tâm sinh lý, võ thuật, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, tin học v.v…Nhưng về mặt luật pháp, thậm chí ngay cả luật giao thông, họ cũng không được học đầy đủ, mặc dù họ có thể được học lái xe, điều khiển tàu thủy, thậm chí là lái phi cơ trực thăng hay máy bay dân dụng hạng nhẹ…

Có vẻ như chế độ Cộng Sản Việt Nam chỉ chủ trương đào tạo ra những cỗ máy an ninh trong hình dạng con người. Mọi nhân viên an ninh chỉ biết răm rắp phục tùng mệnh lệnh cấp trên mà không cần biết tại sao. Điều đó có thể áp dụng đúng cho một số lĩnh vực đặc biệt, nhất là lĩnh vực tình báo và đặc nhiệm. Nhưng sẽ rất tai hại nếu các nhân viên an ninh không có kiến thức về pháp luật, không có kiến thức về nhân quyền, được đưa ra “làm việc” với thường dân…

Khi một viên công an an ninh thiếu kiến thức pháp luật, coi bất cứ ai có tư tưởng chính trị khác biệt với Đảng Cộng Sản Việt Nam là phản động, và coi bất cứ thành phần nào bị quy kết “phản động” là thù địch với họ, kết cục xảy ra sẽ là bạo lực, nắm đấm, dùi cui, thậm chí là họng súng của họ sẽ được đưa ra. Và chúng ta sẽ không ngạc nhiên nếu được xem những tấm hình chụp thương tích mới nhất mà (chúng ta có quyền tin chắc là công an an ninh Sài Gòn đã làm) đối với một số bloggers trong nước.

Như vậy có thể rút ra một điều: Vì sự chấp hành mệnh lệnh cấp trên một cách máy móc, vì thiếu hiểu biết về luật pháp, vì không được phổ cập và tiếp cận các kiến thức nhân quyền, nhiều nhân viên an ninh của công an Việt Nam đã vô tình coi đồng bào vô tội của mình như những tên tội phạm nguy hiểm. Đây là hậu quả của thủ đoạn đào tạo nhân viên an ninh phiến diện tại các trường an ninh.

Nhưng dù sao, công an cũng là người, họ có cảm nhận và suy luận của riêng mình, sớm hay muộn họ cũng sẽ phải nhận ra, họ đã hành động bất chấp luật pháp và đạo đức.Đường đường một viên công an đại diện cho pháp luật thì họ phải hành động theo luật pháp. Họ sẽ biết cách chống lại hoặc cố tình làm sai lệnh cấp trên, nếu đối tượng mà họ được chỉ đạo đàn áp là đồng bào vô tội của mình.

Lê Nguyên Hồng

Chọn lựa giữa ngoại bang cai trị tốt và chính quyền nội địa cai trị xấu?

Trong mấy ngàn năm lịch sử của loài người, từ khi lập thành quốc gia, các nước luôn đánh lẫn nhau, nước lớn tìm cách thôn tính nước nhỏ nhằm mở mang bờ cõi, cướp bóc tài nguyên, bắt nô lệ, vân vân. Điều này được minh chứng rõ ràng trong lịch sử Á Đông, tiêu biểu là Trung Hoa, sang tới lịch sử Tây phương từ thời cổ Hy lạp. Rõ ràng là khi một nước bị ngoại bang xâm chiếm và cai trị thì chắc chắn là đau khổ triền miên xảy đến cho dân tộc bị trị. Tất cả các dân tộc bị trị đều tìm cách đánh đuổi ngoại bang xâm lược. Trong mỗi nước, cũng thế, các chế độ xấu, không sớm thì muộn, đều lần lượt bị nhân dân thay đổi.

Căn cứ trên thực tế lịch sử ta có thể đặt thành 2 quy luật: (1) Không có ngoại bang nào cai trị tốt, và (2) các chế độ xấu xa trong mỗi nước đều bị chính nhân dân nước đó thay đổi.

Tuy nhiên, đến thế kỷ 20, có hai trường hợp ngoại lệ, và một trường hợp nữa xảy ra vào đầu thế kỷ 21. Đó là trường hợp Nhật Bản và Đức sau Đệ nhị thế chiến. Trường hợp đầu thế kỷ 21 là ở Iraq; trong trường hợp này, vì vẫn còn nhiều dữ kiện lịch sử chưa được công bố, nên ta sẽ bàn đến trường hợp này trong dịp khác.

Bối cảnh lịch sử

Đệ nhị thế chiến do Đức và Nhật gây ra. Hai nước này có một số điểm tương đồng sau: cùng là nước độc tài: Đức là độc tài đảng trị (đảng Quốc Xã) và Nhật là độc tài quân phiệt, cùng là nước phát triển kỹ nghệ cao, cùng bị Mỹ cai trị sau chiến tranh, cùng trải qua một quá trình dân chủ hóa và tiến tới chế độ dân chủ bền vững.

Nhật Bản

Nước Nhật bị buộc phải mở cửa cho tàu chiến của Mỹ (do đề đốc Perry chỉ huy) vào năm 1853 để trình ủy nhiệm thư của tổng thống Filmore. Vào lúc này, Nhật Bản còn thuộc chế độ lãnh chúa (shogun), nhưng các lãnh chúa nhận thấy không chống cự được với sức mạnh của Tây phương nên đồng lòng phục hồi lại chế độ quân chủ và tôn Minh Trị lên ngôi hoàng đế và bắt đầu thời kỳ Minh Trị Duy Tân. Chính quyền Nhật được cải tổ với hoàng đế đứng đầu hành pháp và nội các gồm thượng thư các bộ và cơ mật viện (so sánh với cơ cấu chính quyền triều Nguyễn – Minh Trị sinh cùng thời với Tự Đức nước ta). Từ đó, nước Nhật canh tân, gửi người du học tại Mỹ và Âu châu, và tiến hành kỹ nghệ hóa; nhưng đại đa số dân Nhật vẫn là nông dân. Trong Đệ nhất thế chiến, Nhật bắt đầu “flex the muscle”, biểu dương sức mạnh quân sự sau khi đánh thắng quân Tàu trong Trung Nhật Giáp Ngọ Chiến tranh (1894-95) nhằm giành quyền kiểm soát Triều Tiên, và đặc biệt là chiến thắng quân Nga ở eo biển Đối Mã (Tsushima, tiếng Nhật) nơi có hải cảng Lữ Thuận (Lushunkou, theo tiếng Hoa, Port Arthur, theo tiếng Anh) để giành quyền kiểm soát Hoàng hải và đường tiến xuống Thiên Tân (gần Bắc Kinh).

Tướng Douglas MacArthur và Nhật Hoàng Hirohito gặp gỡ lần đầu tại Đại Sứ Quán Hoa Kỳ ở Tokyo ngày 27/09/1945 (Nguồn: Wikipedia)

Các chiến thắng về quân sự cũng đồng thời đưa đến các thắng lợi khác về chính trị cho “các chính trị gia mặc quân phục” trong việc xây dựng chủ nghĩa quân phiệt tại Nhật Bản. Năm 1931, Nhật xua quân chiếm Mãn Châu, và đến năm 1936 ký hiệp ước với Đức và gia nhập phe Trục năm 1941, chính thức tham gia Đệ nhị thế chiến tại Á châu bằng trận Trân Châu Cảng tháng 12, 1941. Sau đó Nhật thua trận như chúng ta đã biết, nhưng chính sách của Mỹ đối với nước Nhật thua trận mới là điều cho ta tìm hiểu thêm.

Thống tướng (5 sao) Douglas MacArthur là tư lệnh tối cao quân Đồng minh chiếm đóng lãnh thổ Nhật sau chiến tranh; tuy mang tiếng là quân Đồng minh, nhưng chủ yếu vẫn là quân Mỹ. Tướng MacArthur là vị tướng chủ tọa buổi lễ ký biên bản đầu hàng của Nhật trên Khu trục hạm Missouri đậu ngoài khơi vịnh Tokyo vào ngày 2 tháng 9, 1945.

Là tư lệnh tối cao, MacArthur được coi là kiến trúc sư của nước Nhật hiện đại. Sau đây là những việc MacArthur làm trong thời gian làm toàn quyền tại Nhật:

  1. Nhận thức được vai trò quan trọng của Nhật hoàng Hirohito trong việc giữ thể diện quốc gia cho dân Nhật và ổn định chính trị: Đích thân Nhật hoàng sang tòa Đại sứ Mỹ gặp MacArthur và nhận chính ông hoàn toàn chịu trách nhiệm về cuộc chiến. Nhưng MacArthur đã lưu giữ Nhật hoàng tại vị dù gặp nhiều áp lực từ Mỹ buộc ông phải đem Nhật hoàng ra xử như tội phạm chiến tranh [1].
  2. Nhận thức được khả năng và lòng yêu nước của đối tác Nhật bản là thủ tướng Shigeru Yoshida và hợp tác với Yoshida trong việc tái thiết kinh tế và xây dựng dân chủ tại Nhật Bản.
  3. Đề ra chính sách căn bản cho nước Nhật hậu chiến: phi quân sự hóa (demilitarization), dân chủ hóa, và tái thiết kinh tế.
  4. Các chính sách cụ thể về chính trị: nên nhớ trong thời quân chủ, dân Nhật không có quyền chính trị cũng như dân quyền một cách rõ rệt. MacArthur nhanh chóng cho phép dân Nhật được hưởng các quyền này, như quyền được xét xử trong thời gian sớm nhất (hay còn gọi là quyền bảo hộ nhân thân chống lại sự giam gữ trái phép của chính quyền- tiếng Latinh là habeas corpus) [2], hủy bỏ toàn bộ mọi hạn chế các dân quyền, cho phép phụ nữ Nhật được quyền ứng cử/bầu cử (trong cuộc bầu cử tự do lần đầu tiên tại nước Nhật năm 1946, 14 triệu phụ nữ đi bầu và có 39 phụ nữ đắc cử vào quốc hội, trong số này là một gái giang hồ nổi tiếng, đắc cử với 256 ngàn phiếu) [3].
  5. Soạn thảo bản hiến pháp cho Nhật: MacArthur đề ra những điểm chính thiết yếu cho một chính quyền dân chủ. Hiến pháp Nhật vừa mang đặc tính của hành pháp theo kiểu Mỹ và quốc hội theo kiểu Anh. Kết quả là nước Nhật theo thể chế quân chủ lập hiến, lưỡng viện. Trước hết, Nhật hoàng cũng chỉ là một công dân của nước Nhật, nay ông là biểu tượng của quốc gia, còn chủ quyền quốc gia không còn thuộc về triều đình nữa mà nay thuộc về toàn dân. Đáng kể nhất là điều 9, cam kết từ bỏ dùng biện pháp quân sự để giải quyết tranh chấp với các nước khác, và một điều khoản quy định rõ ràng về dân quyền (bill of rights theo kiểu Mỹ) – Chương 3 [4].
  6. Sử dụng tối đa thẩm quyền của tư lệnh tối cao trong công việc “nation-building” lại Nhật Bản theo mô hình dân chủ, tạo điều kiện cho chính quyền dân cử của Nhật hoạt động và từng bước trưởng thành. Một trong những thí dụ điển hình là cứu đói năm 1946. Nhật bản thiếu lương thực trầm trọng trong năm 1946, ngay sau khi chấm dứt chiến tranh, đất nước còn chưa hồi phục, dân chúng bắt đầu biểu tình đầy đường đòi lương thực. MacArthur phải hứa với Yoshida là vận động Washington viện trợ thực phẩm dù yêu cầu này bị nhiều chính trị gia Mỹ phản đối không muốn dùng thực phẩm của Mỹ để nuôi kẻ cựu thù. MacArthur đã phải nói: “Hãy gửi cho tôi thực phẩm hay gửi cho tôi đạn dược”[5].
  7. Cải cách ruộng đất. Năm 1945 đa số nông dân Nhật vẫn là những “người cầy không có ruộng”, đất đai thuộc về những chủ điền ở thành thị. Những người nông dân nghèo bất mãn, không có đất đai đã hưởng ứng lời kêu gọi của giới quân phiệt và giúp cho quân phiệt nắm được chính quyền một cách dễ dàng. Thành phần nông dân bần cố nông cũng là thành phần dễ bị ảnh hưởng của sự tuyên truyền của đảng cộng sản Nhật (được thành lập năm 1922). MacArthur chủ trương phải cải cách ruộng đất tại Nhật và chủ trương này được Yoshida thực hiện qua các đạo luật cải cách ruộng đất, và đến năm 1950, 90% nông dân Nhật được làm chủ ruộng đất của chính mình [6].

Đối tác Nhật Bản

Chính sách của Mỹ (thể hiện qua MacArthur) chắc chắn sẽ không thể nào thực hiện được suôn sẻ nếu không có một đối tác đủ tầm cỡ từ phía Nhật Bản đưa vào thực hành. Đối tác đó là Shigeru Yoshida (Cát Điền Mậu). Yoshida (1878-1967) bắt đầu sự nghiệp chính trị trong ngành ngoại giao; trong tư thế này ông có một cái nhìn đúng đắn và am hiểu về các nước phương Tây hơn các chính trị gia thuộc giới quân nhân, và được xem là có khuynh hướng thân Tây phương. Do đó, khi phe quân nhân lên cầm quyền, dù được thủ tướng lúc đó (1936) bổ nhiệm làm Ngoại trưởng, nhưng ông vẫn bị phe quân nhân phủ quyết, thay vào đó, ông được cử làm Đại sứ tại Anh quốc.

Trong cương vị ngoại giao, Yoshida cổ võ cho chính sách dùng ngoại giao để giải quyết các tranh chấp quốc tế thay vì dùng đến sức mạnh quân sự như phe quân nhân chủ trương. Thái độ chính trị này rất nguy hiểm vì ông có thể bị bắt giam hoặc ám sát. Khi chiến tranh với Mỹ xảy ra tại Trân Châu Cảng, Đại sứ Mỹ là Joseph Grew bị giam lại tại tòa đại sứ. Trước tình cảnh đó, Yoshida đã gửi một lá thư xin lỗi cho Đại sứ Mỹ và lo cho ông được đối xử tử tế [7].

Trong chiến tranh, Yoshida là thành viên của một mạng lưới gồm những chính trị gia chống chiến tranh và hoạt động chống lại phe quân phiệt. Những hành động này khiến ông bị bắt vào tháng 4 năm 1945, nhưng chỉ bị giam có 40 ngày (4 tháng sau khi Nhật đầu hàng). Khi MacArthur chiếm đóng Nhật Bản, tất cả các chính trị gia quân phiệt đều bị thanh trừng, cho nên khi thành lập chính phủ, thành phần lãnh đạo đảng Tự Do [8] đành phải mời Yoshida đứng ra thành lập chính phủ vào năm 1946. Yoshida giữ chức thủ tướng suốt 7 năm cho đến khi Nhật được Mỹ trao trả toàn bộ chủ quyền qua Hiệp ước Hòa bình ký năm 1951.

Trong cương vị thủ tướng trong suốt 7 năm trời, trải qua 5 chính phủ, Yoshida đã lèo lái nước Nhật từ một nước bại trận đổ nát sang phục hồi kinh tế (dân sinh) và chấn hưng dân khí để trở lại vị trí cường quốc. Giai đoạn 7 năm này rất khó khăn vì Yoshida một mặt phải “deal” với những đòi hỏi của Mỹ về các cải cách xã hội và chính trị, một mặt phải đương đầu với các tranh chấp chính trị giữa các đảng phái (lần đầu tiên nước Nhật có chính trị thi đua kể từ thời Minh Trị Canh tân) và bị “chụp mũ” là tay sai của Mỹ.

Một trong những thành công của Yoshida là ngăn chặn được việc Mỹ muốn giải tán các tập đoàn kinh tế zaibatsu, như Mitsubishi chẳng hạn. Người Mỹ tin rằng các tập đoàn tài phiệt là nguyên nhân gây ra những thảm họa trong thập niên 1930 như dùng sức mạnh quân sự để thực hiện giấc mộng Đại Đông Á, nhưng thực ra để thu thập, cưỡng chiếm tài nguyên thiên nhiên của các nước trong vùng. Đó là lý do Mỹ muốn giải tán các zaibatsu, nhưng Yoshida hiểu rằng, muốn làm cho kinh tế phục hồi, không thể không có zaibatsu.

Chính sách này của ông khiến Yoshida bị phe “cấp tiến” của cả Nhật lẫn Mỹ chỉ trích kịch liệt, nhưng thực tế chứng minh rằng Yoshida đúng, không những trong chính sách kinh tế mà còn trong các lãnh vực khác từ lao động sang tới thương mại, giáo dục, và quốc phòng. Có thể nói thành công lớn nhất của Yoshida là đã đạt được một hiệp ước hòa bình và an ninh với Đồng Minh [9]. Căn cứ theo hiệp ước này, Đồng Minh trao trả toàn bộ độc lập và chủ quyền cho Nhật, nước Nhật sẽ không tái vũ trang (không có quân đội) mà chỉ có một lực lượng phòng thủ (75 ngàn quân vào thời điểm 1951)- Mỹ sẽ lo bảo vệ cho Nhật khi nước này bị nước khác lấn chiếm (Hiệp định An ninh 1952 ký song phương với Mỹ). Yoshida rời chính trường năm 1954 lúc 76 tuổi [10].

Tóm lại, Yoshida, trong cương vị thủ tướng, đã là một đối tác không thể thiếu của MacArthur, và có thể lịch sử nước Nhật đã đi vào một ngã rẽ khác nếu như thiếu một trong hai nhân vật này.

Đức quốc

Ta đều biết Đức là nước hai lần gây ra Thế chiến. Khi nước Đức hoàn toàn thống nhất các tiểu bang lại với nhau năm 1871, lúc đó Đế quốc Đức cũng thành hình và Vương quốc Phổ (Prussia) thuộc họ Hohenzollern trở thành dòng họ cai trị Đế quốc Đức. Khi Thế chiến thứ nhất xảy ra năm 1914, Đức là một trong những nước thuộc phe “Cường quốc Trung ương” khởi động chiến tranh. Đến năm 1918, khi chiến tranh sắp tàn, tại Đức xảy ra một cuộc cách mạng khiến cho vua William đệ II phải thoái vị, đưa đến việc thành lập nền Cộng hòa Weimar (vì quốc hội lập hiến được triệu tập tại thành phố Weimar) – một chế độ cộng hòa, dân chủ hiến định.

Tuy nhiên nền cộng hòa non trẻ này gặp nhiều khó khăn vì kinh tế suy thoái sau khi Đức thua trận và nhất là thái độ thiếu mã thượng của phe Đồng Minh (Anh Pháp Nga) khi bắt Đức phải ký bản tuyên bố đầu hàng trên một toa xe lửa tồi tàn và các khoản bồi thường chiến phí quá nặng nề khiến lòng tự ái dân tộc của người dân Đức bị tổn thương và mất tin tưởng vào chính quyền dân chủ. Chính điều này dọn đường cho đảng Quốc Xã lên nắm quyền qua bầu cử (sic). Nền Cộng Hòa Weimar được coi như chính thức cáo chung năm 1933 sau 15 năm thực tập dân chủ.

Sau đó thì chúng ta đã biết, Hitler phát động Đệ nhị thế chiến từ 1939-1945, và cuối cùng Đức lại bị phe Đồng Minh đánh bại [11]. Khác với nước Nhật khi đầu hàng chỉ có quân Mỹ vào tiếp quản, nước Đức bị Tứ Cường – Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô – chiếm đóng, với phe Anh Pháp Mỹ chiếm phía tây và Liên Xô phía đông. Tại Đức không có một nhân vật nào của Đồng Minh có “tầm cỡ” như MacArthur ở Nhật, và chính sách của Đồng Minh đối với Đức là chính sách được thảo luận và cùng chấp thuận. Tuy vậy, Mỹ vẫn là nước có tiếng nói quan trọng và ảnh hưởng lớn lao trong việc định hướng chính trị cho nước Đức hậu chiến.

Điều đầu tiên phe Đồng Minh làm là nhanh chóng chuyển giao quyền lực từ chính quyền quân đội (ủy ban quân quản 4 bên, sau này khi Liên Xô trở mặt chiếm Đông Đức, còn lại ủy ban quân quản 3 bên) sang chính quyền dân sự, theo thể chế dân chủ cộng hòa. Nước Đức trước chiến tranh đã là một nước dân chủ, cho nên việc tái lập thể chế dân chủ không phải là điều khó khăn vì người dân, sau khi trải qua chế độ Quốc Xã, đã quá ngán ngẩm và chán ghét chế độ độc tài. Tuy nhiên, nước Đức hậu chiến thiếu một nhân vật đủ tài đức để lãnh đạo quốc gia, vì những người dân chủ tài giỏi đã bị Hitler giết, còn những người khác có tài thì lại dính dáng với Quốc Xã. Đó là lúc mà Konrad Adenauer xuất hiện.

Trước khi bàn về vai trò của Adenauer, không thể không nhắc đến vai trò của Mỹ trong việc định hình chính sách đối với châu Âu nói chung và nước Đức nói riêng. Sau chiến tranh, hạ tầng cơ sở của cả châu Âu bị phá hủy hầu như toàn diện với hàng triệu người vừa chết vừa bị thương, bị phiêu tán, thiếu hụt lương thực trầm trọng và nạn đói đe dọa toàn châu Âu. Trước tình cảnh này, năm 1947, ngoại trưởng Mỹ là George Marshall (cũng là thống tướng tổng tham mưu trưởng trong Đệ nhị thế chiến) đề nghị một kế hoạch viện trợ tái thiết Âu châu kể cả cho Liên Xô nhưng nước này từ chối không nhận.

Kế hoạch này thường được gọi là Kế hoạch Marshall lên đến 12 tỷ USD. Trên danh nghĩa, đây là số tiền Mỹ cho vay và được gửi vào trong quỹ Tái thiết Âu châu (European Recovery Program – ERP) của Tổ chức Hợp tác Kinh tế Âu châu. Những nước Âu châu, kể cả Đức, mượn tiền từ quỹ này và trả góp từ từ để tái thiết, nhưng số tiền trả lại này không cần hoàn trả cho Mỹ mà được trả cho ERP để tái đầu tư cho các dự án xây dựng khác. Lâu dần số nợ này được “quên” đi. Riêng số tiền viện trợ cho Đức từ Kế hoạch Marshall lên tới 1,5 tỷ USD. Tới đây cần mở một câu hỏi, tại sao Mỹ lại “cho không, biếu không” số tiền lên đến 12 tỷ USD từ năm 1947-1951?) [12].

Nước Đức bị chia đôi kể từ năm 1949. Khu vực phía tây được Đồng Minh trao trả lại cho Đức và hình thành nước Cộng hòa Liên bang Đức (CHLBĐ) vào ngày 23 tháng 5, 1949. Khu vực phía đông do Liên Xô kiểm soát cũng tuyên bố trở thành một nước 5 tháng sau đó và trở thành nước Cộng hòa Dân chủ Đức. CHLBĐ là một nước dân chủ theo thể chế liên bang và người thủ tướng đầu tiên là Konrad Adenauer.

Đối tác Đức quốc

Konrad Adenauer sinh năm 1876, xuất thân trong một gia đình tiểu công chức ở Cologne, một trong 4 thành phố lớn nhất nước Đức và được coi là trung tâm thương mại và nghệ thuật, và cũng được coi là trung tâm của đạo Công giáo tại Đức. Adenauer học luật và gia nhập đảng Bảo thủ Cologne (đảng này là tiền thân của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo do ông thành lập sau này). Năm 30 tuổi, Adenauer được bầu làm thị trưởng Cologne và bắt đầu sự nghiệp chính trị từ đây – ông làm thị trưởng Cologne qua suốt thời kỳ Thế chiến thứ nhất, và khi nền Cộng hòa Weimar bắt đầu, ông được đảng đề cử ra giữ chức vụ thủ tướng nhưng ông từ chối và tái đắc cử thị trưởng Cologne lần thứ hai (nhiệm kỳ 12 năm).

Khi đảng Quốc Xã lên nắm quyền (qua bầu cử hẳn hoi), tư cách độc lập và tiếng tăm của Adenauer khiến ông trở thành cái gai trong mắt Hitler, vì trong tư cách thị trưởng Adenauer đã công khai tỏ thái độ chống lại đảng Quốc Xã như cấm đảng QX treo biểu ngữ của đảng trên cầu sông Rhine, từ chối gặp Hitler khi Hitler đến Cologne vận động tranh cử năm 1933 [13]. Do đó, khi Hitler cầm quyền, Adenauer bị cầm tù một thời gian ngắn, rồi bị ép rời khỏi chức vụ thị trưởng phải về quê ở ẩn suốt 11 năm. Khi âm mưu ám sát Hitler bị khám phá năm 1944, Adenauer bị bắt lần nữa, nhưng rồi cũng được thả ra vì nhờ có người con trai trong quân đội Quốc Xã “bảo lãnh”.

Khi quân Đồng Minh tiến vào Cologne năm 1945, Mỹ định đưa Adenauer lên làm thị trưởng trở lại, nhưng vì một lý do nào đó, người Anh không đồng ý, nên Adenauer không được làm thị trưởng. Tuy nhiên, nhờ vậy mà Adenauer có thì giờ để thành lập đảng Dân chủ Thiên chúa (Christian Democratic Union – CDU) gồm cả tín đồ theo Tin Lành và Công giáo. Tài năng và đức độ (chúng ta sẽ thảo luận thêm thế nào là tài và đức mà người lãnh đạo cần có) của Adenauer giúp ông đắc cử vào Quốc hội Lập hiến năm 1948 và đã đóng vai trò trọng yếu trong việc hình thành hiến pháp cho CHLBĐ. Với vị thế này, Adenauer đắc cử thủ tướng của CHLBĐ năm ông đã 73 tuổi (1949).

Là lãnh tụ của một nước đang bị chiếm đóng, quyền lực mà Adenauer có được thực sự không là bao nhiêu. Một mặt phe Đồng Minh muốn nước Đức bại trận phải dẹp bỏ các đại kỹ nghệ cơ khí mà Đức có trước và trong khi chiến tranh (tương tự như trường hợp ở Nhật), một mặt, phe đối lập trong chính quyền cho ông là bù nhìn của Mỹ và Đồng Minh và luôn luôn gây khó khăn trong quốc hội. Tuy nhiên, những chính sách thực tế và uyển chuyển của ông đã từng bước một phục hồi kinh tế của Đức và thu hồi lại nền độc lập cho Tây Đức kể từ 1949 (4 năm sau khi bại trận).

Phân tích

Hai trường hợp nêu trên là hai thí dụ cho những ngoại lệ về sự cai trị “tốt” của ngoại bang trên một nước. Cả hai trường hợp này Mỹ là ngoại bang nhưng cai trị tốt so với hai chế độ nội địa đã đưa hai nước Nhật và Đức vào các cuộc chiến tranh khốc liệt, đất nước bị tàn phá gần như diệt vong. Việc làm hiển nhiên nhất và không thể chối cãi được của Mỹ là xây dựng thành công chế độ dân chủ tại hai nước này. Và sau khi nền chính trị dân chủ được củng cố bền vững, Mỹ không những trao trả lại độc lập, mà còn trở thành đồng minh về kinh tế và quốc phòng.

Hai trường hợp này có phải là vì nước Mỹ “nhân từ” hay chỉ vì quyền lợi của Mỹ?

Ta có thể nói nước Mỹ là một đảo quốc, vì quốc gia này được biển cả bao bọc chung quanh. Vị thế địa lý này khiến cho nước Mỹ dễ có khuynh hướng bảo thủ, hướng nội và theo chủ nghĩa tự cô lập (isolationism), không muốn dây dưa với những rắc rối của các nước khác ở Âu châu. Khuynh hướng này được thể hiện qua những chính sách ngoại giao từ những năm mới lập quốc từ 1776 đến 1801 khi xảy ra cuộc chiến với các nước thuộc đế quốc Ottoman ở Phi châu.

Khi kinh tế phát triển và trở thành một cường quốc về kinh tế, chủ nghĩa tự cô lập dần dần chuyển hướng sang quyền lợi quốc gia, điển hình là chủ thuyết Monroe (1823): Tổng thống James Monroe tuyên bố rằng Mỹ sẽ không can thiệp vào nội tình các nước thuộc Âu châu và đổi lại các nước Âu châu cũng không được can thiệp vào nội tình các nước thuộc Mỹ châu (Tây bán cầu), nói một cách khác, Tây bán cầu thuộc về ảnh hưởng của Mỹ. Cũng trong thời gian này Mỹ bắt đầu Tây tiến, chinh phục toàn bộ lục địa Mỹ châu với các vùng đất như Texas, New Mexico, Arizona, California và Oregon về phía tây và Florida về phía đông nam.

Chương trình Tây tiến bắt nguồn từ một chủ thuyết, tạm dịch là “nước Mỹ ngoại hạng” (American exceptionalism), chủ thuyết này cho rằng Mỹ là nước được thượng đế ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, xây dựng thể chế dân chủ đầu tiên, và có bổn phận phát huy lý tưởng dân chủ trên toàn thế giới [14]. Người dân Mỹ qua các thăm dò gần đây nhất vẫn cho rằng Mỹ là một thí dụ xứng đáng cho thế giới noi theo [15].

Phát triển về kinh tế cũng như quyền lợi kinh tế đưa Mỹ đi tìm các thị trường khác trên thế giới như Nhật Bản và Trung Hoa ở Á châu (tại Nhật Bản, đề đốc Matthew Perry đã nổ súng buộc Nhật phải mở cửa cho vào buôn bán năm 1853). Trong giai đoạn này Mỹ cũng đi tìm các thuộc địa ở Thái Bình Dương như Philippines, các hải đảo như Guamm và Puerto Rico (cuối thế kỷ 19). Tuy nhiên, chủ nghĩa thực dân và thuộc địa của chính quyền Mỹ bị rất nhiều nhân sĩ nổi tiếng của Mỹ chỉ trích kịch liệt, điển hình là nhà văn Mark Twain, vua thép và nhà từ thiện Andrew Carnegie, cùng những người khác trong Liên đoàn Phản đế (Anti-Imperialist League).

Sang đầu thế kỷ 20, Mỹ theo chủ nghĩa “bế quan tỏa cảng” về chính trị dù vẫn giao thương với các nước khác. Khi Thế chiến thứ nhất xảy ra, Mỹ vẫn không muốn dính vào cuộc chiến ở Âu châu cho đến khi các tàu buôn của Mỹ bị tàu ngầm Đức đánh chìm, buộc lòng Mỹ phải tham chiến. Khi cuộc chiến chấm dứt, Tổng thống Woodrow Wilson đề nghị thành lập Hội Quốc Liên (League of Nations) là tiền thân của Liên Hiệp quốc bây giờ để giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia với nhau bằng đường lối ngoại giao và hòa bình; tuy nhiên, vì khuynh hướng của dân Mỹ sau chiến tranh lại muốn trở về tình trạng “đóng cửa rút cầu” nên Quốc hội Mỹ không phê chuẩn hiệp ước thành lập Hội Quốc Liên, nên việc này không thành [16].

Sang đến Thế chiến thứ hai [17] và khi vai trò siêu cường của Mỹ đã được công nhận trên thế giới là lãnh đạo của thế giới tự do đương đầu với Xô-viết trong cuộc Chiến tranh Lạnh thì chính sách ngoại giao của Mỹ thiên hẳn về các chính sách thực tế, cân bằng quyền lực, điển hình qua các chủ thuyết “ngăn chặn” (containment), “domino”, vân vân. Khi theo đuổi các chính sách thực tế (realism), Mỹ đã ủng hộ rất nhiều các nhà độc tài vi phạm nhân quyền trầm trọng (tại Châu Mỹ Latinh, Á châu, và cả Phi châu) nhưng lại là đồng minh thân cận của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Lạnh.

Kết luận

Tóm lại, dù hai trường hợp nêu trên là hai trường hợp ngoại lệ, nhưng cũng chứng tỏ được “lòng nhân” của Mỹ đối với nước bại trận, mặc dù số quân nhân Mỹ tử trận là 416.800 người và tốn kém hàng tỷ đô-la chiến phí [18]. Nếu đổi lại Mỹ với bất kỳ nước nào trên thế giới, thì số phận nước bại trận không biết sẽ ra sao. Còn về chính sách ngoại giao của Mỹ, ta có thể ví như một con lắc dao động giữa hai cực: lý tưởng và thực dụng. Các tổng thống Mỹ từ giữa đến cuối thế kỷ 20 thể hiện rất rõ nét sự tương phản giữa hai thái cực lý tưởng và thực dụng, hay pha trộn cả hai trong chính sách ngoại giao của mình. Bài học chúng ta có thể rút ra từ hai trường hợp này là (1) dù người có nhân từ, ta cũng phải có bản lãnh để không trở thành tay sai, và (2) quyền lợi quốc gia vẫn là yếu tố tối hậu quyết định bang giao quốc tế.

Nông Duy Trường

[1] Nixon, Richard, Leaders, Warner Books, 1982, trang 115.
[2] Khi một người bị chính quyền bắt, thì trong thời hạn sớm nhất cảnh sát phải đưa người đó ra tòa để quan tòa luận xem những tội trạng bên chính quyền đưa ra có chính đáng và có đủ chứng cớ hay không.
[3] tlđd. (Tài liệu đã dẫn), trang 116. (Phụ nữ tại Mỹ cũng chỉ mới được quyền ứng/bầu cử vào năm 1921 qua Tu chính Án thứ 19).
[4] http://www.solon.org/Constitutions/Japan/English/english-Constitution.html
[5] tlđd, trang 114.
[6] tlđd.
[7] tlđd.
[8] Đảng phái chính trị (gọi tắt là chính đảng, chính không có nghĩa là công chính hay đối nghịch với tà) tại Nhật được hình thành khá sớm so với các nước tại Á châu, vào năm 1874; nhưng cũng phải trải qua nhiều giai đoạn để trưởng thành, lúc tăng trưởng, lúc bị chính quyền quân chủ đàn áp. Đến năm 1890 các chính đảng đã tham gia thường trực vào sinh hoạt chính trị của quốc gia. Đảng mạnh nhất là đảng Tự Do.
[9] Ký tên vào hiệp ước này có cả đại diện của Việt Nam Cộng Hòa là thủ tướng Trần Văn Hữu (Bản Hiệp ước lưu trữ tại Liên Hiệp Quốc: United Nations Treaty Series 1952 (reg. no. 1832), vol. 136, pp. 45 – 164. Online tại:
http://www.alpha-canada.org/learn/SanFran.htm
[10] tlđd.
[11] Nghị định đầu hàng vô điều kiện được ký vào ngày 7 tháng 5, 1945.
[12] Tham khảo thêm phân tích về Kế hoạch Marshall và Thỏa thuận về các món nợ của Đức tại http://www.cadtm.org/spip.php?article2162
[13] Nixon, tlđd.
[14] Lipset, M. American Exceptionalism: A Double-Edge Sword. W.W. Norton, 1996.
[15] Thimm, J. “American Exceptionalism: Conceptual thoughts and Empirical Evidence,” bản điện tử tại:
http://www.politikwissenschaft.tu-darmstadt.de/fileadmin/pg/Sektionstagung_IB/Thimm-American_exceptionalism.pdf
[16] Xem thêm Chính sách 14 điểm tại http://en.wikipedia.org/wiki/Fourteen_Points
[17] Khi Thế chiến thứ hai xảy ra, Mỹ vẫn chưa muốn dính vào cuộc chiến tại Âu châu. Tổng thống F. Roosevelt phải ứng biến tạo ra chương trình “Lend-lease” để giúp cho Anh quốc, vì Quốc hội Mỹ cấm không cho can dự vào cuộc chiến tại Âu châu, cho đến khi Đức và Ý tuyên chiến với Mỹ ngày 11 tháng 12, 1941, 4 ngày sau khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng (7/12/41).
[18] Wikipedia: http://en.wikipedia.org/wiki/World_War_II_casualties#endnote_US