Tài sản để lại cho thế hệ mai sau không thể là sự nô dịch

Posted on July 17, 2012

0



Nhân đọc tham luận của ông Nguyễn Trung tại hội thảo về khai thác boxit 9/4/2009.

*

Tôi chưa được gặp ông Nguyễn Trung, cũng không biết học hàm, học vị của ông, nhưng qua những bài viết gần đây của ông Nguyễn Trung về những vấn đề hệ trọng của đất nước, tôi xin phép được gọi ông là NHÀ YÊU NƯỚC NGUYỄN TRUNG.

Sau khi đọc đi, đọc lại nhiều lần trên mạng, tham luận của ông tại Hội thảo về khai thác quặng boxit ở Tây nguyên, tôi đã được biết rõ thêm, cụ thể thêm rằng :

  • Thì ra, quy trình thực hiện dự án này là “quy trình lộn ngược”. Một việc bé bằng cái mắt cua như đào mấy củ mỳ (sắn) thôi, mà làm lộn xộn cũng sẽ cuốc vào chân ngay, huống chi là mở ra cả mấy đại công trường, triệt phá cả ngàn hec-ta rừng cao nguyên, bới lên hàng triệu triệu khối đất, xả ra hàng tỷ khối bùn đỏ độc hại, gây nguy cơ ô nhiễm cho nhiều thế hệ trên phạm vi gần một nửa đất nước, để lấy quặng boxit, kéo dài cho đến 2025, mà bước triển khai dự án lại “lộn ngược”, thì không biết có còn gì để nói nữa không ? Ngay như cái sự “hội thảo” này, mặc dù vô cùng cần thiết, nhưng lại “đi” sau bước triển khai tới hơn một năm, cũng là “ngược” mất rồi.
  • Thì ra, hiện tại ở ta cũng đang còn các dự án, mà ông Nguyễn Trung nêu ra những con số, xoay theo những “kịch bản” sẽ diễn ra, khiến nghe qua đã thấy mất hồn, đó là các dự án luyện thép đang trong tình cảnh dở giăng, dở đèn, lỗ chổng vó.
  • Thì ra, các điều kiện cần và đủ để khai thác quặng boxit và sản xuất nhôm ở Tây nguyên, không phải như các ông ở Tập đoàn Than – KS Việt Nam đưa ra.
  • Thì ra, các dự án thép đã đi từ lỗ đến lỗ rồi, còn dự án khai khoáng boxit, để làm ra nhôm với giá thành cao hơn giá bán, cũng sẽ không tránh khỏi lỗ chổng vó nữa, nguy cơ sẽ là hai sợi dây chủ yếu “thít cổ” nền kinh tế Quốc dân.
  • Thì ra, với cái quy trình dự án lộn ngược vô trách nhiệm với dân, với nước, hiệu quả “âm” về kinh tế, xã hội, môi sinh, an ninh v.v… này, sẽ là cái lực tai hại đẩy đất nước đã tụt hậu, càng giật lùi thêm nữa.
  • Thì ra và thì ra … vân vân và vân vân …

Tại sao tôi lại thì ra, thì ra … một cách u mê, ngu muội như thế ? Vì vấn đề hệ trọng đến mức vậy, mà ngót một ngàn tờ báo, tạp chí trong nước im re, sau hội thảo chỉ đưa tin chung chung, thì thử hỏi thằng dân như tôi, và quảng đại người dân khác trong cả nước làm sao mà biết, mà bàn, mà kiểm tra được ? Có được biết, được bàn, thì những người “chân chính sáng tạo ra lịch sử” ở khắp nhà máy, công xưởng, vườn ruộng, mới vững tay liềm, búa, tiếp tục cúc cung tận tụy, cày sâu cuốc bẫm mà xúc đất vun đắp cho nhà nước của dân, do dân, vì dân vô cùng anh minh, sáng suốt này chứ ? Cho nên, mới lại thì ra rằng, đầu thế kỷ trước cha ông mình lâm vào vòng nô lệ, không phải vì làm ăn văng mạng, thua lỗ nợ nần chồng chất, mà là vì lạc hậu, để đất nước tụt hậu. Và, còn thì ra rằng, công nghiệp khai khoáng boxit sẽ vực dậy kinh tế Tây nguyên, còn khó không kém gì lên giời.

Ông Nguyễn Trung đã nói thẳng ra là, tụt hậu sẽ dẫn đến phụ thuộc, mà đã phụ thuộc thì phải “nghe” theo, làm theo ý người ta, thế là thành nô dịch. Vì vậy, mới lại “thì ra” vấn đề di sản cho thế hệ mai sau. Qua tham luận của ông Nguyễn Trung, tôi thiển nghĩ, đây là vấn đề cực kỳ nghiêm trọng. “Đảng ta sinh ở trên đời, một hòn máu đỏ nên người hôm nay” (thơ Tố Hữu). “Người hôm nay” ấy bây giờ cũng đã vào tuổi bát tuần rồi. Dù có muôn năm, có độc quyền lãnh đạo duy nhất, như quy định tại Điều 4 của Hiến pháp, cũng càng phải nghĩ đến di sản cho các thế hệ mai sau của đất nước. Vì thế, xin được nhấn mạnh : “nô dịch” không phải là thứ di sản mạt hạng, khốn nạn mà con cháu chúng ta trông đợi ở ông cha chúng.

Theo dõi thông tin từ hội thảo ngày 9/4/09, tôi đặc biệt chú ý đến ý kiến của ông Hoàng Trung Hải, phó Thủ tướng và ý kiến của Nhà văn hóa Nguyên Ngọc. Ông Hải cho rằng, phải “giám sát quá trình triển khai …”. Xin được hỏi, giám sát bằng cách nào ? Ai giám sát ? Các tiêu chí để giám sát là gì ? Xử lý ra sao ? Chế tài thế nào v.v…? Vì từng có không ít các dự án kiểu “tiền trảm, hậu tấu” như dự án boxit, khi sự cố này, nọ xảy ra là lại phải “chữa cháy” bằng tiền thuế của dân. Nghĩa là, dùng tiền đóng thuế của dân để bù lỗ, giãn nợ, giảm nợ, thậm chí xóa nợ v.v… Và, hậu quả về ô nhiễm xảy ra, mà chắc chắn là sẽ xảy ra, khi đồng bào mình, con cháu của đồng bào mình ở các vùng dự án đã lãnh đủ rồi, nền kinh tế vốn đã chẳng sung sức gì lắm của đất nước đã lãnh đủ rồi, thì cả tôi (người nêu ý kiến này) và ông Hải đều đã nghỉ hưu, hoặc đã về với cát bụi rồi. Lúc ấy, mới nói đến “tấm lòng”, đến “trách nhiệm” … thì vô nghĩa quá. Còn nhà văn, Nhà văn hóa Nguyên Ngọc, thì khẳng định với lập trường dứt khoát rằng, vì bảo vệ môi sinh, bảo vệ không gian văn hóa đã có từ ngàn đời của đồng bào các dân tộc Tây nguyên, hãy nói “không” với khai thác boxit.

Vậy thì nên thế này chăng, cũng giống như ở thủy điện Hoà Bình, chúng ta cho các văn bản của Bộ Chính trị, của Chính phủ, các ý kiến chỉ đạo của ông Nguyễn Tấn Dũng (Thủ tướng), của ông Hoàng Trung Hải, của Tập đoàn than – khoáng sản VN vào một cái địa bạch kim. Cho thư và điện của Cụ Đại tướng Võ Nguyên Giáp; tham luận của ông Nguyễn Trung, báo cáo của ông Nguyễn Thành Sơn v. v… vào một đĩa bạch kim khác, rồi cùng cho vào một cái hộp cũng bằng bạch kim, giữ ở Thư viện Quốc gia, gửi thế kỷ mai sau. Trước hiện tình đất nước lúc ấy, con cháu thế hệ mai sau của đất nước sẽ phán xét. Lúc ấy, chúng sẽ hướng về quá khứ, ai sẽ phải hứng trọn những phát đại pháo phẫn nộ, âu cũng là lẽ công bình. Bởi chúng ta và thế hệ trước chúng ta không quen với chuyện nhận lãnh trách nhiệm, xin từ chức, và đã quá quen với chuyện “hoà cả làng”, trách nhiệm tập thể, soi đuốc bảy ngày không thấy “ thằng” nào chịu trách nhiệm rồi v.v…

Với dự án khai thác boxit ở Tây nguyên, khi được công khai phổ biến rộng rãi những ý kiến phản biện trên các phương tiện thông tin đại chúng, tôi tin rằng không chỉ các nhà chuyên môn có tâm huyết với dân, với nước như các nhà yêu nước Nguyễn Trung, Nguyên Ngọc, mà tuyệt đại đa số đồng bào ta, tuy dân trí chưa cao, nhưng cũng biết thế nào là lợi hại, thế nào là Quốc sỷ, Quốc hồn, Quốc tuý… để bác bỏ thẳng thừng dự án này. Mong lắm thay !

Nguyễn Chính

nchinhvn@yahoo.com

Di họa của quá khứ

Ngày Thứ Tư, 11 Tháng Bẩy 2012 vừa qua, hải quân tuần phòng Nhật Bản nhìn thấy ba chiếc tầu tuần duyên của Trung Cộng đi tới gần quần đảo Sensaku, người Trung Hoa gọi là Ðiếu Ngư Ðài, là nơi hai nước đang tranh chấp.

Ba chiếc tầu Trung Quốc chỉ xuất hiện thoáng qua (báo Economist viết là briefly). Chỉ có thế. Nhưng chính phủ Nhật Bản đã triệu đại sứ Trung Quốc tại Tokyo tới Bộ Ngoại Giao để chính thức phản đối hành động xâm phạm chủ quyền này. Tại cuộc họp của khối ASEAN ở Phnom Penh, Camphuchia, ngoại trưởng Nhật đã yêu cầu gặp riêng ngoại trưởng Trung Quốc để nhắc lại lời phản đối.

Chủ quyền của Nhật Bản trên các đảo Ðiếu Ngư không có căn bản vững chắc bằng chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhật chiếm các đảo Ðiếu Ngư này sau khi đánh thắng quân nhà Thanh năm 1895, cùng lúc cũng chiếm cả Ðài Loan. Khi Nhật Bản bại trận năm 1945, Mỹ đã trả Ðài Loan lại cho Trung Quốc; nhưng Ðiếu Ngư Ðài vẫn coi như thuộc quần đảo Okinawa của Nhật, do quân Mỹ quản trị. Khi Mỹ ký hiệp ước chấm dứt việc quản trị Okinawa, Nhật Bản coi Sensaku thuộc nước mình. Cả chính phủ Ðài Loan lẫn Bắc Kinh đều không chịu, coi Ðiếu Ngư thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

Cuộc tranh chấp về Sensaku đã kéo dài hơn nửa thế kỷ, chưa biết bao giờ mới chấm dứt; mà người ngoại cuộc cũng không thể đồng ý với nhau là bên nào có lý. Hai chính quyền Trung Quốc và Ðài Loan cũng như Nhật Bản đều “hưu chiến.” Nhưng chính phủ Nhật Bản đã hành xử đúng với tư cách một quốc gia tự trọng. Hễ thấy đối phương xúc phạm đến chủ quyền của nước mình thì phản đối ngay, với các hành động ngoại giao mạnh mẽ, quyết liệt. Người Việt Nam có thể so sánh mà cảm thấy tủi hổ về các hành động rụt rè, nhút nhát của chính quyền cộng sản Việt Nam trong hàng chục năm qua, mỗi lần tầu Trung Cộng xâm phạm hải phận Việt Nam, bắt cóc ngư dân Việt Nam, vân vân. Gần đây, trước lòng dân phẫn nộ, chế độ cộng sản đã phải đổi giọng, lâu lâu nói những lời cứng rắn. Ðó chỉ là những lời nói suông nhằm xoa dịu lòng dân phẫn uất; còn trong hành động thì họ vẫn né tránh, không dám cưỡng lại các “đồng chí anh em” Trung Cộng.

Gần đây một lãnh tụ cấp trung đã tuyên bố rất hăng, nói ông ta sẽ cương quyết chống lại Trung Cộng nếu xâm phạm vùng biển thuộc thành phố Ðà Nẵng. Ðây cũng chỉ là một lời nói “không tốn tiền,” với mục đích mị dân. Người dân dốt đến đâu cũng biết: Một thành phố không có lính tráng, không hải quân, không cả một đoàn tầu tuần duyên, thì lấy sức đâu ra chọi với quân xâm lược?

Người dân Nhật lại được tự do bày tỏ thái độ chống Trung Quốc. Thông thường, chủ quyền kinh tế trong vùng biển chung quanh các hòn đảo chỉ được quốc tế công nhận kéo ra xa vài trăm cây số nếu trên hòn đảo có dân cư sinh sống. Cho nên một gia đình người Nhật, Kurihara, trong thập niên 1970, đã mua bốn trong số 5 hòn đảo ở Sensaku, để chứng tỏ họ đang có dự án sinh nhai tại chỗ. Một số thanh niên Nhật Bản yêu nước đã tự động kéo nhau đến Sensaku, mang theo hai con dê thả đó cho sống, coi như đang thực sự khai thác hòn đảo này. Ông Shintaro Ishihara, thị trưởng Tokyo đã bày tỏ ý muốn mua lại các hòn đảo từ tay gia đình Kurihara cho thành phố; với mục đích thúc đẩy chính phủ Nhật phải đưa hải quân ra bảo vệ. Lời hô hào của ông Ishihara được dân Nhật ủng hộ, người ta tự nguyện góp tiền cho thành phố Tokyo mua đảo, số tiền lạc quyên được đã lên tới 1.3 tỷ yen; tương đương với 16.4 triệu đô la Mỹ. Từ bao lâu nay, người dân Nhật Bản bày tỏ lòng yêu nước như vậy, không một người nào bị công an ngăn cấm, bắt bớ khi biểu tình chống Trung Cộng; giống như Huỳnh Thục Vy bị bắt cóc ở Sài Gòn, chở ra Quảng Nam, rồi lại thả về. Không một blogger nào bên Nhật Bản bị công an bắt hỏi cung về những bài phản đối Trung Cộng.

Tại sao người dân Việt Nam lại chịu khốn khổ như vậy? Một lý do là đảng Cộng Sản Việt Nam lỡ nằm trong giọ của Trung Cộng rồi, không cựa quậy được. Từ thời Hồ Chí Minh đã trót theo Trung Cộng, đã thần phục Mao Trạch Ðông, bắt cả nước theo bác Mao ngay từ năm 1950. Bây giờ tất cả đảng cộng sản bị há miệng mắc quai.

Hồ Chí Minh đã ca tụng công ơn của Stalin, Mao Trạch Ðông tại Ðại hội Toàn quốc Ðảng (Lao Ðộng) tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951. Hồ nói, tất cả các chiến sĩ Việt Nam kháng chiến chống Pháp lúc đó đều liều chết là nhờ “giác ngộ chủ nghĩa cộng sản” và được các đồng chí vĩ đại khuyến khích. Các lời tuyên bố của Hồ Chí Minh đã được một phóng viên của tờ Học Tập liên khu 4 ghi lại nguyên văn như sau: “Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm. Còn ông Staline thì xa những muôn dặm… Ông theo dõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta.” Hồ Chí Minh không hề nói tới lòng yêu nước thương nòi, mà đó mới là động cơ chính thúc đẩy các thanh niên Việt Nam hy sinh chiến đấu. Tấm lòng trung thành với Mao Trạch Ðông và Trung Cộng được tiếp diễn đến những năm cuối đời, năm nào Hồ Chí Minh cũng sang Trung Quốc nghỉ dưỡng bệnh rất lâu để được các bác sĩ và hộ lý Trung Cộng săn sóc.

Một hậu quả của thái độ thần phục và tinh thần nô lệ đó là bức công hàm của Phạm Văn Ðồng năm 1958. Ngày 4 tháng 9 năm đó chính quyền Bắc Kinh đã phát hành bản “Công bố của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa về lãnh hải.” Ðoạn đầu viết rất rõ ràng: “Lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, bao gồm Trung Quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Ðài Loan cùng…, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa…”

Chính phủ Bắc Kinh liệt kê tên các đảo quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa của nước ta), Nam Sa (Trường Sa của nước ta), coi như thuộc nước Tàu hết. Vậy mà, mười ngày sau, ông Phạm Văn Ðồng ký công hàm gửi Chu Ân Lai viết rằng chính phủ cộng sản Việt Nam “ghi nhận và tán thành” bản công bố đó; lại nói sẽ “tôn trọng quyết định ấy” và ra lệnh các cơ quan nhà nước “triệt để tôn trọng và thi hành” vân vân.

Bây giờ, mỗi lần có tranh chấp về Hoàng Sa và Trường Sa, Cộng sản Trung Quốc chỉ cần đưa bức công hàm của Phạm Văn Ðồng ra để bịt miệng!

Năm 1992 ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, họp báo tại Hà Nội giải thích rằng: “Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo Hiệp Ðịnh Genève năm 1954 về vấn đề Ðông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này.” Ông Cầm quên một điều này: Sau năm 1954, Hiến Pháp cả hai miền Nam, Bắc đều định nghĩa nước Việt Nam từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, và họ tự có quyền trên cả nước Việt Nam chứ không phải chỉ có một nửa lãnh thổ. Nếu lý luận như ông Cầm thì ví thử bản Công bố về hải phận năm 1958 của Trung Cộng ghi tên Phú Quốc, Côn Sơn thuộc vào nước họ, đảng cộng sản Việt Nam cũng gật đầu “ghi nhận và tán thành” nốt hay sao?

Hồ Chí Minh, Phạm Văn Ðồng đã di họa cho dân tộc Việt Nam, vì họ tôn thờ chủ nghĩa Cộng sản. Ðối với người Cộng sản theo một chủ nghĩa quốc tế, thì không cần đến quốc gia, dân tộc nữa. Hồ Chí Minh viết: “…Nhân dân Việt Nam ta luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình” (Hồ Chí Minh toàn tập, Hà Nội, năm 2000, tập 11, trang 166). Ông cũng ngưỡng mộ Mao không khác; các cố vấn Trung Cộng viết hồi ký kể rằng trong nhiều trận đánh việc chọn một ngọn đồi làm mục tiêu chiến thuật ông Hồ cũng thỉnh thị ý kiến Mao Trạch Ðông trước khi ra lệnh tấn công.

Tinh thần nô lệ các “đồng chí anh em” Trung Cộng đã gây ra phản ứng ngược ngay trong đảng Cộng sản. Chịu không được nỗi nhục đó nên sau năm 1975 Lê Duẩn phản phúc, chống Trung Cộng triệt để, tuyên bố nước Nga mới là tổ quốc thứ hai. Ðiều này Lê Duẩn cũng chỉ lập lại lời Hồ. Năm 1990, Liên xô tan rã, viện trợ cạn kiệt, đảng Cộng sản Việt Nam trước nguy cơ sụp đổ phải quay trở lại xin thần phục Bắc Kinh. Trong tình cảnh “không đánh đã xin quy hàng” như vậy, Cộng sản Trung Quốc có thế đặt để các điều kiện. Một điều kiện cụ thể: Phái đoàn đi thần phục phải đem Phạm Văn Ðồng cùng sang Thành Ðô. Ðó là một cách nhắc nhở lại bức công hàm năm 1958 do ông Ðồng ký!

Khi nào đảng Cộng sản vẫn còn cai trị nước Việt Nam thì những di họa do Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng gây ra không thể xóa bỏ được. Muốn có một chính quyền đủ tư cách nói chuyện ngang hàng với Trung Quốc như chính phủ Nhật Bản; muốn người dân Việt Nam được tự do phản đối các hành động xâm lăng của Trung Quốc như người dân Nhật vẫn làm; thì nước Việt Nam cần phải dân chủ hóa, thiết lập một chính quyền do người dân tự do bầu cử. Người Việt Nam phải tự quyết định thân phận mình. Hàng triệu thanh niên đã hy sinh trong cuộc chiến tranh phi nghĩa gọi là “giải phóng miền Nam” Ðem xương máu hàng triệu con người để xây dự và củng cố bộ máy cường quyền, cho một lũ tham ô hưởng thụ, chia chác với nhau những của cải do tài nguyên và sức lực của toàn dân đóng góp. Dân Việt Nam không thể để cho đảng Cộng sản tiếp tục lừa dối và đè nén được nữa.

Ngô Nhân Dụng