“Nóng” chuyện nợ và an toàn vốn tại các “đại gia” ngân hàng

Posted on July 18, 2012

0



Trong bản báo cáo Kết quả Kiểm toán 2011 về niên độ ngân sách 2010, Kiểm toán Nhà nước đã thẳng thắn chỉ ra từ những điểm chưa được trong chính sách điều hành của NHNN cho đến những sai sót, bất cập của các “ông lớn” ngân hàng quốc doanh.

>> Lãi suất giảm, bất động sản vẫn… bất động
>> Nợ xấu: không dễ giải quyết
>> Nhóm ngân hàng nào đang chiếm nợ xấu lớn nhất?
>> Nợ xấu vẫn quá… đẹp

Họp báo công bố Báo cáo Kiểm toán 2011 sáng 17/7 /2012

Theo kết quả kiểm toán Báo cáo tài chính năm 2010 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và 8 tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm được Tổng kiểm toán Nhà nước (KTNN) công bố sáng nay (18/7), trong năm 2010, các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tài chính được kiểm toán đạt lợi nhuận và tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, đảm bảo các chỉ tiêu hoạt động, an toàn sử dụng vốn và lợi nhuận.

Tuy nhiên, KTNN cho biết, vẫn còn tình trạng NHTM nhiều tháng không đạt mức tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu (CAR) theo quy định của NHNN. Cụ thể, hệ số CAR của một ngân hàng quốc doanh lớn như Vietcombank nhiều tháng liền vẫn còn thấp hơn 8% (tháng 1 đạt 6,8%; tháng 2 đạt 6,5%; tháng 3 đạt 7,6%…). Ba tháng cuối năm 2010, mặc dù có cải thiện hơn song chỉ số này của Vietcombank vẫn dưới quy định 9% (tháng 10 đạt 6,73%; tháng 11 đạt 6,28% và tháng 12 đạt 7,3%).

Về hoạt động đầu tư, góp vốn liên doanh liên kết, hiệu quả một số khoản đầu tư được chỉ ra còn ở mức thấp. Cơ quan kiểm toán dẫn chứng tiếp về trường hợp Vietcombank, khoản góp vốn vào Tổng công ty Dịch vụ Bưu chính Viễn Thông Sài Gòn bị suy giảm gần 90% giá trị. Nếu như giá trị thực vốn góp là 138 tỷ đồng thị tài ngày 31/12/2010, chỉ còn lại vỏn vẹn 23 tỷ đồng.

Về quản lý thu nhập, chi phí, cơ quan kiểm toán ghi nhận, các ngân hàng đã kiểm toán quản lý thu nhập, chi phí tương đối chặt chẽ, thu nhập của các ngân hàng chủ yếu từ các hoạt động tín dụng. Thu lãi từ VietinBank chiếm 90,19% tổng thu nhập, của Vietcombank chiếm 84-86% tổng thu nhập. Song, KTNN cũng “phê bình” Vietcombank trích lập dự phòng rủi ro tín dụng chưa chính xác. Cụ thể, ngân hàng này đã trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 2010 vượt 117,02 tỷ đồng.

Ở hoạt động tín dụng, năm 2010 ghi nhận thời điểm tăng trưởng tín dụng “nóng” gây nhiều áp lực, khó khăn cho việc kiềm lạm phát. Nếu như chỉ tiêu theo Nghị quyết của Chính phủ chỉ dừng lại ở 6,19% thì trên thực tế, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đã lên đến 31,19%. Tăng trưởng tín dụng ở lĩnh vực chứng khoán và bất động sản trong năm này tới 40,93% và 28,11%.

Trong khi đó, tỉ lệ nợ xấu tăng so năm trước đó và chiếm 2,19% tổng dư nợ. Trong đó, tỉ lệ nợ xấu năm 2010 của Vietcombank là 2,91%, cao hơn 2009 là 2%; của VietinBank là 1,27% tăng 0,66% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số này ở VDB thì không thể tệ hơn với tỉ lệ 12,45%.

Riêng về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB), trong năm 2010, ngân hàng cho vay thương mại ngoài các chương trình được Nhà nước cho phép, kết quả kinh doanh lỗ 18,1 tỷ đồng, nợ quá hạn 438 tỷ đồng và tăng so với năm trước. Trong khi đó, hoạt động huy động vốn của VDB cũng vượt quá nhu cầu cho vay nên phải gửi tại các NHTM.

Có một điểm đáng lưu ý là trong khi báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính được kiểm toán phản ánh trung thực tình hình tài chính và hoạt động thì tại VDB lại bị “lệch”. Cụ thể, Báo cáo tài chính năm 2010 của VDB không hợp nhất với báo cáo tài chính của TCT Phát triển hạ tầng và Đầu tư tài chính Việt Nam, không đánh giá lại số dư vốn ODA và có gốc ngoại tệ.

Mặc dù thực hiện được nhiều dự án góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, song tỷ lệ nợ xấu ở VDB quả thực đáng lo ngại với con số lên đến 12,05%. Trong đó, nợ xấu cho vay xuất khẩu là 13,42%, trong đó chưa bao gồm xợ xấu của Chương trình Cu ba và Tàu biển Vinashin).

Khả năng thu hồi nợ của VDB được Kiểm toán đánh giá là khó khăn, nợ đến hạn càng ngày càng tăng.

Trong bản báo cáo lần này, Kiểm toán Nhà nước cũng “phê” cơ quan điều hành chính sách tiền tệ là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khi áp dụng lãi suất tái cấp vốn thấp hơn nhiều lãi suất huy động trên thị trường đã tạo điều kiện cho một số TCTD lợi dụng như một nguồn vốn giá rẻ ưu đãi, không cơ cấu lại các khoản đầu tư để trả nợ đúng hạn, làm gia tăng dư nợ vay tái cấp vốn của các NHTM.

Nhiều khoản vay tái cấp vốn năm 2010 phải gia hạn với tổng số nợ gia hạn lên đến 68.250 tỷ đồng, chiếm 58% tổng doanh số cho vay. Ngoài ra, việc gia hạn nợ còn được thực hiện không đúng quy định mà theo như cơ quan kiểm toán thì có khoản vay thời hạn 90 ngày được gia hạn đến lần thứ 4, làm thời gian vay kéo dài 389 ngày (mà theo quy định, thời gian cho vay không qua 1 năm và thời gian gia hạn không vượt quá thời gian cho vay lần đầu).

Như vậy, bức tranh về ngành ngân hàng năm 2010, tập trung ở các ngân hàng chính sách, ngân hàng quốc doanh cũng như sự điều hành của NHNN dưới “con mắt” của Kiểm toán Nhà nước đã được phản ánh khách quan, phần nào rất nghiêm khắc nhưng đã đưa ra những lưu ý rất “giá trị” cho lĩnh vực trọng yếu và nhạy cảm này của nền kinh tế.

Bích Diệp

“Trốn” mua nợ, DATC mang tiền đi gửi

Năm 2010, DATC đạt lợi nhuận sau thuế 140 tỷ đồng, tăng 5,6% (7 tỷ đồng) so với năm 2009.

Kiểm toán Nhà nước vừa công bố kết quả kiểm toán sử dụng hơn 2.000 tỷ đồng không đúng nhiệm vụ của Công ty TNHH Một thành viên Mua bán nợ Việt Nam (DATC).

DATC “không thực hiện đầy đủ chức năng nhiệm vụ chính là mua bán nợ và đầu tư dài hạn tái cấu trúc cho doanh nghiệp”, Kiểm toán Nhà nước đánh giá trong về hoạt động kinh doanh và chức năng nhiệm vụ được giao của các tổ chức tài chính trong năm 2010.

Cụ thể, nguồn vốn, quỹ của DATC đến 31/12/2010 là trên 2.616 tỷ đồng. Tuy nhiên, số vốn để mua nợ và đầu tư dài hạn tái cấu trúc doanh nghiệp chỉ chiếm 47,23%, tương đương 1.235,88 tỷ đồng, còn số tiền DATC gửi ngân hàng (Công ty Cho thuê tài chính 2 – Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – ALCII) tới 48,61%, tương đương với 1.272 tỷ đồng.

Chính việc sử dụng vốn không đúng, gửi tiền và cho vay không đúng nhiệm vụ, nên việc sử dụng vốn của DATC đạt hiệu quả thấp, thanh khoản kém. Hệ số bảo toàn vốn năm 2010 (vốn chủ sở hữu năm 2010 trên vốn chủ sở hữu năm 2009) là 1,04%, rất thấp so với lạm phát năm 2010 là 11,75%).

Còn tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn đầu tư của chủ sở hữu là 5,48%, thấp hơn so với năm 2009, trong đó tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn đầu tư vào công ty con là 5,2%, công ty liên doanh liên kết là 0,06%, đầu tư dài hạn khác là 2,8%.

Ngoài ra, việc gửi tiền của đơn vị này cũng dẫn tới có nguy cơ mất vốn. Cụ thể, DATC gửi tiền tại ALC II 110 tỷ đồng, thế nhưng đến 31/12/2011, các hợp đồng tiền gửi tại ALCII đã quá hạn trên 2 năm, DATC chỉ thu được 12,68 tỷ đồng tiền lãi, nguy cơ mất vốn ước tính trên 70 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, tổ chức tín dụng này còn cho Công ty Cà phê Ia Châm vay 27,39 tỷ đồng, cho Công ty Cổ phần Xây dựng công trình 675 vay 6 tỷ đồng.

Về nhiệm vụ được giao của DATC, Kiểm toán Nhà nước cũng đánh giá, hoạt động mua bán nợ và tiếp nhận bàn giao tại DATC còn rất nhiều tồn tại.

DATC sử dụng nợ phải thu và tài sản tồn đọng đã mua để góp vốn thành lập Công ty Cổ phần Xi măng Bắc Kạn – DATC nhưng không thuê thẩm định giá, không xử lý tài chính đối với các khoản nợ và tài sản tồn đọng đã mua trước khi góp vốn.

Ngoài ra, thời điểm tháng 3/2011, DATC đã xóa nợ 26,96 tỷ đồng cho Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng công trình 134 mà không căn cứ vào báo cáo tài chính năm 2010 là không đúng quy định về chức năng hoạt động đã được Bộ Tài chính ban hành, Kiểm toán Nhà nước nhận xét.

Trong phần trao đổi với báo giới tại cuộc họp báo công bố kết quả kiểm toán năm 2010 vào sáng 18/7 tại Hà Nội, Phó tổng kiểm toán Nhà nước Lê Minh Khái cho hay, trong bối cảnh khó có một công ty mua bán nợ xấu được thành lập, thì với vai trò của mình, DATC lại có những hoạt động chưa đúng với nhiệm vụ.

Kiểm toán Nhà nước cũng ghi nhận thành tích của DATC trong thời gian qua cũng đã giúp được một số doanh nghiệp tái cơ cấu thành công. Và năm 2010, DATC đạt lợi nhuận sau thuế 140 tỷ đồng, tăng 5,6% (7 tỷ đồng) so với năm 2009.

Song theo lời ông Khái, Kiểm toán Nhà nước có kiến nghị với Chính phủ và Bộ Tài chính chỉ đạo kiểm điểm quyết liệt DATC về những hoạt động chưa đúng của đơn vị này.

VN Economy

Nợ xấu: ‘Trần tình’ rồi thêm lo

Ngân hàng Nhà nước đã có buổi “trần tình” về nợ xấu. Trong đó, các con số chính thức đã được đưa ra và giải thích sự sai lệch. Tuy nhiên, giải thích này không thể xóa hết các băn khoản và lo lắng về nợ xấu. Thậm chí còn lộ ra những nỗi lo mới về kiểm soát và xử lý nợ xấu của các ngân hàng.

>> Ngân hàng lớn: Nợ xấu nhiều
>> Mua bán nợ xấu: Chỉ cần 10-20 ngàn tỷ
>> Thường vụ muốn chất vấn Thống đốc về nợ xấu
>> Ngân hàng Nhà nước trần tình về nợ xấu

Theo con số NHNN đưa ra, dư nợ trong lĩnh vực bất động sản (BĐS) không phải cao nhất. Nhưng điều này không phải là mừng. Bởi lẽ: các dự án BĐS thường có tài sản đảm bảo là các BĐS. Và rất nhiều các khoản vay khác cũng có tài sản đảm bảo là BĐS. Và nói một cách rõ hơn, ở nước ta, đa phần các tài sản đảm bảo là BĐS.

Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, khi rủi ro xảy ra, với việc nắm quá nhiều bất động sản thì các ngân hàng sẽ xử lý ra sao khi mà thị trường BĐS đang đóng băng như hiện nay? Họ sẽ bán các dự án này như thế nào, cho ai trong quá trình xử lý nợ xấu? Nếu không bán được BĐS thì nợ xấu xử lý sao?

Đấy chưa kể đến, giá BĐS trước đây cao, được định giá cho vay cao, nay giá xuống thấp thì tài sản có còn đủ để đảm bảo cho khoản vay. Hơn nữa, không thể bỏ qua chuyện tiêu cực, khi các nhân viện ngân hàng cố tình định giá sai để cùng người vay trục lợi.

Theo con số của Ngân hàng Nhà nước, tổng giá trị tài sảm đảm bảo so với nợ xấu là 134,8%. Nếu tính ra số tuyệt đối, tổng giá trị tài sản đảm bảo các ngân hàng đang nắm giữ sẽ vào khoảng 272,296 tỷ đồng.

Nếu 50% con số này là BĐS nhưng chắc chắn thực tế cao hơn nhiều thì số lượng BĐS mà cả hệ thống ngân hàng đang nắm cũng là con số khổng lồ. Với tốc độ xử lý tài sản đảm bảo như hiện nay, không biết, cả hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước, thậm chí huy động cả DATC vào cuộc cũng không biết bao giờ xử lý xuể.

Và cũng không hiểu, nếu một công ty mua bán nợ ra đời thì sẽ dùng biện pháp tài chính gì để xử lý đống BĐS này nếu không dùng tiền mặt?

Vấn đề khác là thành phần bất động sản cũng rất khác nhau: dự án khu nghỉ dưỡng, dự án nhà chung cư, đất ở, đặc biệt là các đất thổ cư, đất cha ông để lại 3-4 đời. Các đất thổ cư, đất cha ông để lại rất dễ vướng phải các vấn đề đạo đức, tình cảm khi mạnh tay xử lý.

Vì thế, tình trạng “bỏ thì thương, vương thì tội” trong xử lý tài sản đảm bảo là câu hỏi không chính thức, nhưng cũng làm cán bộ xử lý nợ biết bao băn khoăn. Đây cũng chính là bài học lớn cho các ngân hàng khi rất “yêu thích” tài sản đảm bảo là bất động sản.

Chưa kể, việc xử lý 15,84% số nợ xấu không tài sản đảm bảo, khoảng 31,997 tỷ sẽ không hề đơn giản, thậm chí, “cam go” hơn việc xử lý nợ có tài sản đảm bảo nhiều. Ngoài ra, các con số này đều chốt ở thời điểm 31/03/2012, tức là hết quý I, còn thời điểm hiện tại, giữa tháng 7 năm 2012, tức là bắt đầu sang tận quý III rồi, thì số liệu chắc sẽ còn biến động nhiều.

Giấu nợ xấu: Yếu kém của giám sát

Ngân hàng Nhà nước cũng đã phải công nhận có tình trạng giấu nợ xấu của các ngân hàng. Việc làm này sẽ dẫn đến các sai lệch của báo cáo tài chính, báo cáo tài chính hợp nhất vì chi phí vận hành sẽ khác nhau do phải trích lập dự phòng rủi ro khác nhau.

Chắc chắn, nếu tỷ lệ nợ xấu khoảng 4,6% như các ngân hàng báo cáo thì lợi nhuận của các ngân hàng này sẽ như họ công bố, nhưng tỷ lệ giám sát lên tới hơn 8% thì lợi nhuận sẽ khác hẳn. Việc làm này sẽ gấy “rối” thông tin, và không hiểu, các cơ quan điều hành ngân hàng sẽ căn cứ vào đâu để điều hành?

Vấn đề nữa là việc kiểm toán các báo cáo tài chính. Ở đây, khi đọc các báo cáo kiểm toán đều thấy đại đa phần các kiểm toán viên đồng ý với báo cáo của ngân hàng, rất ít trường hợp phải điều chỉnh. Vậy mà ngân hàng vẫn giấu được nợ. Vì sao?

Thứ nhất, chúng ta nên hiểu rõ hơn về vai trò của kiểm toán báo cáo tài chính. Các báo cáo tài chính của ngân hàng hàng năm được kiểm toán bởi các Công ty Kiểm toán độc lập. Các công ty này không có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ như kiểm toán nhà nước nên có thể bị đơn vị được kiểm toán không cung cấp tài liệu, chứng từ đầy đủ.

Giới kế toán ngân hàng có chiêu “chây ì”, hẹn hò khất lần ngày mai, ngày mai sẽ cung cấp chứng từ để đến khi hết thời gian kiểm toán thì thôi. Theo một nhân viên kế toán có kinh nghiệm thì chiêu này “đơn giản, mà hiệu quả rất cao”. Ngoài ra, khi đọc báo cáo kiểm toán, chúng ta cũng có thể thấy các phần kiểm toán không có ý kiến hoặc ý kiến loại trừ. Ngoài ra, một “bí kíp” được các bên kiểm toán hay dùng là… cách diễn đạt ngôn ngữ đa nghĩa trong các báo cáo kiểm toán để sau này nếu có vấn đề gì, bên kiểm toán có thể giải thích theo nghĩa của họ.

Thứ hai, các ngân hàng đang sử dụng các “xảo thuật” kế toán tài chính để giảm số nợ, chuyển độ nợ xấu thành các dạng trái phiếu đầu tư, các khoản phải thu, phải trả…

Vì vậy, cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước cần phải mạnh tay thanh tra, kiểm soát các ngân hàng, nhất là trong giai đoạn nhạy cảm như hiện nay. Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước cần phải có chế tài xử lý mạnh tay với các hành vi che giấu thông tin, sai sót thông tin liên quan đến tài chính của các ngân hàng để răn đe các hành vi không đẹp của các ngân hàng để đề phòng rủi ro.

Trần Anh Tuấn

Đằng sau việc giấu nợ xấu, khoe lãi khủng là gì?

Lãi “khủng” thực ra lại là “khối u ác tính” đang tích tụ trong cơ thể ngân hàng, chỉ chờ ngày bung ra thành những di căn không thể cứu chữa.

>> Định giá các khoản nợ xấu như thế nào là hợp lý?

Cáo bạch về tình hình hoạt động 6 tháng đầu năm của một số ngân hàng thương mại cổ phần vừa công bố cho thấy các ngân hàng vẫn có lãi khủng, bất chấp thực tế là tỷ lệ nợ xấu đang gia tăng và tốc độ tăng trưởng tín dụng âm cho đến hết tháng 5 vừa qua.

Trong khi đó, thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy các ngân hàng đã che giấu ít nhất 50% nợ xấu, chỉ công bố một nửa so với thực tế. Tại sao có tình trạng “giấu nợ xấu, khoe lãi khủng”? Đằng sau việc này là gì?

Những thông tin liên quan đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đang khiến dư luận băn khoăn không ngớt. Đặc biệt gần đây khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng lên tới 8,6% tổng dư nợ tín dụng, tương đương hơn 202.000 tỷ đồng. Điều đáng nói là con số này cách khá xa con số do các ngân hàng thương mại tự công bố, thực tế là cao gấp đôi so với báo cáo của các ngân hàng thương mại.

Điều này có nghĩa là, từ lâu các ngân hàng thương mại đã che giấu thực trạng nợ xấu, làm đẹp bảng cân đối kế toán. Theo các chuyên gia, việc làm này có nhiều cái lợi : Thứ nhất, họ sẽ giảm được tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro nếu như tỷ lệ nợ xấu nằm trong phạm vi cho phép của Ngân hàng Nhà nước là 3% tổng dư nợ tín dụng. Thậm chí ngay cả việc điều chỉnh tiêu chí đánh giá nợ xấu, để làm giảm tỷ lệ nợ xấu ở nhóm 4, nhóm 5 (là nhóm được coi là rất khó có khả năng thu hồi) để giảm mức trích lập quĩ dự phòng rủi ro.

Theo qui định của Ngân hàng Nhà nước, với nhóm nợ xấu nhóm 4 hay nhóm 5, ngân hàng thương mại phải trích 50% dư nợ cho dự phòng rủi ro. Chính vì thế, báo cáo của các ngân hàng thương mại cho biết tỷ lệ nợ xấu chỉ là 4,17%, còn nợ xấu nhóm 4, 5 chỉ chiếm 20% trong tổng nợ xấu, nhưng Ngân hàng Nhà nước thì khẳng định con số này phải là 40%.

Thứ hai, khi đưa ra ngoài bảng kế toán những khoản nợ xấu, tức là những khoản khó thu hồi cả gốc lẫn lãi, họ vẫn hạch toán lãi “dự thu” vào bảng quyết toán tài chính, do vậy hiệu quả kinh doanh của ngân hàng vẫn cao. Điều này có thể được ví như hành động “đào hầm dưới cột chống nhà”, hay hành động “tự ăn vào thịt mình” khi mà khối nợ xấu nằm ngoài bảng cân đối tài sản thì ngày càng to lên, khả năng thu hồi ngày càng khó, nhưng những nhà quản trị ngân hàng vẫn hỉ hả chia lãi, hưởng lương cao, bất chấp những rủi ro tiềm ẩn, không cần biết “quả bom nổ chậm ” sẽ nổ lúc nào.

Hành vi này có nguyên nhân từ chính cơ chế quản lý vĩ mô đối với hoạt động ngân hàng, khi giới quản trị ngân hàng – dù thuộc nhà nước hay cổ phần – vẫn luôn có niềm tin vững chắc rằng dù thế nào thì Nhà nước cũng không để ngân hàng chết.

Vì thế, dù có đang tích tụ những quả bom nổ chậm, thì họ cũng vẫn mong đợi một cách duy ý chí rằng nó sẽ không nổ khi họ còn đang cầm chịch; còn nó nổ lúc nào, thì người nào cầm chịch lúc đó sẽ biết. Đây chính là biểu hiện rõ nét nhất của tầm nhìn ngắn hạn về lợi ích, nó cũng là hệ quả tất yếu khi hàng loạt ngân hàng cổ phần thương mại được cho ra đời một cách dễ dãi cách đây chục năm, huy động vốn một cách dễ dãi, hoạt động với phương châm “tranh thủ gặt hái” với những chiêu bài như lập công ty sân sau để tiêu thụ vốn, đổ vốn ồ ạt vào bất động sản, hạch toán ngoài bảng để có cáo bạch “đẹp như mơ”, nhằm đẩy giá cổ phiếu lên cao.

Đã có thời kỳ, ngân hàng cổ phần mọc lên như nấm, nhiều ngành đổ tiền vào làm ngân hàng trong khi không hề có đủ lực lượng nhân lực có chuyên môn quản trị ngân hàng. Chính vì thế, những CEO của ngành ngân hàng mới có cơ đòi hỏi những mức lương khủng, toàn tính bằng triệu đô mỗi năm.

Những CEO “trình cao – lương cao” này quả đã đạt tới trình độ nghệ thuật trong việc che giấu nợ xấu, làm đẹp bảng cân đối tài sản, làm hài lòng cổ đông và Đại hội đồng cổ đông, để được tiếp tục giữ vị trí hưởng lương khủng!

Thực trạng này cũng cho thấy những hạn chế của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, khi chưa có biện pháp chấn chỉnh những hành vi bất cập của một số ngân hàng thương mại chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá, bất chấp có thể gây hại cho hệ thống cũng như cho cả nền kinh tế. Dư luận có quyền đặt câu hỏi: Tại sao các ngân hàng thương mại có thể giấu nợ xấu mà không bị phát hiện?

Đây chính là những nguyên nhân dẫn đến tình hình nợ xấu trở nên khó kiểm soát; tín dụng đóng băng; mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Cũng chính vì thế, lãi khủng thực ra lại là “khối u ác tính” đang tích tụ trong cơ thể ngân hàng, chỉ chờ ngày bung ra thành những di căn không thể cứu chữa.

Vì thế, muốn chữa bệnh tận gốc, ngành ngân hàng cần tập trung mọi nỗ lực xử lý nợ xấu một cách hiệu quả. Sau khi cơ thể đã hết bệnh, thì mới có thể tập trung bồi bổ bằng những cơ chế chính sách tín dụng giúp cho những ngân hàng tốt sớm phục hồi và trở lại phục vụ nền kinh tế, như chức năng cần có của một hệ thống huyết mạch quan trọng.

Trong tiến trình này, cần phải kiên quyết để những ngân hàng yếu, vốn ít, quản trị kém “ngừng cuộc chơi” để hệ thống không phải chịu vạ lây một khi những ngân hàng này đổ vỡ.

Đây là lúc các nhà quản lý Ngân hàng cần có cái nhìn nghiêm túc và khách quan về thực trạng NỢ và LÃI của hệ thống ngân hàng thương mại để quyết tâm chữa trị tận gốc căn bệnh “ Giấu nợ xấu – khoe lãi khủng” này./.

Thu Liên

Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng

Là kênh cung cấp vốn độc quyền cho nền kinh tế Việt Nam vì vậy tình hình kinh doanh của ngân hàng có tác động trực tiếp tới hoạt động các doanh nghiệp.

RFA fileThống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình – Các ngân hàng ở Việt Nam

Nợ xấu là một trong những vấn đề khó khăn nhất của hệ thống ngân hàng hiện nay mà nhà nước cần giải quyết. Thông tín viên Nhân Khánh tìm hiểu tình trạng nợ xấu diễn ra như thế nào trong hệ thống ngân hàng và khả năng xử lý vấn đề này, mời quý vị theo dõi.

Ước tính, nguồn vốn ngân hàng trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chiếm hơn 70%. So với các nước trong khu vực, sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng của các doanh nghiệp là rất lớn.

Định nghĩa nợ xấu ở Việt Nam

Theo một số nhà nghiên cứu, số nợ xấu trong ngân hàng có thể lên tới hơn 14%. Tuy nhiên theo giải trình trước Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình nói số nợ xấu trên toàn hệ thống là khoảng 10%, tương đương chừng 12 tỷ USD. Nhìn chung, số liệu về tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng vẫn chưa thống nhất. Lý do phát sinh sự chênh lệch về số liệu này, chúng tôi được Tiến sỹ Lê Đạt Chí, Trưởng bộ môn Tài chính, Đại học Kinh tế TP.HCM, cho biết như sau:

Định nghĩa ở Việt Nam khác với các chuẩn mực như là quy định trong Basel II, Basel III (Hiệp ước quốc tế về Quản lý rủi ro). Định nghĩa về nợ xấu ở Việt Nam được phân loại theo các nhóm nợ, thường được tính trên cơ sở khả năng thanh toán của con nợ, hay nói cách khác là của các khách hàng khi đi vay. Nếu đến thời hạn mà khách hàng không có khả năng thanh toán lãi và vốn gốc theo hợp đồng thì khoản vay đó được xếp vào các nhóm nợ tương ứng. Tùy theo thời gian họ trì hoãn

Nhân viên ngân hàng đang nhận tiền gởi (ảnh minh hoạ)
Nhân viên ngân hàng đang nhận tiền gởi (ảnh minh hoạ)AFP

không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán.

Định nghĩa ở Việt Nam khác với các chuẩn mực như là quy định trong Hiệp ước quốc tế về Quản lý rủi ro. Định nghĩa về nợ xấu ở Việt Nam được phân loại theo các nhóm nợ, thường được tính trên cơ sở khả năng thanh toán của con nợ, hay nói cách khác là của các khách hàng khi đi vay

Tiến sỹ Lê Đạt Chí

Đây là một điểm khác biệt lớn. Trong khi đó, các tiêu chuẩn đánh giá về xếp loại nợ ở một số các nền kinh tế phát triển thì người ta đánh giá khả năng trả nợ của chủ thể đi vay. Nếu chủ thể đi vay đó có khả năng trả trong tương lai thì được xem là nợ tốt. Cho nên đây là điểm khác biệt lớn so với quan điểm về nợ xấu ở Việt Nam, nợ xấu có nghĩa là con nợ không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Ở Việt Nam không đánh giá trên cơ sở là tài sản đảm bảo của con nợ và khả năng trả nợ trong tương lai của con nợ.

Các tiêu chuẩn quốc tế về nợ xấu không được thừa nhận hoàn toàn ở Việt Nam. Điều này dẫn đến tỷ lệ nợ xấu do các công ty xếp hạng tín dụng quốc tế đưa ra cao hơn nhiều so với tỷ lệ nợ xấu Việt Nam tự xác định. Về các nguyên nhân gây ra nợ xấu, theo Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương là như sau:

Nợ xấu ở Việt Nam thì có nhiều nguyên nhân. Có những nguyên nhân từ quản trị doanh nghiệp, có những nguyên nhân từ biến động của thị trường kinh tế thế giới và của giảm sức mua ở trong nước.

Cũng có nguyên nhân do lợi ích nhóm và các hành vi kinh doanh thiếu minh bạch. Đấy là 3 nhóm nguyên nhân chủ yếu.

Ở một góc độ phân tích khác, Tiến sỹ Lê Đạt Chí có ý kiến về nguyên nhân dẫn đến nợ xấu ở Việt Nam là:

Bước đầu, trong các số liệu được công bố của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì có 2 vấn đề. Một là nợ xấu nằm ở các ngân hàng quốc doanh. Các ngân hàng này khi thực hiện một số chủ trương lớn của nhà nước trong vấn đề phát triển kinh tế xã hội thì họ đã cho vay nhiều vào một số ngành nghề, lãnh vực mà nơi đó hầu như các thành phần kinh tế nhà nước đang nắm chủ đạo và chi phối.

Cho nên mức nợ xấu đối với các ngân hàng quốc doanh sở hữu nhà nước đang chiếm một tỷ trọng lớn hơn 50% trong tổng lượng nợ xấu. Khi nền kinh tế thế giới hay Việt Nam có biến cố, làm cho khả năng quản trị của các tài sản đầu tư kém hiệu quả, và rơi vào tình trạng mất hoặc kém đi khả năng thanh toán nợ.

các ngân hàng TMCP đều có những tập đoàn, những chuỗi doanh nghiệp ở đằng sau. Cho nên có khả năng là việc tài trợ từ hệ thống ngân hàng TMCP này cho các sân sau của họ vượt quá mức. Khi những doanh nghiệp sân sau này có biến cố thì dẫn đến họ không có khả năng trả nợ.

Nhóm thứ hai nợ xấu ở Việt Nam nằm ở khối các ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP). Đặc điểm của các ngân hàng TMCP là bị chi phối bởi nhóm tư bản thân hữu hoặc các nhóm tư bản đang thống trị. Chúng ta thấy rằng là những ông chủ của các ngân hàng TMCP đều có những tập đoàn, những chuỗi doanh nghiệp ở đằng sau.

Cho nên có khả năng là việc tài trợ từ hệ thống ngân hàng TMCP này cho các sân sau của họ vượt quá mức. Khi những doanh nghiệp sân sau này có biến cố thì dẫn đến họ không có khả năng trả nợ. Hoặc là các tài sản đó được định giá quá cao và bây giờ các tài sản đó bị sụt giảm giá trị. Cho nên sau khi thanh tra lại thì người ta vẫn thấy rằng, các tài

Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng nhà nước. RFA

sản đảm bảo cho các khoản vay này sụt giảm giá trị dẫn đến nợ xấu của Việt Nam tăng cao. Trách nhiệm của ngân hàng

Về nguyên tắc, nợ xấu cao thì lợi nhuận thấp. Tuy nhiên, trong thực tế không hẳn như vậy. Theo công bố của hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần, lợi nhuận quý 1 năm nay của đa số các ngân hàng này thường ở mức hàng ngàn tỷ đồng. Vậy trách nhiệm của ngân hàng nằm ở đâu trong việc để phát sinh nợ xấu. Theo Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, cụ thể là như sau:

Theo tôi thì ngân hàng lãnh ít nhất là 50% trách nhiệm trong vấn đề nợ xấu này, trong nhiều trường hợp có lẽ là trên 50%. Tình trạng ngân hàng phải cấp tín dụng theo mệnh lệnh của một ai đó, đối với các ngân hàng thuộc thành phần kinh tế nhà nước là không ít. Chúng ta đều biết, là Vinashin đã nhận được rất nhiều các khoản vay mà hồ sơ cũng như dự án hết sức là sơ sài. Không có sự giải thích rõ ràng về hiệu quả, không có quá trình thẩm định khách quan.v.v.

Theo tôi thì ngân hàng lãnh ít nhất là 50% trách nhiệm trong vấn đề nợ xấu này, trong nhiều trường hợp có lẽ là trên 50%. Tình trạng ngân hàng phải cấp tín dụng theo mệnh lệnh của một ai đó, đối với các ngân hàng thuộc thành phần kinh tế nhà nước là không ít.

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh

Đối với các ngân hàng tư nhân, ngân hàng cổ phần thì có những ngân hàng hoạt động tương đối tốt; tình trạng thiếu thẩm định hoặc là lợi ích nhóm tương đối thấp. Tôi muốn đơn cử như ngân hàng ACB là nơi tôi có ấn tượng tốt đẹp. Còn có không ít những ngân hàng khác thì có các cổ đông lớn đã gây áp lực và đã nhận được những khoản vay rất lớn, theo những điều kiện ưu đãi để dành cho các dự án khá mạo hiểm; mà sau đó, các dự án đầu tư đó cũng có trường hợp là không thành công và nợ xấu đã phát sinh. Theo tôi, trong các trường hợp này thì lợi ích nhóm và các quy trình thẩm định rõ ràng là có thiếu sót.

Trong hệ thống ngân hàng cổ phần tại Việt Nam đang tồn tại một hiện tượng sở hữu chéo phức tạp. Một cổ đông lớn, một nhóm đầu tư sở hữu cổ phần ở nhiều ngân hàng; ngân hàng này sở hữu ngân hàng kia… Tình trạng này dẫn đến các nguyên tắc, quy định tài chính bị phá vỡ. Chẳng hạn, ngân hàng không được cho chính người sở hữu vay vốn nhưng nhờ mạng lưới sở hữu chéo, hầu hết các ngân hàng cổ phần đều cho chính chủ của mình vay.

Vấn đề xử lý nợ xấu liên quan trực tiếp đến các nhóm lợi ích. Liệu với chức năng quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước, vấn nạn này có giải quyết được dứt điểm hay không, hay đòi hỏi trách nhiệm xử lý ở một cấp cao hơn, chẳng hạn là Chính phủ. Tiến sỹ Lê Đăng Doanh có ý kiến như sau:

Tôi nghĩ rằng Ngân hàng Nhà nước có phần trách nhiệm trong quá trình thẩm tra, trong quá trình quy định các chuẩn mực về nợ xấu, trong quy trình đòi hỏi các báo cáo và thẩm định các báo cáo đó. Nhưng trách nhiệm và vai trò cao hơn, rất cần thiết là thuộc các thể chế chính trị.

Tôi nghĩ rằng Ngân hàng Nhà nước có phần trách nhiệm trong quá trình thẩm tra, trong quá trình quy định các chuẩn mực về nợ xấu, trong quy trình đòi hỏi các báo cáo và thẩm định các báo cáo đó. Nhưng trách nhiệm và vai trò cao hơn, rất cần thiết là thuộc các thể chế chính trị.

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh

Việc ai đó dùng quyền lực của mình ra lệnh phải cung cấp đất, phải cung cấp tín dụng cho những doanh nghiệp, cho những dự án nhất định. Đấy là các khiếm khuyết của thể chế chính trị, của thể chế kinh tế; trong đó quyền lực được sử dụng mà không có sự giám sát và thiếu công khai, minh bạch.

Nếu bây giờ Quốc hội biết được đầy đủ rằng, những mệnh lệnh đó đã được ra như thế nào và đã có những khoản tín dụng đã được chuyển mà không có các thủ tục, không có sự thẩm định, không có dự án một cách minh bạch thì chắc là Quốc hội cũng sẽ phải lên tiếng. Tôi nghĩ rằng, vấn đề nợ xấu sẽ đòi hỏi có một cuộc cải cách rất nghiêm túc, toàn diện trong công cuộc đổi mới về kinh tế, về chính trị và xã hội ở Việt Nam.

Việt Nam cần có nhiều bước đột phá mạnh về mặt chính sách. Chẳng hạn, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu nhưng nợ của doanh nghiệp nhà nước thì rốt cuộc lại do người dân đóng thuế phải chịu. Do đó, giải quyết vấn đề nợ xấu quả là rất phức tạp.

Nợ xấu ngăn cản dòng vốn từ ngân hàng chảy sang các doanh nghiệp. Nếu không giải quyết được hiện tượng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng, sẽ phát sinh tình trạng dùng tiền ngân sách giải quyết nợ xấu mà thực chất là dùng tiền thuế của dân đi cứu trợ cho các nhóm lợi ích, các ông chủ ngân hàng.

Theo dòng thời sự:

Posted in: Chính Trị