Trung Quốc : Con hổ giấy ?

Posted on July 22, 2012

0



Tù binh Trung Cộng trong cuộc chiến biên giới Việt-Hoa năm 1979

Hàm hạ sĩ quan giá từ 10 đến 20 ngàn đô-la, tùy theo vị trí. Hàm tướng thì phải cần đến hàng trăm ngàn đô-la. Chuyện « mua quan bán chức » đang hoành hành hầu như công khai ngay trong lòng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa. Theo nhận định của Le Nouvel Observateur, Là cường quốc quân sự thứ hai trên thế giới, chỉ đứng sau Hoa Kỳ, quân đội Trung Quốc cũng là một trong những đội quân tham nhũng nhất, vô kỷ luật nhất và thiếu kinh nghiệm nhất.

Theo bài viết, nếu như mức tăng trưởng kinh tế luôn ở mức hai con số, thì ngân sách cho quân đội cũng tăng nhanh với tốc độ đến chóng mặt. Kích cỡ của quân đội giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã tăng lên gấp đôi trong vòng 20 năm nay, không những về quân số mà cả về trang thiết bị. Nắm trong tay toàn bộ hệ thống vũ khí tối tân thế hệ mới nhất – chủ yếu được mua từ Nga, giờ đây, Trung Quốc là cường quốc quân sự thứ hai trên thế giới, chỉ đứng sau Hoa Kỳ.

Sự lớn mạnh của quân đội Trung quốc khiến cho Lầu Năm Góc phải lo âu. Hoa Kỳ buộc phải định hướng lại chính sách quốc phòng, chuyển từ Trung Đông sang châu Á – Thái Bình Dương. Sự trỗi dậy ngoạn mục ! Giữa những đội quân tơi tả đi chinh phục Bắc Kinh vào năm 1949 và quân đội giải phóng nhân dân trong thế kỷ mới này, theo Le Nouvel Observateur nhận xét, là cả một sự nhảy vọt phi thường. Các tướng lĩnh Trung quốc ngày nay ngày càng có những lời lẽ hiếu chiến. Thế nhưng, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài tỏ ra nghi ngờ về sự rùng mình thay da đổi thịt quá nhanh chóng này, về khả năng thật sự của quân đội Trung Quốc trong việc sử dụng các loại vũ khí tối tân, mua được nhờ vào thặng dư thương mại, và khả năng bảo dưỡng.

Ngược lại, điều làm cho đảng Cộng sản Trung Quốc lo âu nhất chính là nạn tham nhũng. Nhiều hồi chuông báo động đã được gióng lên. Theo tướng Lưu Nguyên, ủy viên chính trị của Tổng cục Hậu cần, quân đội Trung Hoa đang nằm kề miệng vực. Ông nói : « Không một quốc gia nào có thể đánh bại được Trung Quốc và không có gì có thể phá hoại Đảng của chúng ta. Không có gì hết, ngoài trừ nạn tham nhũng : nó có thể dẫn chúng ta đi đến thất bại trước khi viên đạn đầu tiên được bắn ra ».

Lưu Nguyên là vị tướng đầu tiên dám tố cáo công khai những gì mà các đồng sự của ông chí nhìn nhận riêng với nhau. Những lời chỉ trích của tướng Lưu Viên , không phải là những lời nói suông, bởi vì ngay trong chính Tổng cục Hậu cần, ông đã từng « tai nghe mắt thấy » về tệ nạn này. Ông tố cáo mọi thủ đoạn được sủ dụng trong quân đội : biển thủ công quỹ, lạm dụng chức quyền và công vụ. Thậm chí, có cả đe dọa, âm mưu, đảo chính trong nội bộ. Một số các sĩ quan còn đi xa hơn khi sử dụng đến trò bắt cóc các sĩ quan trung thực của Đảng và cưỡng ép cấp trên phải che chở cho họ. Kể cả mọi cách thức theo kiểu mafia đều được sử dụng ngay trong lòng quân đội. Đối với tướng Lưu Nguyên, công cuộc chống tham nhũng là « vấn đề sống còn ». Bởi vì, ông e sợ sẽ xảy ra trường hợp « bất tuân thượng lệnh » trong trường hợp có chiến tranh.

Le Nouvel Observateur cho biết, bất chấp chiến dịch quét sạch tham nhũng được thực hiện vào năm 2006, trước sau vẫn y như cũ. Các nguồn tài trợ cho quân sự vẫn tiếp tục bị các quan chức đục khoét. Một quan chức ngoại giao mỉa mai nhận xét : « Chưa có một đội quân nào trên thế giới lại có nhiều xe hơi hạng sang như Porsche, siêu xe V8 hay 4×4 đến như thế, và nhất là lại được sử dụng cho mục đích tư ». Đối với một nữ nhà báo, xuất thân từ một gia đình quân đội, « việc này chưa có nghiêm trọng. Mua bán chức tước mới là nghiêm trọng nhất. Hàm sĩ quan có giá từ 10 đến 20 ngàn đô-la. Phải cần đến hàng trăm nghìn đô-la cho hàm tướng. Chúng tôi tự hỏi trong trường hợp có chiến sự, không biết các vị tướng lĩnh con rối này sẽ hành sự như thế nào nữa ».

Theo nhận xét của nhiều chuyên gia quốc tế, tham nhũng đang thao túng trong lòng quân đội Trung Quốc có thể sẽ gây ra nhiều hậu quả to lớn. Thứ nhất, vi phạm sâu sắc đến chất lượng của các lực lượng quân đội. Thứ hai, cản đường tiến bước của nhiều đối tượng xuất chúng, xuất thân từ những gia đình trung lưu. Tệ hại là nó còn gây ra những mối oán hận và làm suy yếu tinh thần đồng đội. Cuối cùng, nghiêm trọng hơn nữa là tham nhũng khơi màu thói chạy theo lợi nhuận theo dây chuyền, bởi vì để « thu hồi lại vốn đầu tư », họ cần phải bán lại sự ủng hộ cho những cấp thấp hơn. Và nạn mua quan bán chức này có thể leo đến tận cấp tướng sư đoàn, theo như quan sát của một chuyên gia Đài Loan.

May mắn thay là ở những vị trí cao hơn, việc tuyển chọn sẽ gắt gao hơn. Ông Scott Harold, chính trị gia bình luận rằng, ở cấp độ này, cần phải đáp ứng nhiều điều kiện khác nữa. Không chỉ có quen biết rộng mà còn phải có khả năng thật sự. Ở những vị trí cao hơn, việc đề cử sẽ còn nghiêm ngặt hơn là do các nhà lãnh đạo chính trị phải cùng đồng thuận.

Giải thích cho việc vì sao Trung Quốc khó khăn trong việc chống tham nhũng, ông George Friedman, một chính trị gia cho rằng nguyên nhân chính là do cấu trúc thượng tầng. Quân đội Trung Quốc vốn được kiến trúc để bảo vệ quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc chứ không phải để dấn thân ra ngoài. Nhiệm vụ hàng đầu của quân đội chỉ là để bảo vệ an ninh trong nước, theo như nhận định của một nhà chính trị học Trung Quốc xin giấu tên.

Ông nói : « Do vậy, quân đội không chịu trách nhiệm trước công lý về các thủ đoạn vặt vãnh của họ, nơi dẫn đến một loạt các vụ sa ngã khác nhau. Họ cũng không cần phải là con át chủ bài trong chiến lược hoặc trong cấu trúc chỉ huy, cũng như việc không cần phải thích hợp với nhiều vũ khí khác nhau…. Việc này không khuyến khích cho sự phát triển một quân đội chuyên nghiệp. Hiện tượng này vẫn duy trì mặt ” ăn bám” và “suy tàn “.

Nhận định được một chuyên gia châu Âu về quốc phòng đồng chia sẻ. Ông này nhắc lại chính việc thiếu kinh nghiệm tác chiến đáng kể của quân đội, mà Trung Quốc đã gặp thất bại chua xót trong cuộc chiến biên giới cuối cùng với Việt Nam vào năm 1979.

RFI

Chủ nghĩa bành trướng không còn phù hợp với thời đại

Sau khi Luật Biển của Việt Nam được Quốc Hội thông qua, ngay lập tức Trung Quốc phản ứng mạnh mẽ bằng nhiều cách trong đó có việc triệu hồi đại sứ Việt Nam tại Bắc kinh đến phản đối, đồng thời nâng cấp quy chế hành chính của 3 quần đảo Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa ở Biển Đông từ cấp huyện lên cấp quận.

AFP

Tàu ngầm hiện đại Trung Quốc thường xuyên xuất hiện ở biển đông với ý đồ biểu dương lực lượng.

Mặc Lâm phỏng vấn đại tá Quách Hải Lượng, nguyên Tùy viên quân sự của đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh để biết thêm quan điểm của ông về vấn đề này.

Mặc Lâm: Thưa ông, Luật Biển Việt Nam sau nhiều năm nghiên cứu và gặp nhiều trở ngại cuối cùng cũng được thông qua vào ngày 21 tháng Sáu vừa qua. Là người từng làm việc trong vai trò tùy viên quân sự tại Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh ông có nhận xét gì về bộ luật được xem là quan trọng này.

Đại tá Quách Hải Lượng: Tôi nghĩ Luật Biển ra đời vào lúc này là đúng chứ chẳng phải là sớm mà thật ra có khi đáng lẽ phải ra sớm hơn nữa, bởi vì một đất nước thì mình phải có luật của mình, phù hợp với luật của quốc tế. Muốn bảo vệ biển thì phải theo luật của quốc tế bằng luật của mình. Tôi cho rằng Quốc hội Việt Nam thông qua luật này là đúng lúc, hợp thời cơ.

Một đất nước thì mình phải có luật của mình, phù hợp với luật của quốc tế. Muốn bảo vệ biển thì phải theo luật của quốc tế bằng luật của mình.

Đại tá Quách Hải Lượng

Mặc Lâm: Thưa ông dư luận quốc tế đã phản ứng tốt với Luật Biển Việt Nam và cho là lời lẽ ôn hòa hợp lý, đặc biệt các điều khoản trong chương 3rất rõ ràng và phù hợp với công ước về luật Biển quốc tế đối với các hoạt động hàng hải của ngoại quốc. Tuy nhiên Trung Quốc đã nhanh chóng phản đối Luật Biển của Việt Nam, từ Quốc hội cho tới chính phủ của họ. Ông nghĩ gì về những lợi phản đối này?

Đại tá Quách Hải Lượng: Tôi nghĩ rằng cái gốc của Trung Quốc là theo đuổi chủ nghĩa bành trướng mà trên thế giới chỉ duy nhất có một mình Trung Quốc là muốn chiếm đất đai, chiếm biển đảo của nước khác chứ còn thế giới người ta không ai giống như họ cả.

Cái gốc đó là gốc sai trái nhưng vì họ tự cho là họ đủ sức

Vệ tinh của công ty DigitalGlobe đã chụp được tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc hôm 8 tháng 12 và đã cho phổ biến hôm 15 tháng 12, 2011
Vệ tinh của công ty DigitalGlobe đã chụp được tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc hôm 8 tháng 12 và đã cho phổ biến hôm 15 tháng 12, 2011/AFP

mạnh cho nên họ cứ làm những việc không phù hợp với ngoại giao quốc tế. Nó không phải là giao hảo quốc tế.Trong khi đó họ vẫn nhấn mạnh là đối với Việt Nam thì họ muốn quan hệ hữu nghị, giải quyết bằng thương lượng này khác nhưng với kiểu đó thì chỉ là sự lấn chiếm, hay nói cách khác là hành động xâm lược với hình thức hợp pháp hóa luật pháp của họ.

Như thế là không đúng, sẽ không được lòng quốc tế và nhất là đối với người Việt Nam ngày càng thấy rõ dã tâm của họ hơn mà thôi.

Mặc Lâm: Mới đây trong một bài trả lời phỏng vấn ông kể về kinh nghiệm của mình trong trận chiến tranh biên giới năm 1979 với Trung Quốc lúc ấy ông là trưởng phòng tác chiến của quân chủng phòng không. Ông cho là Trung Quốc đã tiến hành thông tin, chiến tranh tâm lý làm cho các cấp lạnh đạo Việt Nam mất cảnh giác đến nỗi lính Trung Quốc vào tới Lạng Sơn mà ta vẫn không tin. Thưa những động thái hồi gần đây cho thấy Trung Quốc vẫn đang theo đuổi một chiến lược như vậy đối với Việt Nam trên rất nhiều lĩnh vực. Ông có chia sẻ gì về những dấu hiệu này?

Cái gốc của Trung Quốc là theo đuổi chủ nghĩa bành trướng mà trên thế giới chỉ duy nhất có một mình Trung Quốc là muốn chiếm đất đai, chiếm biển đảo của nước khác chứ còn thế giới người ta không ai giống như họ cả.

Đại tá Quách Hải Lượng

Đại tá Quách Hải Lượng: Chính xác là từ xưa tới nay họ vẫn làm thế và vẫn lập đi lập lại như thế và chưa bao giờ họ từ bỏ cách làm này đâu. Chỉ có điều bây giờ đang nằm trong điều kiện mới…

Đối sách mềm mỏng của Việt Nam là hợp lý

Mặc Lâm:Trong điều kiện kéo dài lâu như vậy nhưng xem ra chính phủ vẫn chưa có một giải pháp nào tương ứng để đối phó, theo ông thì biện pháp tốt nhất là gì và nếu được góp ý kiến thì ông sẽ đưa ra điểu gì?

Đại tá Quách Hải Lượng:Những cái này thì tôi chưa có đề nghị gì bởi vì tôi biết chính phủ hoàn toàn có những phương sách đầy đủ để đối phó nhưng chính phủ rất điềm tỉnh trước những hành động vô lý của Trung Quốc.

Tôi rất tin tưởng chính phủ và lãnh đạo của Việt Nam các ông ấy đang có đối sách hợp lý. Vì đối với một anh hung hãn như thế thì ta nên mềm mỏng chứ không nên lên gân lên cốt làm gì. Thái độ của chính phủ Việt Nam tôi rất hoan nghênh và tôi cho là sáng suốt.

Mặc Lâm: Như vậy liệu một cuốc chiến như năm 1979 lại xảy ra và lịch sử sẽ được lập lại nếu Việt Nam cương quyết chống lại ý đồ bành trướng như ông nói?

Tàu ngầm Kilo cải tiến và máy bay Sukhoi-30MK2 mà VN mua để hiện đại hóa quân đội by
Tàu ngầm Kilo cải tiến và máy bay Sukhoi-30MK2 mà VN mua để hiện đại hóa quân đội /RFA file/Wikipedia

Đại tá Quách Hải Lượng:Cũng chẳng thể lập lại được đâu bởi vì lịch sử nó qua đi, lần sau nếu nó có trở lại thì cũng chỉ gần gần giống như thế thôi chứ nó không bao giờ lập lại được.Mặc Lâm: Cứ cho rằng một kịch bản xấu nhất là Trung Quốc sẽ tấn công chớp nhoáng Việt Nam vì một lý do nào đó mà họ tìm ra. Liệu với khả năng phòng thủ hiện nay Việt Nam có thể cầm cự trong bao lâu để chờ đợi sự nhập cuộc của các phía có quan tâm đối với cuộc chiến trong khu vực thưa ông?

Đại tá Quách Hải Lượng: Điều này nói ra thì hơi rộng. Bây giờ tiềm lực của hai bên anh nào cũng có tiềm lực riêng và Trung Quốc chưa chắc đã biết hết tiềm lực của Việt Nam và Việt Nam cũng chưa thấy hết Trung Quốc nó là cái gì.

Thật ra bây giờ dần dần người ta thấy Trung Quốc không mạnh như là họ tuyên truyền đâu. Hơn nữa muốn xảy ra sự kiện gì về xung đột hay không xung đột thì bao giờ nó cũng đi đôi với hoàn cảnh quốc tế mới. Hoàn cảnh quốc tế mới chính là vấn đề cân bằng chiến lược ở khu vực này mà lúc đó thì Trung Quốc không thể hung hãn làm liều được.

Tuy vậy họ có thể gây những

Bản đồ cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung Tháng Giêng 1979.
Bản đồ cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung Tháng Giêng 1979. File photo

chuyện nhỏ. Những chuyện nhỏ đó họ gây ra thực sự là cái bẫy, cái bẫy này họ muốn đối phương của họ nếu mắc vào thì bị cho là gây sự trước và từ đó họ sẽ hành động mở rộng ra. Việt Nam không bao giờ bị mắc vào cái bẫy này của Trung Quốc.Mặc Lâm: Để tránh cái bẫy đó rõ ràng là cho tới nay Việt Nam đã và đang tự chế có khi vượt giới hạn sĩ diện của một quốc gia nhằm tránh các cuộc đổ máu. Thế nhưng Trung Quốc tiếp tục bắt bớ, giết chóc ngư dân Việt Nam trên vùng biển Hoàng Sa. Liệu Việt Nam còn chịu đựng được bao lâu trước dã tâm này thưa ông?

Đại tá Quách Hải Lượng: Cái đó đòi hỏi một sự đấu tranh kiên trì của ta nhất là nhân dân Việt Nam. Họ vẫn kiên cường ra biển. Phần Trung Quốc thì họ biết là họ làm sai chứ không phải là không biết, nhưng họ cứ bắt bừa đi ra cái điều đó là chủ quyền của họ. Họ muốn nói với thế giới là người Việt Nam đi vào vùng đất chủ quyền của họ chứ họ biết thừa là họ làm vậy là sai.

Đúng là ta cũng có những khó khăn thật nhưng nhân dân Việt Nam vẫn cương quyết bám biển. Việc này có thể vẫn tiếp tục xảy ra nhưng cũng có những cái mà Trung Quốc sẽ phải thay đổi nhất là tình hình gần đây tất cả những biến chuyển trong việc cân bằng lực lượng trong vùng Biển Đông này.

Trung Quốc càng hung hãn thì càng tạo ra sự liên kết của những nước khác trong khu vực chống lại Trung Quốc. Về lâu về dài họ không có lợi đâu, nếu họ thông minh thì họ nên nghĩ lại.

Mặc Lâm: Xin cám ơn Đại tá Quách Hải Lượng đã dành thời gian cho chúng tôi trong cuộc phỏng vấn này.

Theo dòng thời sự:

Biển Ðông: Chuyện gì sẽ xảy ra?

Biển Ðông là một trong những vùng biển có mật độ hàng hải đông đúc nhất trên thế giới. Thập niên 1980, mỗi ngày có ít nhất 270 lượt tàu đi qua vùng Trường Sa, và hiện tại, hơn phân nửa số tàu của thế giới chạy qua vùng biển này hằng năm.

Biểu tình chống Trung Quốc bá quyền ở Hà Nội, ngày 22 Tháng Bảy, 2012

Lượng tàu chở dầu chạy qua Biển Ðông lớn gấp ba lần lượng tàu chạy qua kênh đào Suez và gấp năm lần lượng tàu qua kênh đào Panama, gần 20% lượng dầu thô thế giới được chuyên chở ngang qua Biển Ðông.

Thế kỷ XXI được xem là “thế kỷ của đại dương.” Các quốc gia có biển đều rất quan tâm đến biển, xem trọng việc xây dựng chiến lược biển.

Bờ biển Việt Nam dài 3,444km (theo thống kê cũ là 3,200km) từ Móng Cái-Quảng Ninh đến Hà Tiên-Kiên Giang, vùng biển rộng trên 1 triệu km2, có trên 30 cảng biển, 112 cửa sông, 47 vũng, vịnh và khoảng 3,000 hòn đảo lớn, nhỏ; biển tiếp giáp với Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunay, Thái Lan, Campuchia.

Hiện tại, có thể nói tình hình Biển Ðông luôn là sự kiện nóng nhất trong khu vực và thế giới, nó mang lại cho người quan tâm câu hỏi: Có chiến tranh Biển Ðông hay không? Nếu có chiến tranh, điều gì sẽ xảy ra?

Cũng có thể nói rằng, trong lịch sử thế giới, khó tìm ra một khu vực nhạy cảm hội đủ ba yếu tố: Kinh tế; Chính trị; Văn hóa như Biển Ðông.

Về mặt kinh tế, chính tiềm năng dầu khí đồ sộ, sinh vật biển, diện tích mặt nước rộng lớn vốn là cửa ngõ giao thương của tàu bè trên thế giới với lượng tàu các nước đi qua đây, chiếm được Biển Ðông, cũng đồng nghĩa với chiếm lĩnh yết hầu kinh tế trên biển.

Ðiều này đã khiến các nước trong khu vực Ðông Nam Á, đặc biệt là Trung Quốc thèm muốn và tham vọng bành trướng.

Về chính trị, đây là khu vực duy nhất trên thế giới có sự xung đột nội tại giữa những nhà nước Cộng Sản còn sót lại trên thế giới và có sự xung đột giữa thế lực Tư Bản với thế lực Cộng Sản mà chung cục của sự xung đột này có yếu tố quyết định số phận của không dưới hai dân tộc trong khu vực.

Về mặt văn hóa, đương nhiên, khi lá cờ của Trung Quốc vượt nghìn hải lý tung bay trên Biển Ðông, điều đó cũng đồng nghĩa với ngọn gió văn hóa Trung Cộng đã chiếm chỗ trong khu vực Ðông Nam Á và chủ nghĩa Cộng Sản một lần nữa thách thức văn minh nhân loại.

Sự bành trướng của Trung Quốc

Sự bành trước, xung đột trên Biển Ðông giữa Trung Quốc cùng với sự “khẳng định chủ quyền” mang dấu hiệu lép vế, nhược tiểu của Việt Nam và Philippines đang càng lúc càng căng thẳng hơn, song hành với tình hình giá dầu mỗi lúc một tăng, tài nguyên mỗi lúc thêm cạn kiệt trên thế giới, nguy cơ chiến tranh rất có thể xảy ra.

Xét về mặt tổng thể, việc xảy ra một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc với một nước nào đó không ngoại trừ Việt Nam hoặc giữa Việt Nam với một nước nào đó, ngoại trừ Trung Quốc là rất có thể.

Vì sao? Vì có rất nhiều thứ quyền lợi và sự tồn vong chính trị khiến cho Việt Nam khó có thể xảy ra chiến tranh với Trung Quốc, cho dù, Trung Quốc có thể gây hấn, xâm chiếm đến đỉnh điểm vẫn khó tin rằng Việt Nam (với thể chế chính trị hiện tại) có thể phát động cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Trung Quốc đúng nghĩa.

Vì, xét về mặt quốc tế, Biển Ðông, với siêu cường quốc Hoa Kỳ vẫn chỉ đóng vai trò, giá trị quyền lợi kinh tế là trên hết, điều này khiến cho việc Trường Sa rơi vào tay Trung Quốc hay Việt Nam đều hữu dụng đồi với họ, và vấn đề Trung Quốc thắng hay Việt Nam thắng trong chiến tranh Biển Ðông đều không làm cho nước Mỹ tổn thất.

Với Philippines, vốn là đối tác thân thiết của Mỹ trong nhiều thập kỷ, việc cung cấp kỹ thuật, cung ứng vũ khí và hỗ trợ quân sự cho Philippines khi có chiến tranh Biển Ðông là chuyện hoàn toàn có thể của Mỹ, vì, ngoài ý nghĩa quyền lợi kinh tế, đây còn là một đòn chính trị đánh vỗ mặt chủ nghĩa Cộng Sản, có tính khẳng định sức mạnh siêu cường quốc và phe trục.

Trong khi đó, nhà nước Việt Nam hiện tại, vốn là nhà nước Cộng Sản anh em với Trung Quốc, mang nhiều món nợ trước 30 Tháng Tư 1975 với “người anh em” này nên mọi sự trở nên mắc mứu.

Sự mắc mứu đầu tiên mà họ vấp phải khi xảy ra chiến tranh sẽ là mất đi một ông anh đỡ đầu về mặt chủ nghĩa, kinh tế, thế lực phe trục mà vĩnh viễn không có nước nào có thể thay thế.

Hơn nữa, tình hình kêu gọi nhân quyền mỗi lúc thêm liên kết thành cao trào trong lòng dân tộc Việt Nam, mà nhà nước Việt Nam cố gắng duy trì chế độ độc tài của mình, không cách nào khác phải trấn áp mọi hoạt động có liên quan đến khái niệm này.

Trong hoàn cảnh này, “ông anh cả” Cộng Sản Trung Quốc là chỗ dựa, là tường rào vững chắc nhất.

Nếu nhà nước CS Việt Nam phát động một cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Trung Quốc trên Biển Ðông, cái được sẽ là quyền lợi toàn dân tộc, nhưng cái mất sẽ là ông anh bảo kê Trung Quốc, và khi mất ông anh bảo kê to con này, cũng đồng nghĩa với sự tụt dốc về quyền lực trong nội bộ quốc gia, thậm chí có thể dẫn đến thay đổi thể chế chính trị.

Với Mỹ, việc bán vũ khí sát thương, thậm chí vũ khí hạng nặng cho Việt Nam có “hàng” chơi lại Trung Quốc để đổi lấy một số quyền lợi trên Biển Ðông (đặc biệt là quyền lợi được trao từ một quốc gia có bờ biển dài 3,444km, mà xét theo UNCLOS thì phần lớn Biển Ðông và tài nguyên trên đó sẽ thuộc về Việt Nam) là chuyện không phải không thực hiện được.

Nhưng, với Nghị Viện Mỹ, vấn đề bán hay không bán, bán như thế nào cho Việt Nam những thứ “đồ chơi” này lại phụ thuộc vào tình hình nhân quyền, tự do và tiến bộ của nó. Chính vì vậy mà việc này khó diễn ra trọn vẹn, trừ khi có sự thay đổi theo yêu cầu của Mỹ.

Chính cái thế “kẹt bi” này khiến cho nhà nước CSVN luôn tỏ ra do dự, thua thế và hèn kém, nhún nhường trước sự xâm lấn trắng trợn của Trung Quốc. Kể từ vụ giết tróc của quân đội Trung Quốc trên bãi đá Gạc Ma năm 1988, cho đến vụ cắt cáp tàu Bình Minh, tàu Viking 2, bắt bớ ngư dân Việt…

Tuy đã mất rất nhiều nhưng chính quyền Việt Nam cũng chỉ nói và nói, không có hành động nào vượt qua sự khiếp nhược.

Gần đây, sau chuyến thăm Việt Nam của ngoại trưởng Mỹ, Tướng Nguyễn Chí Vịnh sang “công tác” tại Mỹ, đương nhiên, dù không nói ra, nhưng chuyến đi này chắc chắn sẽ có đề cập đến vấn đề gỡ bỏ cấm vận mua bán vũ khí cho Việt Nam, và vấn đề nhân quyền cho Việt Nam cũng sẽ được phía Mỹ đề cập.

Tiến bộ hay diệt vong?

Giả sử, nhà nước CSVN quyết định chọn Mỹ làm đối tác trong vấn đề Biển Ðông thì chuyện gì xảy ra?

Ðó là nới rộng nhân quyền, manh nha một thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng trong tương lai không xa. Vũ khí hạng nặng sẽ được phía Mỹ cung cấp, tương quan khí tài trên Biển Ðông giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ cân bằng hơn. Cơ hội ngồi vào bàn đàm phán với Trung Quốc sẽ cao hơn và vấn đề bị ép chế trong đàm phán sẽ giảm bớt.

Biển Ðông sẽ ổn định hơn và, chắc chắn, dù gì thì Mỹ cũng muốn hợp tác với một Việt Nam dân chủ, tiến bộ hơn so với Việt Nam hiện tại.

Trường hợp ngược lại, nếu nhà nước CSVN muốn đảm bảo chiếc ghế độc tài của mình được lâu bền, bắt buộc phải “đi đêm” với anh cả Trung Quốc, phải ngấm ngầm mặc cả, chịu thiệt về vấn đề Biển Ðông, thì quyền lợi dân tộc bị bỏ qua, quyền lợi đảng phái được đặt lên hàng đầu.

Trong trường hợp này, Việt Nam mất dần các đảo trên Biển Ðông là chuyện khả thể.

Và, chuyện ngồi vào bàn đàm phán giữa nhà nước CS Việt Nam với nhà nước Cộng sản Trung Quốc là một trò diễn kịch, mua bán có kịch bản, chẳng có ý nghĩa gì ngoài sự cam chịu thất bại.

Bị thiệt thòi nhiều nhất trong vấn đề này là toàn dân tộc Việt Nam, và trực tiếp thiệt thòi chính là ngư dân. Họ sẽ không được đánh bắt xa bờ, sẽ bị bắt bớ, ép chế, sự nghiệp họ suy sụp, phá sản.

Trong trạng huống này, chiến tranh có thể xảy ra mạnh hơn, không phải chiến tranh trên biển mà sẽ là chiến tranh trên đất liền. Ðó là logic của máu xâm lăng, bành trướng Trung Quốc.

Suy cho cùng, chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc khó có thể xảy ra mà cũng rất dễ xảy ra. Vấn đề này hoàn toàn tùy thuộc vào sự lựa chọn, hợp tác của nhà nước CSVN.

Nếu nhà nước CSVN chấp nhận tinh giảm, mở rộng quyền lực, cộng hưởng với thế giới tiến bộ, nâng cao dân trí, dân sinh và nhân quyền, hợp tác với Mỹ và những nước Tư Bản để kiến tạo cho mình một tương quan sức mạnh khí tài đủ để Trung Quốc phải suy nghĩ lại mà ngồi vào bàn đàm phán, thì lúc này, quyền lợi dân tộc đã được họ đặt lên trên hết.

Chiến tranh Biển Ðông giữa Việt Nam và các nước liên quan sẽ khó xảy ra.

Nếu như họ vẫn khư khư ôm thứ quyền lợi nhỏ mọn của phe nhóm, đảng phái, thì chuyện bán đứng quốc gia, dân tộc cũng chẳng cứu được cái ghế quyền lực và thể chế chính trị vốn đã lạc hậu của họ.

Và chuyện chiến tranh là chuyện thấy được trước mắt, lúc này, không phải chiến tranh Biển Ðông mà là chiến tranh Trung Quốc bành trướng lãnh thổ Việt Nam, nguy cơ diệt vong của dân tộc là có thể.

Có một điều tế nhị, suốt hơn 70 năm tồn tại trên miền Bắc và hơn 35 năm tồn tại trên miền Nam, sự xói mòn về đạo đức, sự ruỗng mục về quản lý dẫn đến quốc nạn tham nhũng, uy tín hao mòn của đảng Cộng Sản.

Nếu bây giờ, không có động thái đi đến đa nguyên, đa đảng, giả sử có chiến tranh xảy ra, sẽ không có mấy người bỏ máu xương ra để chống thù, vì họ thất vọng, họ không đủ dại dột để hy sinh xương máu rồi cuối cùng, đảng lại đớp miếng mồi ngon, ngồi mát ăn bát vàng. Nhân dân không được gì cả.

Ngược lại, trong thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, mọi quyền lợi được giám sát và chia chác có khoa học, cả dân tộc được hưởng lợi, thì cả dân tộc cũng sẽ đứng lên chống ngoại xâm. Ðó là một hiển nhiên!

Hoàng Hạc

Advertisements