Trung Quốc với tham vọng bá chiếm tài nguyên biển

Posted on July 22, 2012

0



Để duy trì vị thế chính trị đang lên trên trường quốc tế, Bắc Kinh phải đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế như trong thời gian vừa qua. Điều này đòi hỏi một lượng tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, Trung Quốc phải vươn ra biển. Dưới đây là bài viết của nhà nghiên cứu Kailash K. Prasad, thuộc Nhóm chính sách Dehli (Dehli Policy Group) đăng trên The National Interest số ra ngày 6/7 vừa qua.

Đảng cộng sản Trung Quốc (CCP) đã giành được uy tín lớn từ việc đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách vượt bậc. Sự phát triển nhanh chóng này dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, những người đánh giá cao thành tựu của CCP cũng không thể không tính đến sự đảm bảo một dây chuyền cung cấp năng lượng để duy trì vị thế chính trị hiện đang lên cao nhất như hiện nay. Và điều này dẫn đến việc Bắc Kinh đã yêu cầu lượng dầu mỏ, kim loại và khoáng sản nhiều hơn số lượng mà họ hiện sở hữu, khiến quốc gia này phải ôm tham vọng vươn ra biển xa.

Vì Trung Quốc xây dựng tổ hợp kinh tế có lợi ích chiến lược tại châu Phi và Trung Đông do vậy vấn đề tự do của ngành hàng hải thông qua Ấn Độ Dương và nhiều nơi tại Thái Bình Dương sẽ là mối quan tâm lớn nhất của Bắc Kinh. Không có gì là ngạc nhiên khi nước này lo lắng về việc chia sẻ trách nhiệm an ninh hàng hải gần biên giới với họ.

Khi xem xét đến sức mạnh tương đối của đội tuần tra biển, chủ yếu là sự tham gia của Nhật và Mỹ, Trung Quốc lo ngại rằng trong thời điểm khủng hoảng việc tiếp cận đường vận tải biển quan trọng sẽ bị ngăn chặn. Hoặc tồi tệ hơn Bắc Kinh có thể buộc phải thỏa hiệp về mặt chủ quyền đối với những khu vực mở rộng mà lịch sử cho rằng đã có từ trước nhưng chưa  được luật pháp quốc tế cho phép.

Trước đây, Trung Quốc đã nỗ lực hết sức để thực hiện tham vọng có thể thống trị vùng biển. Xét tương quan lực lượng hiện có trên vùng biển trên ta thấy. Tổng trọng lượng của hạm đội tàu lớn nhất thế giới gồm 21 chiếc là 6,75 triệu tấn. Trừ trọng tải đội tàu của Mỹ thì đội tàu còn lại của thế giới chiếm 46% và rơi vào khoảng 3,63 triệu tấn. Nếu tính về trọng lượng cũng như số lượng, thì số tàu Mỹ hiện có cũng không hẳn đã vượt trội. Trên thực tế, sau 3 thập kỷ hiện đại hóa ngành hàng hải một số tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo và có khả năng tấn công bằng vũ khí hạt nhân của Trung Quốc còn lạc hậu hơn so với của các tàu khác trên thế giới. Họ mới đang học cách sử dụng tên lửa đạn đạo chống tàu ngầm (ASBM). Chỉ có hệ thống ASBM mới mang lại cho Trung quốc khả năng cạnh tranh.

Báo cáo của Bộ quốc phong Mỹ cho biết phạm vi hoạt động của tên lửa này có thể bay xa 1.000 dặm (1 dặm bằng 1,6 km). Ngay cả khi máy bay chiến đấu trang bị cho hải quân thế hệ mới không thể quay trở lại tàu sâu bay nếu chúng được phóng xa hơn so với mục tiêu ban đầu là 600 dặm thì vẫn có thể ngăn chặn sự tiếp cận của đối phương từ bờ biển phía Tây Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong tương lai gần, tham vọng vươn ra biển xanh dường như không thể đạt được. Một tàu sân bay vừa được nâng cấp từ thời kỳ Liên xô cũ, vài tên lửa đạn đạo chống tàu ngầm và một vài tàu ngầm hạt nhân sẽ không cho phép Lực lượng hải quân quân đội giải phóng nhân dân (PLAN) tiến hành diễn tập ngoài khơi bờ biển nước này, thậm chí ngay khi thủy thủ Trung Quốc có thể điều khiển được con tàu mới của họ.

Phần lớn hoạt động của PLAN là ngăn chặn sớm nên tác động chủ yếu của nó là mang lại lợi ích cho đất liền. Hạm đội tàu lớn nhất là Song, Ming và Romeo đều là tàu ngầm hoạt động bằng động cơ điện điêden, bến tầu tiếp đất và vũ khí tầm ngắn khác cũng như vũ khí được trang bị trên bờ sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn của các quốc gia lân cận đặc biệt là vũ khí tương thích hơn với Trung Quốc và Mỹ.

Trung Quốc cũng rất mong muốn các quốc gia láng giềng chung đường biển đi theo chiến lược hiện đại hóa hải quân. Sự ủng hộ như vậy là rất cần thiết sau khi có sự tổn thất rõ ràng ở Burma- vốn là  hành lang năng lượng thay thế của Trung Quốc và điều này làm cho một số người ở bắc kinh suy nghĩ một cách thận trọng về việc thiết lập mối quan hệ tinh tế, và “xa xỉ” để đảm bảo cho nguồn tài nguyên của mình.

Nếu Trung Quốc có thiên hướng về việc tiếp tục chạy đua vũ trang theo kiểu sự kiện đã nhận thấy trên đảo Scarborough phần nhiều sẽ khó có thể thúc đẩy được tham vọng về mặt hải quân của mình. Lực lượng ở xa hơn như Ấn Độ và Ôxtrâylia phải đối mặt với lực lượng PLAN được trang bị nhiều hơn. Lời hùng biện từ Trung Quốc sẽ cung cấp một ít sự bảo đảm.  Nhật Bản và Hàn Quốc cũng nhận ra rằng tốt hơn là họ nên cân bằng sự đối trọng với năng lực đang phát triển của Trung Quốc về hải quân thay cho việc các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh sẽ không hành động theo sự bất mãn của họ trên thực tế. Ôxtrâylia cũng bắt đầu giai đoạn hiện đại hóa tàu ngầm với trị giá lên đến 40 tỷ USD. Ấn Độ gần đây cũng đã nhận đợt giao hàng 1 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân mang tên Akula của Nga và hiện cũng đang xây dựng tàu ngầm bằng năng lượng hạt nhân của chính nó và tàu sân bay khác. Nhật Bản đang khuếch trương  hạm đội tàu ngầm lần đầu tiên trong 36 năm qua. Hàn Quốc cũng đang hiện đại hóa lực lượng hải quân và lục quân của họ.

Cái giá của việc tính toán sai lầm là rất cao và nó cũng rất khó để nhận ra môi trường như vậy sẽ không có lợi cho Trung Quốc. Về mặt hình thức, lực lượng hải quân mạnh sẽ cho phép Bắc Kinh giảm gánh nặng trong việc chạy đua. Tuy nhiên, nếu việc hiện đại hóa hải quân của Trung Quốc buộc các nước trong khu vực cũng phải hiện đại hóa và nếu một số nước làng giềng mạnh hơn trong khu vực có khả năng sánh kịp Trung Quốc thì rất khó để nhận thấy lợi thế của PLAN trong việc đạt được mục tiêu dài hạn và sự thống trị ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương khó có thể đạt được. Bất kể sự thua kém nào của Trung Quốc sẽ khiến Bắc Kinh dễ tổn thương và bị cô lập hơn với một sân sau đầy sự nghi ngờ và cạnh tranh.

Hằng Linh

Ruột đau chín khúc

Những nghịch lý của tham vọng bành trướng

Đang chuyển mình từ một cường quốc đại lục thành cường quốc hải dương, Trung Quốc gặp rất nhiều mâu thuẫn.

Ngay từ năm 1947, Trung Hoa Quốc dân đảng đã vẽ bản đồ 11 khúc để đòi chủ quyền của Trung Hoa Dân Quốc trên các quần đảo ngoài khơi biển Hoa Nam (biển Nam Hải, hay Nam Trung Quốc hải hay South China Sea, tức là Đông hải của Việt Nam). Khi ấy, các nước Đông Nam Á còn dồn trọng tâm vào việc tranh đấu cho độc lập nên không có phản ứng. Tầm nhìn quá ngắn!

Các nước cũng chẳng có phản ứng khi Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc ra đời từ năm 1949, thay Quốc dân đảng làm chủ Hoa lục và vẽ thành bản đồ chín khúc để đòi chủ quyền của mình và chính thức công bố từ năm 1953. Khi ấy, các nước Đông Nam Á cũng chẳng có phản ứng, nhiều nước còn nương tựa vào đảng Cộng sản Trung Hoa để giành độc lập! Tầm nhìn tai hại…

Ngày nay, toàn khu vực Đông Nam Á bị kẹt trong vụ tranh chấp về chủ quyền do Trung Quốc gây ra. Nhưng kẹt nhất không phải là các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai Á (Malaysia) hay Brunei – hoặc Đài Loan ở phía Bắc.

Kẹt nhất chính là Trung Quốc. Vì sao lại có nghịch lý đó?

***

Xưa nay, Trung Quốc là đại cường lục địa, với mối quan tâm về an ninh tập trung vào đất liền và những đe dọa ở bên trong. Qua ngần ấy cuộc xung đột trong lịch sử với Việt Nam, hay Chiêm Thành, Triều Tiên và Nhật Bản của các triều Tống, Nguyên Mông, Đại Minh hay Mãn Thanh, thật ra Trung Quốc đều bị đánh bại trong các trận thủy chiến.

Mâu thuẫn đầu tiên của cường quốc này là có bờ biển rất dài, trải dọc từ Hoàng Hải bên bản đảo Triều Tiên xuống tới Vịnh Bắc Việt, mà lại không kiểm soát được vùng biển cận duyên và thường chỉ giữ thế phòng thủ. Nguyên nhân chính là mối nguy cho Trung Quốc không đến từ biển Đông những ngả giao lưu cần thiết cho kinh tế đều nằm trong đất liền. Thứ nữa, tình trạng phân hóa và cát cứ khiến lãnh đạo xứ này phải ưu tiên thống nhất được nội tình trên một lãnh thổ bát ngát.

Sau các trường hợp bị khuất phục vì thủy chiến với Nga, Nhật hay các cường quốc Âu Châu vào đời Thanh, lãnh đạo Trung Quốc vẫn phải ưu tiên củng cố hệ thống cai trị ở bên trong.

Ngày nay, Trung Quốc đang ra khỏi mâu thuẫn truyền thống đó và muốn kiểm soát được vùng biển cận duyên nhờ sức mạnh hải quân thì lại gặp nhiều mâu thuẫn khác.

***

Sau khi cải cách từ năm 1979, Đặng Tiểu Bình ưu tiên giải quyết các vấn nạn kinh tế và chính trị bên trong để ra khỏi khủng hoảng xây dựng lực lượng. Với bên ngoài, ông chủ trương “thao quang dưỡng hối” nhằm che giấu sức mạnh sau chiến lược hòa dịu với các nước Đông Nam Á: hãy tạm gác một bên những tranh chấp về chủ quyền để cùng hợp tác và khai thác tài nguyên chung ở ngoài khơi. Năm chục năm nữa nói chuyện cũng chưa muộn.

Nôm na thì “cái gì của ta là của ta – cái gì của người thì đôi ta cùng khai thác”.

Trong chiến lược âm nhu đó, lãnh đạo Bắc Kinh khéo áp dụng thủ thuật “bẻ đũa từng chiếc”: đàm phán song phương với từng nước để tránh phản ứng tập thể, một chiến tuyến chung của các nước Đông Nam Á. Tính toán ở đây là 50 năm sau thì Trung Quốc đã có thực lực khác nên khỏi cần đàm phán hay thương thuyết gì cả.

Quả nhiên là trong hai chục năm liền, dù có tranh chấp hay xung đột nhỏ ở ngoài khơi, kể cả với Việt Nam vào năm 1988, chiến lược hòa dịu hình thức vẫn được áp dụng. Nhưng ngày nay đề nghị “hãy cùng phát triển khu vực có tranh chấp” không đem lại kết quả dự tính. Sau khi tham gia trò chơi đó trong các năm 2004-2005, Phi Luật Tân rồi Việt Nam cũng đành duỗi ra.

Lý do là một mâu thuẫn bất ngờ khác.

Hải quân Trung Quốc lớn mạnh cùng nhu cầu kiểm soát các dòng hải lưu để bảo vệ luồng vận chuyển hàng hóa cho một nền kinh tế đã mở ra ngoài và lệ thuộc vào thị trường quốc tế khiến các nước đều e ngại. Quy tắc ứng xử ngoài biển Đông ký kết với Hiệp hội ASEAN 10 quốc gia Đông Nam Á vào năm 2002 vẫn không trấn an được.

Đã thế, khi Hoa Kỳ vướng bận vào cuộc chiến chống khủng bố từ 2001, lãnh đạo quân sự Trung Quốc còn nhìn ra cơ hội bành trướng và dẫn tới phản ứng ngược: các quốc gia Đông Nam Á đều kêu gọi Hoa Kỳ trở lại giữ thế đối trọng với đà bành trướng của Trung Quốc. Mà không chỉ các nước Đông Nam Á đang có tranh chấp về chủ quyền trên vùng biển chín khúc của Trung Quốc.

Cái lưỡi bò chín khúc của Trung Quốc khiến cho chín quốc gia cùng nhìn thấy một mối nguy. Đó là Nhật Bản, Nam Hàn, Úc, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Việt Nam, Mã Lai Á, Brunei và cả Đài Loan. Ngần ấy quốc gia đều trông đợi vào phản ứng của Hoa Kỳ, nay đã xác định vai trò cường quốc Á Châu và nhấn mạnh đến nhu cầu bảo vệ quyền tự do lưu thông ngoài biển.

***

Chúng ta đi tới các bài toán hiện tại của Bắc Kinh, trong giai đoạn mà tiến thoái gì cũng bất tiện.

Từ chiến lược không can dự vào nội tình xứ khác, lãnh đạo Bắc Kinh đang ráo riết mua chuộc, uy hiếp hay lũng đoạn từng nước. Nghĩa là chứng tỏ bản chất đế quốc của một nước vẫn đề cao tinh thần “quật khởi hòa bình” để ra khỏi tình trạng lạc hậu.

Lập luận truyền thống của mấy chục năm qua, rằng Trung Quốc là một nước kém phát triển, nạn nhân của liệt cường và nay đang cố gắng công nghiệp hoá trong tinh thần hiếu hòa, lập luận đó đã hết công hiệu. Và trên các diễn đàn quốc tế lẫn trong dư luận các nước kém phát triển Á, Phi hay Trung Nam Mỹ, Trung Quốc có bộ mặt thực dân đế quốc. Đấy là một bài toán về lý luận với hậu quả phản tuyên truyền. Đó là bài toán thứ nhất.

Chuyện thứ hai, chiến lược đối thoại song phương để bẻ đũa từng chiếc cũng thất bại và khi Bắc Kinh chuyển qua giải pháp đối thoại quốc tế thì gặp kết quả trái ngược.

Người ta cứ nói đến phản ứng của Cam Bốt trong hội nghị tuần trước của khối ASEAN khi tránh nêu vấn đề tranh chấp ngoài Đông hải và coi đó là một thắng lợi của Bắc Kinh – chiếc đũa Cam Bốt đã gẫy.

Thật ra, nhận thức của các nước về lập trường ngoại giao của Bắc Kinh đã xoay chuyển. Thế giới thấy Trung Quốc dùng thủ thuật song phương để lũng đoạn từng nước, đến khi bước vào giải pháp đối thoại đa phương trên các diễn đàn quốc tế, cường quốc này có chủ đích phá hoại. Càng dùng quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc để bênh vực Iran hay Syria, hoặc có lập trường ngoại giao nhằm bao che cho Bắc Hàn, Sudan hay Venezuela, Bắc Kinh càng cho thấy Trung Quốc không là một cường quốc hữu trách và biết điều. Đấy là bài toán thứ hai.

Sau hai chục năm chỉ nhìn thấy quyền lợi của mình trong mối quan hệ với các nước và bị bất ngờ khi các chế độ thân hữu bỗng dưng sụp đổ, Bắc Kinh đang muốn xoay qua một đường lối chủ động và tích cực hơn.

Lãnh đạo Bắc Kinh đã bị bất ngờ tại Sudan, khi thân chủ bị xé làm hai, với sự xuất hiện của Cộng hoà Nam Sudan trên một vùng đất nhiều tài nguyên và được Tây phương bảo vệ. Bắc Kinh cũng bị bất ngờ khi chế độ độc tài Muamar Ghaddafi bị sụp đổ tại Libya. Những trường hợp trở tay không kịp như vậy xảy ra nhiều hơn là chúng ta nghĩ. Ngày nay, Bắc Kinh đang muốn chuyển qua chiến lược khác, là chủ động xử lý các hồ sơ liên quan đến quyền lợi của mình thay vì mơ hồ đề ra những nguyên tắc chung chung.

Kết quả là không chỉ nói về “cửu đoạn tuyến” ngoài Đông Hải, Bắc Kinh chủ động trưng bày sức mạnh. Cùng với việc nâng cấp hành chính cho Tam Sa, Trung Quốc đưa tàu ngư chính và hải đội của mình vào vùng tranh chấp với Phi Luật Tân và Việt Nam, xẵng giọng với Nhật Bản vì hồ sơ Điếu Ngư Đài (Senkaku của Nhật). Hậu quả của sự chuyển hướng chủ động ấy là gây hấn với mọi quốc gia và càng khiến Hoa Kỳ có lý do chính đáng để xác định vị trí và sức mạnh trên vùng biển Thái Bình Dương, từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á. Đấy là bài toán thứ ba.

Trên toàn cảnh, lãnh đạo Bắc Kinh còn thấy mình thất thế do chiến lược “vô tư trung lập”.

Đặng Tiểu Bình từ bỏ chủ trương cách mạng toàn cầu và thường trực của Mao Trạch Đông và chấm dứt yểm trợ các phong trào cộng sản trên thế giới, nhất là tại Á Châu. Ông còn tích cực hơn vậy khi đưa ra lập trường trung lập: Trung Quốc không can dự vào tranh chấp của các nước, không liên minh với một phe để tấn công một phe thứ ba, và giữ thái độ vô tư với mọi phe.

Trong khi ấy, Hoa Kỳ tích cực phát triển quan hệ với một chuỗi quốc gia bán đảo, hải đảo hay quần đảo chung quanh lãnh thổ Trung Quốc, từ Nam Hàn, Nhật Bản đến nhiều nước Đông Nam Á qua tới Ấn Độ dương và Úc Đại Lợi. Kết cuộc thì Bắc Kinh thiếu bạn mà Mỹ lại có nhiều đồng minh! Lãnh đạo Bắc Kinh phải tính lại.

Trung Quốc bắt đầu xuất hiện như một đối tác đáng tin của quốc tế khi cần ngăn ngừa hải tặc hay khủng bố và tìm cách hợp tác với các nước, từ nhóm ASEAN+3 (với Nam Hàn và Nhật Bản), đến Pakistan và cả Ấn Độ. Nhưng làm sao xây dựng được sự khả tín với các nước khi Bắc Kinh cũng chủ động can thiệp và xác định sức mạnh của mình trong khu vực có tranh chấp? Đấy là bài toán thứ tư.

Chúng ta không đánh giá thấp trình độ tư duy và khả năng biến báo của lãnh đạo Bắc Kinh, nhưng có thể tự hỏi vì sao họ rơi vào những mâu thuẫn khó gỡ và nay đang gặp bốn bài toán kể trên? Một giải đáp cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan này có thể tìm thấy ở bên trong nội tình Trung Quốc.

***

Lãnh đạo Bắc Kinh muốn áp dụng giải pháp ôn nhu để mời các nước – và doanh nghiệp quốc tế – cùng hợp tác và phát triển. Trong hợp tác, họ muốn các nước ít nhiều công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các vùng tranh chấp. Kết quả xảy ra trái ngược với dự tính: các quốc gia đều nghi ngờ và phản đối. Nhiều nước đối tác đã xoay ngược lập trường, như Phi Luật Tân dưới sự lãnh đạo của một Tổng thống khác, chứ không dễ mua dễ bảo như Gloria Macapagal-Arroyo.

Khi xẵng giọng và dùng sức mạnh quân sự bù đắp cho thế yếu về ngoại giao, nghĩa là tự lột trần bản chất bành trướng, Trung Quốc chỉ lung lạc nổi các nước nhỏ và yếu, ở ngoài vòng tranh chấp – như Lào hay Cam Bốt – nhưng gây phản ứng mạnh từ các nước khác.

Khi cần xoa dịu dư luận quốc tế và trở lại luận điệu ôn hoà thì lãnh đạo Bắc Kinh gặp phản ứng từ bên trong: ngư phủ Trung Quốc liều lĩnh lấy những rủi ro có thể dẫn tới xung đột và các tướng lãnh lại nhân cơ hội nhấn tới.

Trong khi chuẩn bị Đại hội 18 để đưa một thế hệ mới lên lãnh đạo Trung Quốc, đảng Cộng sản Trung Hoa cần xoa dịu sự bất mãn lan rộng của quần chúng bằng lý luận dân tộc cực đoan và bằng tư thế cường quốc trước diễn đàn quốc tế. Đồng thời, ngần ấy phe đang vận động ngầm ở bên trong để củng cố thế lực sau Đại hội 18 đều cần tới hậu thuẫn của quân đội. Và để các tướng lãnh lên giọng đề cao giải pháp bá quyền nước lớn!

Chính là những bất trắc nội bộ trong giai đoạn giao thời này, khi Bắc Kinh phải chuyển hướng đối ngoại, mới khiến Trung Quốc lâm thế kẹt. Bung ra thì bị thiên hạ tri hô và chặn cửa, thu vào thì gặp sự chống đối ở bên trong! Đi vào húng hắng, đi ra vội vàng…

Nguyễn Xuân Nghĩa

TQ dùng chiến lược ‘nghìn vết cắt’ ở Biển Đông

Bắc Kinh đang ngày càng lấn tới ở Biển Đông với lực lượng mới, chiến thuật mới, con đường mới. Cùng lúc, họ tăng cường hoạt động ở mọi mặt trận từ dân sự tới quân sự; từ trị sự hành chính tới ngoại giao để “bọc lót” cho những lý lẽ lịch sử mơ hồ mà họ luôn đem ra áp dụng cho các yêu sách chủ quyền ở Biển Đông.

Từ tàu cá 

Một ngày đầu tháng 4, tranh chấp Biển Đông bấy lâu âm ỉ bỗng bùng phát thành một vụ đụng độ kéo dài và bế tắc chưa từng có giữa Trung Quốc và Philippines tại bãi cạn Scarborough. Manila cáo buộc ngư dân Trung Quốc xâm nhập và đánh bắt trái phép ở vùng biển thuộc chủ quyền của Philippines được luật pháp quốc tế công nhận. Tàu hải quân Philippines muốn bắt giữ các ngư dân này nhưng Trung Quốc đã lập tức điều hai tàu hải giám ngăn chặn.

Trung Quốc ngay sau đó liên tiếp điều tàu ra bãi cạn để khẳng định sự hiện diện theo kiểu dàn hàng ngang, áp đảo bằng số đông. Philippines phát hiện gần 100 tàu Trung Quốc ở trong và xung quanh bãi cạn, bất chấp lệnh cấm đánh bắt trong khu vực mùa hè này.

Khi cả hai bên quyết định rút tàu khỏi bãi cạn (với lý do thời tiết xấu) thì Trung Quốc cũng chỉ thể hiện cái gọi là “lời nói không theo kịp hành động”. Trong khi Philippines rút hết tàu ở bãi cạn, thì gần đây nhất, vào chiều 19/7, một quan chức an ninh Manila cho biết, Trung Quốc tiếp tục củng cố sự hiện diện tại bãi cạn Scarborough khi có tới 30 tàu xuất hiện ở đây. Theo vị quan chức giấu tên, có những dấu hiệu chứng tỏ các tàu Trung Quốc đang đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines (EEZ).

Cả Trung Quốc và Philippines đều khẳng định chủ quyền với bãi cạn Scarborough. Trung Quốc đưa ra những viện dẫn lịch sử chứng tỏ quyền sở hữu bãi cạn giống như họ vẫn làm với các khu vực tranh chấp khác ở Biển Đông. Manila thì nói bãi cạn nằm trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của Philippines được luật pháp quốc tế (Công ước LHQ về Luật biển – UNCLOS) công nhận. Bãi cạn này nằm cách đảo chính Luzon của Philippines hơn 230 km và cách lãnh thổ Trung Quốc hơn 1.200 km.

Nếu dùng UNCLOS để giải quyết tranh chấp hai bên, thì Trung Quốc “đuối lý” hơn. Vì thế, dù đã ký kết công ước này, Bắc Kinh không ngại ngần phủ nhận giá trị giải quyết tranh chấp của nó. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói đây không phải là “một hiệp ước quốc tế để giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia, cũng không thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho việc giải quyết các tranh chấp”.

Đến tàu chiến

Vụ việc tại Scarborough chưa qua, thì một sự kiện khác lại tới ở một khu vực thậm chí còn gần Philiippines hơn là bãi cạn Scarborough. Một tàu khu trục Trung Quốc mà báo chí nước này đưa tin là đang trên đường tuần tra đã mắc cạn ở bãi cạn chỉ cách tỉnh Palawan của Philippines khoảng 110km. Dĩ nhiên Trung Quốc đã tổ chức một chiến dịch cứu hộ rầm rộ, con tàu hộ vệ tên lửa sớm được giải thoát và lên đường trở về cảng nhưng còn để lại sau nó nhiều nghi vấn.

Con tàu này có tên Đông Quan, là một trong số 20 tàu tàu hộ vệ tên lửa thuộc Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc. Nó được trang bị các loại tên lửa mới có tầm bắn 225km (nghĩa là đặt hầu hết các thành phố lớn của Philippines vào tầm ngắm).

Quan chức hải quân Philippines nhận diện nó chính là con tàu đã từng quấy nhiễu, doạ nạt một số tàu cá Philippines năm ngoái.

Rory Medcalf, giám đốc chương trình an ninh quốc tế tại Viện Lowy cho hay, việc Trung Quốc sử dụng tàu hải quân điều tra khu vực tranh chấp là động thái bất ngờ. “Nó đặt ra nhiều câu hỏi. Cơ bản trước đây họ trông chờ vào lực lượng dân sự, bán quân sự”, ông nói. “Điều đó có nghĩa là không sớm thì muộn chúng ta sẽ chứng kiến các vụ đụng độ liên quan tới tàu hải quân thay vì tàu của các cơ quan dân sự”.

Điều động một tàu chiến trọng tải hàng nghìn tấn tới hoạt động những vùng nước nông và nguy hiểm vào ban đêm là một vấn đề. Các vùng nước ở tây Philippines thường nông và rất nhiều chướng ngại vật phía dưới. Thậm chí các tàu cá cũng đi lại rất thận trọng và thường hoạt động vào ban ngày.

Người ta hiểu, giờ đây Trung Quốc đang cố gắng đe doạ tất cả mọi người tránh xa một khu vực mà Trung Quốc không có tuyên bố chủ quyền hợp pháp nhưng quả quyết muốn nắm giữ nó.

Đây là một chiến lược kinh điển của Trung Quốc gọi là “chảy máu tới chết – hay chiến lược chết vì một nghìn vết cắt”. Trung Quốc tránh tuyên chiến nhưng lại gây hấn với đối phương bằng hàng nghìn vụ vi phạm nhỏ kiểu như điều một tàu khu trục (dù già, dù cũ, dù nhỏ) tới tuần tra vùng nước chỉ cách bờ biển của một nước cạnh tranh tuyên bố chủ quyền có vẻn vẹn 111km.

Và lập thành phố toan quản lý cả Biển Đông

Có vẻ như cách thức thỉnh thoảng tạo sự cố, đưa tàu thuyền tiếp cận một đảo đá hay bãi cạn tranh chấp với nước khác ở Biển Đông, chớp nhoáng dựng cột trụ, thả phao neo đậu của Trung Quốc vài năm trước đã thành xưa cũ. Ngang nhiên và thách thức hơn, vào cuối tháng 6, Trung Quốc đã phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa để quản lý ba nhóm đảo chính ở Biển Đông và vùng nước lân cận.

Từ “dò đá qua sông”, từng bước tiến hành các hoạt động nhỏ lẻ để “thử” sức chịu đựng, “đo” mức phản đối của các nước tuyên bố chủ quyền khác ở Biển Đông thì nay, Trung Quốc đã không ngần ngại lập một thành phố có bộ máy hành chính quản lý, và dĩ nhiên kéo theo đó là cả lực lượng quân sự với lý do bảo vệ chính quyền ở ngay giữa một vùng biển quốc tế.

Philippines phản đối. Việt Nam phản đối. Vậy nhưng, các hoạt động xây dựng cái gọi là “thành phố Tam Sa” vẫn tiếp tục diễn ra. Ngày 20/7, cơ quan quân sự trung ương Trung Quốc đã phê chuẩn việc thành lập và triển khai một đơn vị đồn trú ở Tam Sa. Việc quản lý hàng hải gồm các hoạt động như xây dựng cơ sở hạ tầng, hậu cần, trạm đèn, trạm phát thanh… cũng đã bắt đầu.

Thậm chí, cơ quan quản lý Trung Quốc còn đang nghiên cứu các tuyến du lịch biển ra Tam Sa. Hôm 17/7, tại phiên họp lần thứ 32, Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân (ĐHĐBND) tỉnh Hải Nam, Trung Quốc đã thông qua quyết định thành lập ủy ban tổ chức hội đồng nhân dân của Tam Sa, nghĩa là chính thức bắt đầu việc thành lập chính quyền tại đây.

Chưa hết, ngay sau khi tuyên bố lập Tam Sa và ngay sau khi kết thúc một hội nghị ngoại trưởng khu vực mà tâm điểm nghị sự là tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc đã điều động một đội tàu cá hùng hậu quy mô chưa từng có (30 tàu) ra quần đảo Trường Sa đánh bắt cá. Tàu ngư chính lớn nhất số hiệu 310 được huy động để bảo vệ đội tàu.

Để hỗ trợ thêm cho các hoạt động của chính quyền, Trung Quốc còn thúc đẩy mạnh mẽ chiến dịch tuyên truyền trong dân chúng về thứ mà họ nói là chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông. Một quan chức ngư nghiệp Trung Quốc gần đây lên tiếng thúc giục chính phủ cung cấp vũ khí và huấn luyện quân sự cho 100.000 ngư dân, để “Trung Quốc sẽ có một lực lượng quân sự mạnh hơn lực lượng của tất cả các nước khác gộp lại ở Biển Đông và sử dụng lực lượng ấy để giải quyết các vấn đề trong vùng biển”.

Và, sau khi thông tin về chuyện lập thành phố Tam Sa, tờ Thời báo Hoàn cầu Trung Quốc đã mở một diễn đàn với chủ đề “Nếu là thị trưởng Tam Sa, bạn sẽ làm gì?”. Tờ này nhấn mạnh: “Là một thành phố cấp địa khu lớn nhất ở Trung Quốc, Tam Sa có vị trí địa lý và chiến lược đặc biệt. Do đó, cần các phương pháp quản lý hoàn toàn khác biệt so với các thành phố khác”. Diễn đàn ngay lập tức thu hút được rất nhiều người tham dự.

Năm 2002, Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký kết Tuyên bố chung về ứng xử của các bên ở Biển Đông, nhằm giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình, không đe dọa hay sử dụng vũ lực. 10 năm sau khi thoả thuận ấy ra đời, Trung Quốc đang muốn thay đổi nó và giờ đây thực hiện mọi nỗ lực có thể để độc chiếm toàn bộ Biển Đông.

Thái An

Posted in: Chính Trị