Có nên giữ ‘16 chữ vàng’ và ‘4 tốt’?

Posted on July 24, 2012

0



Một số Bloggers cho rằng, đã tới lúc Đảng và Nhà Nước Việt Nam phải làm lễ chính thức từ bỏ cái gọi là “Phương Châm 16 Chữ Vàng” và cái gọi là “Tinh Thần 4 Tốt.

Người dân Hà Nội tiếp tục xuống đường biểu tình chống Trung Quốc gây hấn trên biển Đông hôm 22-07-2012.

Không thể cấm yêu nước

Thưa quý vị, giữa lúc quê hương VN bị phương Bắc ngày càng gây hấn, xâm lấn lãnh thổ rồi lãnh hải một cách đáng ngại như đang diễn ra ở Biển Đông, trong khi ngư dân Việt không ai bảo vệ, người biểu tình yêu nước bị ngăn chận, hành hung thậm chí đẫm máu, bị nhốt vào trại phục hồi nhân phẩm, dân oan tiếp tục bị oan khiên, thì blogger Hoa Mặt Trời không biết có phải vì “xúc cảnh sinh tình” hay không mà lại liên tưởng đến nạn “Sai nha côn đồ” ở tận bên Tàu thuở xa xưa.

Đã tới lúc Đảng và Nhà NướcViệt Nam phải làm lễ chính thức từ bỏ cái gọi là “Phương Châm 16 Chữ Vàng” và cái gọi là “Tinh Thần 4 Tốt. Nhà văn Trần Khải

Qua bài “Nước Vệ, triều (nhà) Sản”, tác giả mở đầu đề cập tới xã hội nước Vệ lúc đó “đời sống dân tình lao đao vì vật giá phi mã, nạn cướp giật nổi lên khắp nơi” trong khi ngoài khơi của xứ Vệ thì “nước Tề cho tàu thuyền ngênh ngang đi lại, xua từng đoàn thuyền vào lãnh hải của nước Vệ để đánh bắt cá”, thậm chí “còn vào thẳng trong vùng bể của Vệ thả bè nuôi cá”. Chưa hết, người Tề còn thu mua đất lập trang nương chẳng khác nào trang nương của Tề nhưng ngay tại nước Vệ.

Trước cảnh nhiễu nhương đó, những người có tâm huyết với đất nước đã kéo nhau đến quán dịch của Tề ở kinh thành Vệ để phản đối khiến quần thần tận bên Tề nỗi nóng dâng sớ lên Tề Vương đòi dạy cho xứ Vệ một bài học. Hậu quả là lãnh đạo xứ Vệ, tức Vệ Vương, thất kinh và lúng túng, vì, nếu cấm dân phản đối thì đi ngược lại lòng dân, nếu để dân biểu tình thì làm phật lòng Thiên Triều khiến ngai vàng Vệ Vương có thể nguy khốn. Vệ Vương bèn triệu tập đại thần, trong đó có quan Thượng Thư chuyên bòn rút ngân khố, của cải người dân, có Tể Tướng Bạo từng đưa con cháu lên làm quan. Vua hối thúc mãi, Tể Tướng Bạo hiến kế:

“Triều đình không thể ban chiếu mà cấm dân phản đối Tề gây hấn, như thế các nước lân bang sẽ dị nghị bảo ta nô lệ cho Tề, còn để cho bọn thảo dân tụ tập phản đối, thì làm mất lòng Tề, e rằng khó giữ được ngai vàng. Chi bằng cứ cho sai nha giả dạng làm côn đồ, đến đánh đập bọn thảo dân kia ắt chúng sẽ sợ hãi mà không dám phản đối. Kế này thiên triều vẫn dùng gọi là “ném đá giấu tay”. Vậy vừa dẹp được bọn thảo dân tụ tập phản đối thiên triều, vừa không phải sợ lân bang dị nghị.”

035_pau437919_02-250.jpg
Tàu hải giám số 310 của Trung Quốc tại biển Đông. AFP PHOTO.

Vua quan nhà Vệ nghe qua cho là thượng kế, bèn lệnh khẩn cho bọn sai nha cứ y kế mà ra tay, khiến dân lành bổng thấy đâu đâu cũng xuất hiện sai nha côn đồ đánh đập người biểu tình, cưỡng đoạt của cải đất đai, gieo kinh hoàn cùng nỗi oan khiên khắp xứ Vệ.Vẫn theo blogger Hoa Mặt Trời, thì lệnh khẩn đó khiến bọn thảo khấu “lấy làm mừng lắm”, cùng hành động, cướp bóc nhiều hơn, và chính vì thế, “ tiếng côn đồ dùng để chỉ bọn côn đồ lẫn sai nha của Triều (nhà) Sản”.

Cũng viết theo cảm hứng của Đại Vệ Chí Dị, blogger Người Buôn Gió, qua bài Đại Vệ Chí Dị: Vừa thó vừa vu oan”, đã bày tỏ bực tức của mình vì tác giả “…không thấy mình làm gì, chỉ đi bộ qua. Thế mà cũng xông vào tóm, lôi về trụ sở lập biên bản tự đọc, tự ký, tự xem với nhau bảo mình gây rối loạn trật tự công cộng”. Hành động như vậy khiến Người Buôn Gió “nghĩ mãi, đến lúc nhận ra là cái bọn nó đã phò Tàu rồi”. Rồi tác giả kể truyện:

Trên cả hai phương diện, hải đảo và hải phận, nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của âm mưu bành trướng từ phía Trung Quốc chính là Việt Nam. GS Nguyễn Hưng Quốc

“Ngày xửa ngày xưa biển nước Vệ có tên trên bản đồ nước Vệ. Đến năm nhà Sản thứ 67 quân Tề ngấp nghé ngoài lãnh hải. Nhà Sản mới họp bàn cách giữ nước Vệ. Những người đến họp được chọn lựa thế này. Nông dân đến bị người chặn cửa nói: Nông dân mất đất,động cơ không trong sáng, không cho vào.Thí thức đến bị chặn cửa: Trí thức bất mãn, bị các thế lực thù địch lợi dụng, không cho vào. Công nhân đến:Công nhân không được đòi tăng lương, giảm giờ làm. Động cơ cũng không rõ ràng không cho vào. Cán bộ lão thành đòi vào bị chặn: Cán bộ lão thành vì không tiếp nhận thông tin đầy đủ, hay phát biểu sai lệch, không cho vào. Tiểu thương, doanh nghiệp đòi vào bị chặn cửa nói: Tiểu thương, doanh nghiệp hay kêu ca về chính sách, thuế má. Không xứng để bàn việc giữ nước, không cho vào. Học sinh, sinh viên đến bị nói: Học sinh, sinh viên hay bị kích động, xúi giục không cho vào.”

Cuối cùng các Sản Viên – những người đang sinh hoạt trong triều nhà Sản, thường một lòng, một dạ chấp hành, nên được cho vào họp bàn quốc sự lâm nguy. Họ thấy hội trường treo 16 chữ vàng, 4 tốt, và hội nghị chưa bàn mà đã ra kết luận rằng “ thành công tốt đẹp, nhất trí cao”. Blogger Người Buôn Gió kể chuyện tiếp, rằng “hội nghị diên Sản năm đó ra cách giữ nước bằng mồm, nhưng uyển chuyển, lựa lúc, lựa người mà nói. Ví dụ tàu thuyền của Tề khi tấn công tàu Vệ thì gọi là tàu Lạ, tàu chiến của Tề tuần tiễu trên biển Vệ gọi là tàu khảo sát khí tượng… cái này theo chính thống gọi là đấu tranh bằng ngoại giao”. Đến khi biển nhà Vệ bị xoá trên bản đồ nước Vệ, cuộc đấu tranh ngoại giao thất bại, người đời sau tìm hậu duệ của quan ngoại giao để trách cứ, thì hậu duệ của quan quở lại:

“Sao các ngài không trông nghĩ, hồi đó nhà Sản bảo đấu tranh ngoại giao, thế nhưng ngoại giao đâu có quan nào nằm trong thập tứ đại thần nghị chính. Như thế là biết đấu tranh ngoại giao kết quả thế nào rồi, bây giờ còn hỏi, có phải không hiểu gì không? Bởi thế hồi đó mới cả dẹp dân biểu tình chống Tề bằng mọi thủ đoạn…”

Kẻ thù thật sự là ai?

000_Hkg7588604-200.jpg
Người dân tiếp tục xuống đường biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 22-07-2012. AFP PHOTO.

Qua bài “Kẻ thù của chế độ”, blogger Nguyễn Hưng Quốc cũng không quên đề cập tới việc “dân chúng xuống đường chống con đường lưỡi bò ngang ngược của TQ bị gán tội: Âm mưu chống phá cách mạng từ bên ngoài. Nông dân chống lại lệnh cưỡng chế đất đai… cũng bị gán tội bị phản động từ bên ngoài xúi giục. Tu sĩ, cư sĩ và tín đồ Phật giáo theo hệ phái Làng Mai dựng chùa để tu tập cũng bị lên án tham gia vào ‘diễn biến hòa bình’. Giáo dân Công giáo đòi đất vốn thuộc về Giáo Hội cũng bị chụp cái mũ phản động theo sự giật dây của nước ngoài”. Theo GS Nguyễn Hưng Quốc thì việc giới lãnh đạo VN “thường chỉ tay về hướng này hướng nọ và la toáng lên “kẻ thù!” khiến người ta tưởng VN đang bị “tứ bề thọ địch. Đâu đâu cũng có kẻ thù”, và “kẻ thù nào cũng cực kỳ xảo quyệt và hung ác”. GS Nguyễn Hưng Quốc cho rằng lối tuyên truyền của giới lãnh đạo VN như vậy là “sai rành rành” và “hại cũng nhiều”, mà “cái hại lớn nhất là nó che khuất những kẻ thù thật sự”. Kẻ thù thật sự đó là ai? Trung Quốc chăng? GS Nguyễn Hưng Quốc phân tích:“Từ mấy năm nay, trên khắp thế giới, ai cũng thấy rõ là Trung Quốc đang âm mưu lấn chiếm hải đảo của khá nhiều nước láng giềng: họ giành bãi đá ngầm Scarborough với Phillipines, quần đảo Senkaku với Nhật Bản; Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam. Ngoài hải đảo còn có lãnh hải: với con đường lưỡi bò, họ lấn gần hết vùng biển chung của các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia. Trên cả hai phương diện, hải đảo và hải phận, nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của âm mưu bành trướng từ phía Trung Quốc chính là Việt Nam. Có thể nói, đối với Việt Nam hiện nay, không có ngoại thù nào nguy hiểm cho bằng Trung Quốc.”

Nhưng GS Nguyễn Hưng Quốc lưu ý rằng “TQ có thể là kẻ thù của dân tộc VN nhưng lại không phải là kẻ thù của chế độc VN hiện nay”, mà “Kẻ thù của chế độ không ai khác hơn là chính họ”, khi “họ phản bội lại những lý tưởng mà họ theo đuổi từ trước: độc lập dân tộc và bình đẳng xã hội; khi họ tham nhũng mà hiện ở mức cao nhất trong lịch sử VN hiện đại và trở thành quốc nạn; khi, quan trọng nhất, họ quay lưng lại với nhân dân và dựa vào công an và côn đồ, thương binh côn đồ, để tồn tại. Vẫn theo GS Nguyễn Hưng Quốc:

“Nhưng chọn lựa xây dựng chế độ trên hai lực lượng như thế cũng có nghĩa là chọn con đường diệt vong. Trong năm 2011, đã có bao nhiêu chế độ có “chiến lược” tương tự đã bị sụp đổ. Họ bị sụp đổ không phải bởi một kẻ thù nào cả. Họ tự làm cho họ sụp đổ.”

000_Hkg7588600-250.jpg
Người dân tiếp tục xuống đường biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 22-07-2012. AFP PHOTO.

Trong khi blogger Bùi Tín báo động rằng “Giữa lúc kẻ xâm lược công khai thò lưỡi bò vào vùng biển đảo của ta, giữa lúc kẻ bành trướng lòng tham vô độ ngồi tính toán về trữ lượng dầu và hơi đốt dưới đáy biển ta như đã nằm chắc trong tay chúng, toàn dân ta hãy chung lòng từ bỏ ‘16 chữ vàng’. Lúc này mà không dứt khoát thì chờ đến bao giờ?”, thì nhà văn Trần Khải cũng có bài “Từ bỏ 16 chữ vàng”, qua đó báo động rằng “cả thế giới đang nhìn thấy đất nước VN chưa bao giờ ô nhục như thế này”. Nhà văn đề nghị:“Đã tới lúc Đảng và Nhà NướcViệt Nam phải làm lễ chính thức từ bỏ cái gọi là “Phương Châm 16 Chữ Vàng” và cái gọi là “Tinh Thần 4 Tốt.” Đã tới lúc nhà nước Việt Nam phải long trọng tuyên bố với toàn dân rằng “16 chữ vàng và 4 tốt” chỉ là đồ hàng mã, là đồ dỏm, là hàng lậu từ phương Bắc đưa xuống, và cần phải ngăn chặn ngay ở Ải Nam Quan — một địa danh lịch sử và truyền thống mà ông cha ta đã giữ gìn được và rồi bây giờ chỉ cho sự ô nhục khi Đảng…nhượng bộ để cầu hòa.”

Nhà văn Trần Khải nhắc lại 16 chữ vàng: Láng Giềng Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Định Lâu Dài, Hướng Tới Tương Lai, và 4 tốt: Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt, Đối tác tốt, vốn đã được “thánh hoá” qua bản tuyên bố chung giữa 2 đảng CSVN và TQ hồi tháng 2 năm 1999, thì bây giờ, đã mất ý nghĩa láng giềng, vì, theo tác giả, “ đàn anh đang lộ ra từng bước thâu tóm đàn em; cũng không còn hữu nghị, vì tàu TQ đụng chìm tàu cá VN; cũng không phải hợp tác toàn diện vì thực sự đang tới viễn ảnh “đô hộ toàn diện”; cũng không phải hướng tới tương lai, vì kế hoạch cho tương lai sẽ là Hán hóa toàn diện; và 4 tốt đều mang ý nghĩa nghịch lại”. Nhà văn Trần Khải khẳng định rằng: “Dân tộc VN không muốn bạo lực, nhưng không có nghĩa là chấp nhận lặng lẽ Hán hóa, liên tục nhượng đất và biển. Thái độ không công khai từ bỏ 16 chữ vàng quả nhiên là khó hiểu, là một bí ẩn của lịch sử, là sự u tối trí tuệ, và là một tội ác không thể dung thứ với đất nước VN”.

Thanh Quang cảm ơn quý vị vừa theo dõi tạp chí Điểm blog. Kính chào tạm biệt quý vị.

Theo dòng thời sự:

Nhớ ơn Trung Quốc như vầy đủ chưa?

(K/G: Ngài Nguyễn Thiện Nhân Phó Thủ Tướng CH/XHCN/VN)

Thưa ngài, được tin Ngài vừa chủ trì thành công tốt đẹp “Đại hội đại biểu toàn quốc – Nhớ ơn Trung Quốc”, đồng bào ta vô cùng hân hoan phấn khởi trong tinh thần “uống nước nhớ nguồn” cái nguồn bao la hàng chục ngàn km2 kéo dài dọc biên giới ra tới Hoàng Sa, Trường Sa và trùm luôn Biển Đông. Vì vậy đồng bào nhân dân mình cảm động quá xin phép vong linh “Bác” cho thay mặt để có nhã ý đề nghị cùng Ngài và “đảng, nhà nước ta” nên tổ chức hoạt động công tác đền ơn đáp nghĩa sao cho cụ thể long trọng để toàn dân ta ghi nhớ lâu dài trong trái tim mình công ơn “núi rừng đất đai biển đảo” ấy.

Căn cứ vào diễn văn của Ngài tuyên bố, công tác “tri ân” ấy nó kéo dài liên tục “sẽ tổ chức các hoạt động tri ân các cá nhân, tổ chức và địa phương Trung Quốc, xuyên suốt trong 5 năm, sau đại hội này…” (nhắc lại lời của Ngài sợ Ngài quên) – Để chương trình nó “đậm đặc” không bị loãng theo thời gian quá dài ấy xin đề nghị cụ thể với Ngài Phó Thủ tướng một đề xuất rất có ý nghĩa như sau:

Đồng bào chúng tôi có “nghiên kíu” kỹ rồi, vì công ơn ấy nó có nhiều giai đoạn nên mình linh động chia ra trong “5 năm” mỗi năm một chủ đề rãi đều kín kẻ cho nhân dân nhớ lâu hơn – phải không ạ! – Ngài lệnh cho Bộ văn hóa thông tin sưu tầm hình ảnh liên quan công ơn “trời biển” ấy theo mỗi chủ đề bố trí cho thật nhiều trong cung “Hữu Nghị” để nhân dân hai nước thưởng lãm mỗi chủ đề, khi khai mạc, nhất thiết phải có Ngài Đại Sứ “Thiên Triều Trung quốc” và cấp cao “đảng, nhà nước ta” cùng chia nhau cắt băng khánh thành cho nó trọng thể “xôm tụ”.

Chúng tôi cất công sưu tầm vài nhóm hình ảnh cho 5 chủ đề “nhớ ơn” chia đều ra 5 năm như thời gian qui định của Ngài, theo thứ tự, cái “thi ân” nào Trung Quốc “mưa móc” trước thì mình “xài” trước, cái nào sau, cho năm sau – Xin trân trọng gửi đến Ngài thưởng lãm như gợi ý cho Ngài “nghiên kíu” mà chỉ đạo cho thuộc cấp sưu tầm bổ sung cho nó dồi dào sinh động sáng tạo thêm lên, cho xứng với công ơn to lớn “núi rừng, biên giới, hải đảo” ấy …

Thưa Ngài Phó Thủ Tướng – Non 3 tháng nữa là đến ngày 1/10 cái ngày mà “nhà nước và đảng ta” phải cẩn thận nhớ cho kỷ còn hơn ngày chết của cha mẹ mình, chắc Ngài không quên đâu! Dễ gì quên! Đó là ngày Quốc Khánh “Thiên Triều” 1 tháng 10. Chúng tôi đề nghị Ngài chuẩn bị tư liệu triển lãm cho chủ đề của năm thứ nhất đi vào đúng cái ngày “thiêng liêng” này nó mới “quí” Ngài ạ! – Dưới đây xin giới thiệu cùng Ngài từng chủ đề…

NĂM THỨ 1: CHỦ ĐỀ “NHỚ ƠN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT”

Cái “ơn nghĩa” này lớn lắm đó, thưa Ngài Phó Thủ, “Bác ta” nhờ sự anh minh đích thân trực tiếp chỉ giáo kèm “chỉ tiêu” cụ thể của “Mao Sư Phụ” nhờ vậy mà “Bác và đảng ta” thực hành y hệt bên Trung Quốc – Chọn lựa chính xác được oan hồn của 172.000 nông dân xuất sắc từ miền Bắc gửi trước xuống Âm Phủ để “nghiên kíu” thổ nhưỡng đất đai cõi âm cho thành thuộc mà lo ruộng nương mùa màng lương thực để chuẩn bị cho ngày đón Bác xuống sau…

NĂM THỨ 2: CHỦ ĐỀ “NHỚ ƠN GIÁO DỤC – MỘT BÀI HỌC”

Ơn nghĩa này củng lớn lao lắm – Thưa Ngài! Chỉ “dạy cho Việt Nam một bài học” thôi mà giá trị có lợi cho ta tứ bề, ngay tức khắc loại khỏi vòng chiến, bớt đi cho chúng ta hơn 100.000 miệng ăn (chiến sĩ và nhân dân) trong lúc cả nước thiếu lương thực trầm trọng, lại bổ sung cho “Bác Ta” dưới “cõi âm” tới mấy sư đoàn thiện chiến để phòng ngừa “thế lực thù địch” ở dưới đó – Và nhất là nhờ “Bài Học” ấy mà “ải Nam Quan”, một nữa thác Bản Giốc với hàng chục ngàn km2 dọc biên giới “nhà nước, đảng ta” nhờ TQ quản lý giùm mà trên bản đồ Biên Giới mới đã “đồng thuận” nhưng “quên” ghi chừng nào trả lại.

NĂM THỨ 3: CHỦ ĐỀ “NHỚ ƠN, TÂY NAM – CHIẾN TRƯỜNG “K”

Năm này (1978) cả nước suýt chết vì đói đó Ngài! Nhờ Thiên Triều Trung quốc chi viện cho Khờmer đỏ đạn dược súng ống dồi dào kịp thời, cố vấn chỉ đạo cho chúng tràn qua biên giới Tây Nam “giải phóng” bên mình gần 30.000 miệng ăn đồng bào vô tội đang thiếu đói xanh mặt – Và cũng nhờ sự chi viện thêm hàng triệu quả “mìn cóc” chuyên chống người, hàng ngàn tấn đạn AK của TQ giúp cho Khờmer đỏ tiễn đưa 25.000 chiến sĩ con em mình ra quân “giải ngũ” sớm, mà đường về cố quận quá xa nên đành gửi tấm thân tàn trên mấy chục nghĩa trang dã chiến ở đất Campuchia.

NĂM THỨ 4: CHỦ ĐỀ “NHỚ ƠN- HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA”

Ơn nghĩa này thì phải chia hai cho nó tường tận – 1974, “nhà nước đảng ta” nhớ ơn Thiên Triều vô cùng vì đã thay mặt mình cho “giải ngũ” sớm 74 người anh em miền Nam “ruột thịt” lỡ theo chế độ tư bản, và thu hồi Hoàng Sa về cho “phe XHCN” quản lý giùm, nhưng không có “đồng thuận” ngày trả, vì cái công hàm năm 1958 “Bác ta và Bác Đồng” xác nhận của TQ rồi!.

1988 lại đội ơn một lần nữa, thông qua súng đạn thiên triều thay mặt QĐ/NDVN cho “ra quân” sớm 64 đồng chí hải quân mình, để “đổi ca gát” trên đảo “Gạc Ma” và ưu ái dạy thêm cho “đảng ta” một bài học “đừng bán anh em xa, mà dại dột tin láng giềng gần – Khi vui nó cho súng đạn, khi cần nó cũng ăn cướp biển đảo của ta – Cộng lại hai lần 138 người con của hai miền đất nước “nhờ ơn” Trung Quốc mà yên nghỉ giữa Biển Đông.

NĂM THỨ 5: CHỦ ĐỀ “NHỚ ƠN-SONG PHƯƠNG ĐỒNG THUẬN BIỂN ĐÔNG”

Cái ơn này thì lớn lắm, nó rộng, bao la như nước Biển Đông – nhờ Trung Quốc chỉ dẫn dạy bảo tường tận mà dân tộc Việt Nam, Đảng, Nhà Nước ta mới biết: Sau 4000 năm mưu sinh trên sân nhà Biển Đông của tiền nhân để lại có một cái “Lưỡi Bò” chín khúc của Trung Quốc chìm ở dưới mà nay Trung Quốc mới vớt lên và cảnh báo cho Việt Nam đừng đi nhầm vào đó nữa “nguy hiểm” lắm! – Và vì tình đồng chí 4 tốt 16 vàng nên ưu tiên cho phép Việt Nam đàm phán “song phương, đồng thuận”, Trung Quốc sẽ ưu ái “đơn phương” giúp “Nhà Nước đảng ta” dạy bảo ngư dân VN mỗi khi đi lạc vào cái “lưỡi bò chín khúc” ấy.

Trên đây là 5 chủ đề công ơn “lớn” nổi cộm gần đây do chế độ Cộng Sản Trung Quốc vì tình “đồng chí” ban ơn. Còn ân nghĩa 1000 năm Bắc Thuộc do các triều đại Thiên Triều Trung Hoa trước kia “mưa móc thi ân” cho tiền nhân mình thì chưa tính, cái đó tùy nghi ban tổ chức thêm vào cho nó đầy nghẹt cái tinh thần nội dung diễn văn trong đại hội của Ngài Phó Thủ Tướng là “Tổ chức tri ân Trung Quốc, xuyên suốt trong 5 năm, sau đại hội…”. Hy vọng cái sở học từ 3 trường Đại Học quốc tế sẽ giúp Ngài tổ chức mọi thứ tươm tất để còn trông mong được Trung Quốc “ban ơn” nhiều hơn nữa, đó cũng là khát vọng của “nhà nước cộng sản, đảng ta” phải hông Ngài?.

Hoàng Thanh Trúc

Mưu đồ độc chiếm Biển Đông của TQ bất chấp lịch sử

Đã có nhiều sự kiện, bằng chứng được ghi nhận trong sách vở Trung Hoa và Việt Nam chứng tỏ cương giới cực nam của Trung Hoa đến đầu thế kỷ XX chỉ ở bờ biển phía nam đảo Hải Nam. Các quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa không thuộc lãnh thổ Trung Hoa. Trong thời gian đó, nhà nước phong kiến Việt Nam đã làm chủ thực sự và tổ chức đội Hoàng Sa đi khai thác hai quần đảo của mình từ thế kỷ XVI.

Điều này càng cho thấy mưu đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc là ngang ngược, bất chấp những giá trị có tính lịch sử mà họ thường rêu rao qua những chứng lý giả tạo để đánh lừa dư luận.

Biên giới Trung Quốc chỉ đến Hải Nam

Cho đến đời Hán (206 trước Công nguyên), đảo Hải Nam do người Lê (hay Ly), một tộc Việt trong Bách Việt, làm chủ nhưng bị người Trung Hoa ở Quảng Đông chinh phục. Đây có thể coi là bước đầu tiến xuống Biển Đông của những triều đại Trung Hoa. Các chính quyền phong kiến kế tiếp nhau đưa người Hoa đến định cư ở vùng ven bờ đảo Hải Nam, dồn người Lê vào vùng rừng núi ở sâu bên trong đảo. Không cam chịu cảnh áp bức bóc lột, các bộ lạc người Lê vùng lên khởi nghĩa nhưng bị đàn áp dữ dội nên đều thất bại. Một điều đáng chú ý là ở đảo Hải Nam có dân Lê (Ly) thì ở Thanh Hóa cũng có dân Ly. Năm 1905, ông E. Brerault khảo sát đảo Hải Nam thấy có “người Việt ở bờ biển phía nam đảo Hải Nam”. Đó chính là người Lê (Ly) ở ven biển.

Trong vòng 19 thế kỷ tiếp theo, các chính quyền phong kiến Trung Quốc tiếp tục cho di dân đến và áp dụng chính sách đồng hóa để biến Hải Nam thành lãnh thổ của mình.

Thế nhưng sự cách biệt với nền văn hóa lục địa, nạn cướp biển ven bờ, bệnh sốt rét ác tính cùng với sự nổi dậy thường xuyên của các bộ lạc bản xứ đã ngăn cản chính quyền Trung Hoa đưa dân đến đây định cư với quy mô lớn. Hơn nữa, khí hậu nhiệt đới khác xa với đại lục, không thích hợp với kinh tế của người Hoa cũng là nguyên nhân làm cho nền kinh tế trên đảo chậm phát triển và người Hoa không muốn định cư ở đây. Những nguyên nhân khách quan này cản trở chính sách tiến xuống Biển Đông của các triều đại Trung Hoa. Vì vậy, đến những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các chính quyền Trung Hoa đều coi lãnh thổ của mình chỉ bao gồm từ đảo Hải Nam trở lên phía bắc.

Trong cuốn Phủ biên Tạp lục do nhà bác học Lê Quý Đôn viết năm 1776 đã ghi lại một sự việc rất quan trọng về mặt sử liệu: Năm 1754, thuyền của đội Hoàng Sa do Chúa Nguyễn phái ra khai thác Hoàng Sa bị đứt dây neo, trôi dạt vào cảng Thanh Lan thuộc đảo Hải Nam. Các quan sở tại đã tra xét những người ở trên thuyền, khi biết là người của đội Hoàng Sa của Việt Nam, đã chu cấp tiền, gạo cho về quê mà không hề phản đối gì. Chúa Nguyễn sau đó đã sai người viết thư cảm ơn.

Có thể dẫn chứng thêm qua nhiều sách báo phương Tây ghi lại sự kiện khoảng năm 1895, 1896 tàu Bellona của Đức và tàu Ymedi Maru của Nhật chở hàng cho Anh bị đắm ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, cách đảo Hải Nam 140 hải lý về phía nam. Người Trung Hoa ở đảo Hải Nam đã ra lấy trộm đồng trên tàu. Lãnh sự Anh ở Hải Nam phản đối với nhà đương cục Trung Hoa và nhận câu trả lời rằng Hoàng Sa không thuộc Trung Hoa do đó nước này không có trách nhiệm gì ở đấy.

Không những thế, hàng loạt tài liệu, bản đồ chính thức và bán chính thức của Trung Hoa cho đến đầu thế kỷ XX đều chỉ vẽ lãnh thổ Trung Hoa đến đảo Hải Nam. “Hoàng triều nhất thống dư địa tổng đồ” (xuất bản năm 1894), “Đại Thanh đế quốc toàn đồ” (xuất bản 1905, tái bản 1910) đều thể hiện rõ ràng điểm cực nam của Trung Hoa ở bờ nam đảo Hải Nam, đồng thời quyển Trung Quốc Địa lý Giáo khoa thư (xuất bản 1906) ghi rõ: Điểm cực nam Trung Hoa là Châu Nhai, Quỳnh Châu (tức Hải Nam). Sợ không chính xác, cuốn sách này còn nói rõ thêm: điểm cực nam đó ở vĩ tuyến 18º13′ bắc.

Từ năm 1909, Trung Hoa mới bộc lộ tham vọng trên Biển Đông. Theo lệnh Tổng đốc Lưỡng Quảng, Đô đốc Lý Chuẩn đem một số pháo thuyền nhỏ đến một vài đảo của Hoàng Sa dù khi đó quần đảo này đã do Việt Nam làm chủ, bắn vài phát súng rồi vội vã rút lui. Có thể nói mưu đồ bá quyền của Trung Hoa bắt đầu lộ rõ trong Công hàm ngày 29-9-1932 của đại diện Trung Hoa Dân Quốc tại Paris gửi Chính phủ Pháp nêu yêu sách rất vô lý về quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa): “Tây Sa là bộ phận lãnh thổ cực nam của Trung Hoa”. Mặc dù ngang ngược như vậy nhưng với công hàm này, người Trung Hoa vẫn chưa hề yêu sách đối với Trường Sa.

Những dữ kiện nói trên càng chứng tỏ lập luận “Trung Quốc có chủ quyền từ lâu đời” trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không có cơ sở.

Năm 1956, lợi dụng quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương, quân đội Sài Gòn chưa kịp ra thay thế ở Hoàng Sa, Trung Quốc bí mật đưa quân đổ bộ, chiếm đóng đảo Phú Lâm và Lincoln thuộc nhóm phía đông của quần đảo Hoàng Sa.

Tháng 1-1974, sau khi ký Thông cáo chung Thượng Hải và với sự làm ngơ của Mỹ, Trung Quốc huy động lực lượng kết hợp hải quân, không quân đánh chiếm nhóm phía tây của Hoàng Sa.

Đường lưỡi bò: sự hoang tưởng

Sự kiện gây quan ngại nhiều nhất chính là việc ngày 7-5-2009 Trung Quốc chính thức yêu cầu Liên Hiệp Quốc lưu truyền trong cộng đồng các nước thành viên tấm bản đồ thể hiện đường lưỡi bò (còn gọi là đường chữ U hay đường đứt khúc chín đoạn) trên Biển Đông, yêu sách không chỉ các đảo, đá mà toàn bộ vùng biển trong đó.

Đường lưỡi bò bao trọn bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên Biển Đông là quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Đông Sa và bãi Macclesfield với khoảng 75% diện tích mặt nước của Biển Đông, chỉ còn lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia,  Indonesia và Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5%.

Chỉ một ngày sau đó, Việt Nam, Malaysia và sau đó là Indonesia đã lập tức lên tiếng phản đối và bác bỏ. Tiếp theo, ngày
5-4-2011 Philippines gửi thư ngoại giao lên  Liên Hiệp Quốc phản đối yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông đồng thời cho rằng tuyên bố chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc là “không có căn cứ theo luật quốc tế”.

Thực tế, theo các tác giả Trung Quốc, đường lưỡi bò lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ các đảo trong Biển Đông The Location Map of the South China Sea Islands do Fu Jiaojin, Wang Xiguang biên soạn và được Vụ Địa lý của Bộ Nội vụ Trung Hoa Dân Quốc xuất bản vào năm 1947.

Một số người khác còn cố đẩy thời gian xuất xứ của con đường này xa hơn nhằm mục đích giải thích có lợi cho Trung Quốc. Họ cho rằng đường này do một người tên là Hu Jinjie vẽ từ năm 1914 và đến tháng 12-1947, một viên chức người Trung Hoa tên là Bai Meichu vẽ lại đường này trong một bản đồ cá nhân để thể hiện cảm xúc của mình khi nghe tin về việc Pháp chiếm đóng các đảo Trường Sa năm 1933. Tuy nhiên, các tác giả Trung Quốc cũng phải khách quan thừa nhận “không rõ khi vẽ đường này Bai Meichu có đủ hiểu biết và kiến thức về luật biển quốc tế đương đại hay không?”.

Ngoài ra, Daniel Schaeffer – nguyên tùy viên quân sự Pháp tại Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan – trong “Biển Nam Trung Hoa: Những điều hoang tưởng và sự thật của đường lưỡi bò” và các nhà nghiên cứu nước ngoài khác cũng đều khẳng định rằng bản đồ đường lưỡi bò này xuất hiện trong một tập bản đồ tư nhân, chứ không phải của Nhà nước.

Học giả Trung Quốc thừa nhận đường lưỡi bò không có căn cứ pháp lý

Nhiều học giả Trung Quốc đã đặt lại vấn đề về cái gọi là “đường lưỡi bò” và cách hành xử của Trung Quốc.

Tại hội thảo liên quan đến tranh chấp Biển Đông ngày 14-6-2012 do Viện nghiên cứu kinh tế Thiên Tắc và báo điện tử
Sina.com tổ chức, nhà nghiên cứu Lý Lệnh Hoa thuộc Trung tâm Tin tức Hải dương Trung Quốc, nói rằng “Chúng ta vẽ đường chín đoạn mà không có một kinh độ hoặc vĩ độ cụ thể, và cũng không có căn cứ pháp luật… Đường lưỡi bò (chiếm gần 80% Biển Đông) là do Trung Quốc tự vẽ ra năm 1974”.

Giáo sư Hà Quang Hộ, Học viện triết học thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc phê phán: “Là con người phải biết giữ nhân tình. Chúng ta đều là người, không phải là dã thú sống trong rừng rậm. Trong quan hệ giữa người với người, không chỉ biết yêu bản thân mà nhất định phải tính cả đến lợi ích của người khác… Nếu ý nghĩa của cái gọi là đường chín đoạn là đường biên giới quốc gia được vẽ sát vào bờ biển Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei như thế, tôi không tin những quốc gia đó có thể chấp nhận. Nếu Nam Hải (tức Biển Đông) được vẽ thành “biển nhà” của Trung Quốc như vậy, các nước khác có nhu cầu vận tải trên biển cũng không thể chấp nhận, và như thế sẽ trở thành tranh chấp mãi mãi. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà mọi người dựa vào nhau để tồn tại. Chúng ta muốn sống thì cũng phải để người khác sống chứ”.

Còn Giáo sư Trương Thự Quang, Đại học Tứ Xuyên, thì nhấn mạnh không thể tự vẽ ra đường lưỡi bò: “Quyền lợi của Trung Quốc cần được người khác thừa nhận, người khác không thừa nhận thì Trung Quốc không có quyền”.

Giáo sư Trương Kỳ Phạm, Học viện Pháp luật – Đại học Bắc Kinh, tỏ ra gay gắt hơn khi nói thẳng: “Tôi rất không đồng tình với kiểu hành xử chính trị quốc tế theo luật rừng. Cần giải quyết theo luật quốc tế và theo Luật Biển”.

Còn nhớ, hồi tháng 11 năm ngoái, tại một hội thảo diễn ra tại Washington (Mỹ) do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế của Hoa Kỳ (CSIS) tổ chức với sự tham dự của hơn 150 học giả, nhà nghiên cứu, nhà báo đến từ nhiều nước, các học giả và chuyên gia quốc tế đã phản bác các lập luận của Trung Quốc về chủ quyền đường lưỡi bò trên Biển Đông.

Bà Caitlyn Antrim – Giám đốc Ủy ban Pháp quyền đại dương của Mỹ – khẳng định, tuyên bố đường lưỡi bò không có cơ sở theo luật quốc tế bởi cơ sở lịch sử là rất yếu và rất khó bảo vệ. Bà Antrim nói: “Tôi không hiểu Trung Quốc tuyên bố cái gì trong đường lưỡi bò đó. Nếu họ tuyên bố chủ quyền với các đảo do đường ấy bao quanh, thì câu hỏi đặt ra là họ có chứng minh được chủ quyền với các đảo đó hay không. Nếu Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền với các đảo từ 500 năm trước, nhưng sau đó lại bỏ trống thì tuyên bố chủ quyền trở nên rất yếu, thậm chí không có giá trị theo luật pháp quốc tế”.

Những chứng cứ trên đây chỉ là một phần rất nhỏ trong vô số tư liệu lịch sử vạch trần tham vọng bá quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Điều này giải thích tại sao Trung Quốc luôn né tránh đem vấn đề tranh chấp trên Biển Đông ra phân xử trước các định chế quốc tế.

Advertisements