Chính sách ngoại giao dùng kinh tế để gây sức ép của Trung Quốc

Posted on July 25, 2012

0



Quyết tâm của Trung Quốc trong việc dùng đòn bẫy kinh tế để giải quyết các tranh chấp quốc tế nhằm có lợi cho mình là một xu thế đáng lo ngại.

Khi 10 quốc gia thành viên của ASEAN không đạt được thỏa thuận về cách dùng từ ngữ trong một thông cáo chung lần đầu tiên trong 45 năm, hầu hết mọi nhà nghiên cứu đều đổ lỗi cho nước chủ tọa ASEAN năm nay là Campuchia đã không tạo được một sự đồng thuận. Nhưng, đằng sau thái độ thụ động của Phnompenh là sức ép từ Bắc Kinh nhằm gạt ra ngoài bản tuyên bố cuối cùng bất cứ một nhắc nhở nào nói đến Biển Đông, đặc biệt là nói đến cuộc đối đầu giữa TQ và Philippines tại Bãi cạn Scarborough. Việc TQ đang có thế lực tại Campuchia không phải là một điều đáng ngạc nhiên. Bắc Kinh đã cung cấp hàng tỉ đôla viện trợ cho Campuchia. Nội năm 2010 mà thôi lượng tiền đầu tư nước ngoài mà TQ cam kết với Phnom Penh lớn gấp 10 lần tiền đầu tư mà Mỹ hứa hẹn.

Hơn một thập kỷ nay, TQ theo đuổi một chiến lược tại Đông Nam Á chủ yếu đựa vào củ cà rốt kinh tế để gia tăng phần thưởng cho các nước Đông Nam Á trong việc duy trì quan hệ hữu hảo với TQ. Hiệp định Tự do Thương mại TQ – ASEAN (China – ASEAN TFA), vốn trực tiếp đầu tư nước ngoài, ngoại viện, và thương mại của TQ tất cả đều được sử dụng để khuyến khích các nước phải xét đến lợi ích của Bắc Kinh khi hình thành chính sách và tránh các hành động mà TQ sẽ coi là đáng chê trách. Nhưng, trong vài năm vừa qua, TQ đã trực tiếp sử dụng quan hệ kinh tế để buộc các nước trong tầm ngắm phải thay đổi chính sách của mình. Và xu thế đang gia tăng này là đáng lo ngại.

Mục tiêu gần đây nhất của việc TQ dùng biện pháp kinh tế với mục đích o ép là Philippines, khi nước này vào ngày 10 tháng Tư phái một tàu khu trục của hải quân đến điều tra sự xuất hiện của tàu đánh cá TQ trong phá của Bãi cạn Scarborough, nằm ngay trong Khu đặc quyền Kinh tế 200 hải lý của Philippines. Sau khi một toán hải quân Phi có vũ trang leo lên tàu cá TQ phát hiện những con sò khủng, san hô, và cá mập còn sống trên tàu, họ toan bắt giữ người ngư dân nhưng bị hai tàu dân sự của Hải giám TQ xuất hiện cản trở. Philippines bèn rút tàu hải quân về và thay vào đó bằng một tàu Tuần duyên [là tàu dân sự thuộc Bộ Giao thông Vận tải – dịch giả]. Còn TQ thì gửi một tàu Ngư chính có vũ trang để tăng cường tuyên bố chủ quyền của mình. Cuộc đối đầu giữa hai nước kéo dài hơn một tháng.

Giận dữ vì Manila không chịu rút khỏi Bãi Cạn, TQ bèn dùng biện pháp kinh tế để trừng phạt Philippines vì cho rằng nước này đã vi phạm chủ quyền TQ. Báo chí cho biết các cơ quan kiểm dịch TQ đã ngăn chặn hàng trăm công-ten-nơ chuối Philippines không cho vào các hải cảng TQ, với lý do là chuối có sâu bọ. Quyết định kiểm dịch chuối do TQ đưa ra đã giáng một đòn kinh tế nặng nề vào Philippines là nước xuất khẩu 30% số chuối của mình sang TQ. Tiếp theo đó, TQ bắt đầu cho câu dầm việc kiểm dịch đu đủ, xoài, dừa, và quả dứa đến từ Philippines. Thêm vào đó, các cơ quan du lịch trên lục địa TQ ngưng gửi các toán du khách sang Philippines, nói là vì quan ngại cho sự an toàn của du khách. Vào tháng Giêng, TQ đã qua mặt Nhật Bản để trở thành nguồn du khách lớn thứ ba cho Philippines. Các lãnh đạo doanh nghiệp Phi đã áp lực chính phủ từ bỏ đường lối đối đầu tại Bãi cạn Scarborough, điều này chính là một kết quả mà TQ mong muốn. Vào đầu tháng Sáu, Bắc Kinh và Manila đi đến thỏa hiệp hai bên cùng một lúc rút hết tàu bè ra khỏi phá Scarborough. Philippines làm đúng thỏa hiệp đó, rồi rút hết tàu bè của mình ra khỏi Bãi Cạn vì thời tiết xấu vào cuối tháng. Theo tin tức của Manila, tàu cá TQ vẫn tiếp tục ở lại trong phá Scarborough, vi phạm thoả hiệp nói trên. Báo chí còn cho biết gần đây tàu TQ đã chặn cửa phá, không cho bất cứ tàu bè và thuyền đánh cá Phi Luật Tân vào lại trong vùng này.

Một trường hợp được báo chí loan tải rộng rãi hơn về việc TQ dùng thương mại như một vũ khí để buộc một nước khác thay đổi chính sách đã diễn ra vào tháng Chín năm 2010 khi Bắc Kinh ngăn chặn việc chở các loại khoáng đất hiếm sang Nhật Bản. Biện pháp này được dùng để trả đũa việc Nhật Bản giam giữ viên thuyền trưởng của một tàu đánh cá TQ trong một vụ việc xảy ra gần đảo Senkaku, hiện do Nhật Bản kiểm soát nhưng cũng được TQ và Đài Loan tuyên bố chủ quyền. Hải quan TQ thông báo cho các công ty rằng họ không được phép xuất khẩu sang Nhật bất cứ loại ốc-xít đất hiếm, muối đất hiếm, kim loại đất hiếm ròng, mặc dù việc chuyên chở khoáng chất này vẫn tiếp tục được cho phép đi đến Hồng Kong, Singapore, và nhiều nước khác. Tiếp sau đó, chính quyền TQ còn trì hoãn việc xuất khẩu đất hiếm sang Hoa Kỳ và các nước châu Âu, lấy cớ TQ đang có nỗ lực làm sạch công nghệ khai thác đất hiếm, một công nghệ đã và đang gây ô nhiễm nghiêm trọng tại một số vùng mà khoáng sản này được khai thác. Hành động của Bắc Kinh đã gây báo động cho Tokyo và là một yếu tố chính trong việc chính phủ Nhật quyết định trả tự do cho viên thuyền trưởng TQ. Hành động cấm vận này của TQ đã được nhiều chuyên gia coi là một bằng chứng của việc TQ cố tình dùng đòn bẫy kinh tế để giành phần thắng trong một tranh chấp quốc tế.

TQ không chỉ nhắm mũi dùi kinh tế vào các quốc gia châu Á. Một trường hợp điển hình thứ ba của việc TQ sử dụng sức ép kinh tế đã nhanh chóng diễn ra khi Ủy ban Nobel của Na Uy quyết định trao giải Nobel Hoà bình 2010 cho nhà bất đồng chính kiến TQ Lưu Hiểu Ba. Sau khi thông báo giải thưởng được đưa ra vào tháng Mười 2010, Bộ Ngoại giao TQ cảnh báo rằng quyết định này sẽ gây tổn thất cho quan hệ giữa Bắc Kinh và Oslo, bất chấp sự kiện Ủy ban Nobel hoàn toàn độc lập với Chính phủ Na Uy. TQ cũng cảnh báo các nhà ngoại giao nước ngoài rằng việc gửi đại diện đến tham dự buổi lễ trao giải Nobel Hoà bình sẽ có hậu quả bất lợi cho nước họ. Mười tám nước, phần lớn là những quốc gia có hồ sơ nhân quyền tồi tệ, quyết định không tham dự.

Trong những tháng sau đó, TQ đã cho đóng băng các cuộc đàm phán FTA (hiệp định tự do thương mại) với Na Uy và áp đặt những biện pháp kiểm dịch mới đối với cá hồi nhập khẩu từ Na Uy, đưa đến việc cắt giảm nghiêm trọng. Lượng cá hồi mà TQ nhập khẩu từ Na Uy đã giảm bớt 60% trong năm 2011, mặc dù thị trường cá hồi TQ đã tăng thêm 30%.

TQ đã trở thành một đầu máy tăng trưởng rất cần thiết cho kinh tế toàn cầu. Hơn nữa, sự hào phóng kinh tế của TQ đã mang lại ích lợi cho nhiều nước trên khắp thế giới. Nhưng, sự thể ngày càng lộ ra rằng, hợp tác kinh tế với TQ có nhiều rủi ro trong đó. Các nước cần phải cảnh giác việc TQ ngày càng có khuynh hướng sử dụng các phương tiện kinh tế để ép buộc các nước trong tầm ngắm của mình thay đổi chính sách sao cho phù hợp với lợi ích của TQ. Quá lệ thuộc vào TQ có thể gia tăng nguy cơ của đất nước trước sức ép kinh tế của họ.

Trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương và xa hơn nữa, các quốc gia đang theo dõi hành vi của TQ khi nước này bắt đầu trỗi dậy như một đại cường. Phần lớn các nước vẫn còn nuôi hy vọng rằng trong khi vươn dậy, TQ sẽ biết tuân theo các qui phạm quốc tế và khu vực và củng cố hệ thống quốc tế đang thịnh hành, mà từ đó TQ đã hưởng nhiều lợi lộc trong các thập niên gần đây. Nhưng nếu muốn một kịch bản tích cực như thế trở thành hiện thực, các nước sẽ phải đẩy lùi quyết tâm ngày càng gia tăng của TQ trong việc sử dụng đòn bẩy kinh tế để o ép các nước khác thay đổi chính sách cho phù hợp với tham vọng của Bắc Kinh.

B. S. G.

Bonnie S. Glaser là hội viên thâm niên nghiên cứu về tình hình TQ tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) và là một cộng sự viên thâm niên tại Diễn đàn Thái Bình Dương của CSIS. Bài báo này thoạt đầu được xuất bản bởi bản tin hang tuần Pacific Forum CSIS Pacnet và chỉ là quan điểm riêng của tác giả.

Vũ khí kinh tế

Tại Thượng đỉnh vừa qua của Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á là ASEAN, các nước đã không đạt được thống nhất để có một bản thông cáo chung.

 

AFP photo

Thành phố Thượng Hải, Trung Quốc chụp hôm 29/6/2012, ảnh minh họa.

 

Đây là lần đầu tiên mà sự kiện như vậy xảy ra từ khi tổ chức này được thành lập 45 năm về trước. Giới quan sát quốc tế nói đến một lý do của tình trạng này là sự ngần ngại của Cam Bốt là nước đăng cai tổ chức, do Chính quyền Trung Quốc dùng áp lực kinh tế để gây chia rẽ trong nội bộ của ASEAN. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về những đòn bẩy kinh tế nhắm vào các mục tiêu ngoại giao.

Sức ép từ Trung Quốc

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Trung Quốc đã viện trợ cho Cam Bốt đến 10 tỷ Mỹ kim và năm ngoái thì đầu tư trực tiếp vào xứ này một kim ngạch cao gấp mười số đầu tư của Hoa Kỳ. Giới quan sát quốc tế cho rằng đấy là đòn bẩy kinh tế đã khiến Cam Bốt gây trở ngại cho việc 10 quốc gia Đông Nam Á thống nhất được quan điểm về cách ứng xử ở ngoài Đông Hải trước sự bành trướng của Trung Quốc. Chúng tôi xin đề nghị là kỳ này mình sẽ tìm hiểu về loại áp lực đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi thiển nghĩ là trong quan hệ giữa các nước với nhau, kinh tế có giữ một vai trò quan trọng và có thể chi phối khía cạnh ngoại giao hay an ninh. Nhưng nếu các nước dân chủ phải tôn trọng quy luật thị trường và chỉ dùng viện trợ làm phương tiện tác động tích cực về mặt ngoại giao thì các nước độc tài lại có thể dùng đòn bẩy kinh tế để gây áp lực tiêu cực hầu đạt mục tiêu của họ. Trung Quốc là một nước độc tài đã nhiều lần dùng sức ép đó với các quốc gia khác. Vấn đề ở đây là lãnh đạo các nước phải ý thức được sự kiện này hầu tránh được hoàn cảnh bất lợi là để Trung Quốc tròng được cái dây thòng lọng kinh tế vào cuống họng mình.

Một cách rộng lớn, người ta có thấy Trung Quốc đã ký kết Hiệp định Tự do Mậu dịch với hiệp hội ASEAN từ 10 năm trước là năm 2002 cũng tại thủ đô Phnom Penh. Hiệp định mở ra một khu vực tự do thương mại với thuế quan rất thấp giữa 11 nước với nhau kể từ đầu năm 2010. Nhưng bên trong thì họ tiến hành chiến lược tôi gọi là “bẻ đũa từng chiếc” để tranh thủ từng nước riêng khiến Hiệp hội ASEAN khó có một quan điểm hay đối sách thống nhất với Bắc Kinh.

Vũ Hoàng: Như vậy, chúng ta có thể khởi đi từ sợi dây thòng lọng này của Trung Quốc và trước tiên là chuyện Cam Bốt như người ta đã có thể thấy hôm 12 vừa qua.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nói về lịch sử thì ta đều biết hoàn cảnh cầm quyền của đương kim Thủ tướng Cam Bốt, ông Hun Sen, một người lãnh đạo lâu nhất của các nước Đông Nam Á kể từ 25 năm nay. Hoàn cảnh cầm quyền lúc đó của ông ta là do sự yểm trợ của lãnh đạo Hà Nội.

Nhưng sự tình có thay đổi kể từ Tháng Bảy năm 1997 là khi Hun Sen tiến hành đảo chính để lật đổ đồng thủ tướng thời ấy là Norodom Ranariddh khiến ông này phải lưu vong qua Thái Lan. Khi theo dõi tình hình kinh tế xứ này thì mình cũng thấy ra là ngay sau đó, giới đầu tư Đài Loan bị đẩy ra ngoài và Trung Quốc tiến sâu vào mặt trận kinh tế để có ảnh hưởng mạnh về chính trị. Khi ấy, xứ Cam Bốt hết còn quan hệ khắng khít với Việt Nam như trước mà nhiều người ít để ý.

Cũng vì không để ý nên ít người thấy Bắc Kinh viện trợ khá nhiều cho chính quyền Phnom Penh khiến Cam Bốt có lập trường hết còn thống nhất với các nước trong Ủy ban Mekong ở dưới hạ nguồn của con sông. Dự án viện trợ hai triệu Mỹ kim để xây dựng Dinh Hòa Bình ở Phnom Penh, là nơi có Thượng đỉnh ASEAN vừa qua, đã khởi sự từ thời ấy rồi.

Tình hình cũng đã có xoay chuyển tương tự ở tại Lào, khi mà lãnh đạo xứ này có lập trường ngày càng khác biệt với Hà Nội. Một thí dụ nóng hổi là đập thủy điện Xayaburi được Lào thực hiện để bán điện cho Thái và gây mâu thuẫn quan điểm với Cam Bốt và Việt Nam. Nghĩa là các nước có quyền lợi sinh tử với sông Mekong do Trung Quốc kiểm soát trên thượng nguồn đã hết thống nhất về nhận thức và ý chí sinh tồn với nhau.

Trung Quốc là một nước độc tài đã nhiều lần dùng sức ép đó với các quốc gia khác. Vấn đề ở đây là lãnh đạo các nước phải ý thức được sự kiện này hầu tránh được cái dây thòng lọng kinh tế vào cuống họng mình.
ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Một thí dụ đầy ý nghĩa là việc các nước muốn tổ chức sinh hoạt chào mừng hiệp định hợp tác Tiểu vùng Mekong vào Tháng Tư năm 1995 bằng một con thuyền di chuyển từ Thái Lan qua Việt Nam. Thế rồi con thuyền này mắc cạn vì trên thượng nguồn Trung Quốc đã ngăn nước để đưa vào đập Mạn Loan của họ ở Vân Nam! Chuyện nước nôi trên thượng nguồn là một vấn đề sinh tử cho cả tỷ người Á châu ở dưới hạ nguồn, từ Ấn Độ qua Việt Nam mà có thể là chúng ta sẽ đề cập tới trong một kỳ khác.

Không chỉ các nước ĐNA

000_Hkg7578969-250.jpg
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Indonesia Marty Natalegawa (T) nói chuyện với Ngoại trưởng Campuchia Hor Namhong (P) trong một cuộc họp tại Bộ Ngoại giao nước ngoài tại Phnom Penh vào ngày 19 tháng 7 năm 2012. AFP photo

Vũ Hoàng: Như ông trình bầy thì những sự việc ngày nay có mầm mống sâu xa từ hơn chục năm trước mà dư luận không mấy để ý?Nguyễn-Xuân Nghĩa: Có lẽ như vậy nên dư luận chẳng để ý là đầu Tháng Bảy năm 1996, khi Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội Tám thì Thủ tướng Lý Bằng của Trung Quốc khi đó đã qua tham dự với một phái đoàn hùng hậu của 150 doanh gia Trung Quốc, tất nhiên là cán bộ của hệ thống kinh tế nhà nước. Họ đi khắp nơi để gọi là phát triển dự án đầu tư mà thực sự là tung tiền ảnh hưởng tới cơ cấu đảng ngay từ cấp cơ sở ở dưới với kết quả đang thấy ngày nay.

Tôi cho là Việt Nam đã thực tế rơi vào quỹ đạo Trung Quốc kể từ đó sau khi tái lập bang giao với Bắc Kinh và coi ý thức hệ cộng sản là tư tưởng chỉ đạo cho quan hệ giữa hai nước. Sợi dây thòng lọng được lồng từ đó rồi và ngày càng siết chặt hơn do tánh tham của các đảng viên khiến kinh tế Việt Nam ngày nay lệ thuộc quá nặng vào Trung Quốc.

Vũ Hoàng: Đấy là những gì xảy ra tại các quốc gia lân bang với Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á, như Việt, Miên, Lào, Thái và Miến Điện. Hình như là chuyện ấy cũng xảy ra với các nước ở xa hơn, thí dụ điển hình là Philippines. Có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Chúng ta không nên quên là vào năm 2004. Bắc Kinh đề nghị các nước có tranh chấp về chủ quyền trên các quần đảo ngoài khơi Đông Hải là hãy tạm gác mâu thuẫn qua một bên để cùng nhau hợp tác thăm dò tài nguyên năng lượng nằm ở dưới. Chính quyền của bà Gloria Macapagal-Aroyo đã đồng ý khiến Hà Nội cũng ngả theo mà rốt cuộc việc hợp tác chẳng đi tới đâu, cho tới quyết định gần đây của Bắc Kinh là nâng cấp hành chính cho tỉnh Tam Sa và đòi mở ra chín lô thăm dò dầu khí ngay trên thềm lục địa của Việt Nam.

Một thí dụ gần đây hơn là chuyện trái chuối trong quan hệ giữa Trung Quốc và Philippines. Tháng Năm vừa rồi, tranh chấp bùng nổ giữa hai nước về Bãi cạn Scarborough nằm gần Vịnh Subic của Phi khi ngư phủ Philippines bắt giữ ngư phủ Trung Quốc hoặc người Trung Quốc thủ vai ngư phủ và xâm phạm vào vùng chủ quyền của Phi.

Giữa khung cảnh căng thẳng ấy, hôm mùng chín Tháng Năm, Bắc Kinh bỗng tri hô rằng chuối của Philippines thiếu tiêu chuẩn vệ sinh nên phải chịu chế độ cách ly. Philippines xuất khẩu chuối nhiều nhất là qua Nhật, năm ngoái thu về 75 triệu đô la, kế tiếp là qua Trung Quốc, một thị trường có sức tăng trưởng rất nhanh. Khi quyết định tạm ngưng nhập khẩu chuối – tức là sẽ để cho hư thối – Bắc Kinh gây áp lực về nhiều mặt cho Chính quyền Manila. Thứ nhất là mất một nguồn thu về ngoại tệ, thứ nhì là gây khó khăn cho hai chục vạn nông dân trồng chuối khiến họ phàn nàn chính quyền. Nó cũng tương tự như động thái của Trung Quốc khi ảnh hưởng vào các doanh gia người Phi gốc Hoa dưới chính quyền khá tham nhũng của Tổng thống Macapagal-Arroyo.

Vũ Hoàng: Hình như Trung Quốc không chỉ gây áp lực kinh tế với các nước Đông Nam Á mà còn sử dụng đòn bẩy đó với nhiều nước khác, thưa ông có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng đúng vậy và thí dụ nổi bật là với cả Nhật Bản vào năm kia.

Tháng Chín năm 2010, Bắc Kinh quyết định ngưng xuất khẩu các kim loại cần thiết cho công nghiệp mà người ta gọi là “đất hiếm” chỉ vì tuần duyên Nhật Bản đã bắt giữ một ngư thuyền Trung Quốc gần đảo Senkaku mà Trung Quốc nhận là của mình với tên gọi là Điếu Ngư Đài. Lý do chính thức là vì họ cạn nguồn đất hiếm và phải tính lại giá bán cho cao hơn mặc dù họ vẫn xuất khẩu qua nhiều xứ khác, kể cả Hong Kong và Singapore. Lý do thực tế vẫn là để gây sức ép với Nhật Bản và sau này với cả Hoa Kỳ và Âu Châu.

Với Âu Châu, ta cũng không quên rằng năm 2010 đó, Ủy ban Nobel ở xứ Na Uy đã trao giải Nobel Hòa bình cho Lưu Hiểu Ba, một nhà báo bất đồng chính kiến và đang bị cầm tù. Mặc dù Ủy ban Nobel là cơ chế hoàn toàn độc lập, Bắc Kinh vẫn gây áp lực với Chính quyền Na Uy bằng cách ngưng thương thuyết hiệp định tự do mậu dịch và hạn chế nhập khẩu cá hồi cũng vì lý do vệ sinh khiến số xuất khẩu của Na Uy bị sụt mất 60% trong năm sau dù số tiêu thụ của thị trường Trung Quốc đã tăng 30%.

Nói chung, các nước độc tài và thiếu dân chủ thường hay dùng đòn bẩy kinh tế để gây sức ép chính trị. Một trường hợp tương tự là khi Liên bang Nga đơn phương quyết định ngưng cung cấp khí đốt cho Cộng hoà Ukraine hôm mùng một Tháng Giêng năm 2009. Quyết định này gây khó cho Chính quyền Ukraine và giúp cho phe thân Nga của Tổng thống Viktor Yanukovich trở lại cầm quyền. Quyết định này cũng gây phân hóa cho Âu Châu vì các nước, nhất là Đức, phải nhập khí đốt của Nga chuyển vận qua lãnh thổ Ukraine. Chính là các nước Âu Châu đã vì quyền lợi của mình mà gây thêm sức ép cho Ukraine.

Phải hành xử ra sao

image.jpg
Người dân tiếp tục xuống đường biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 22-07-2012. AFP photo

Vũ Hoàng: Thưa ông Nghĩa, trong chương trình phát thanh cách đây hai tuần, ông có nói đến một “liên minh của sự sợ hãi” giữa các nước độc tài như Trung Quốc hay Liên bang Nga dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Vladimir Putin. Qua những gì ông vừa trình bày thì các nước đó đâu có sợ hãi mà vẫn dám lấy quyết định táo tợn và đi ngược với quy luật trao đổi kinh tế tự do. Ông nghĩ sao về chuyện này?Nguyễn-Xuân Nghĩa: Chúng ta có vấn đề đầu tiên là đạo đức, dù sao vẫn là giá trị phổ cập mà đa số các nước trên thế giới đều muốn tôn trọng. Khi dùng sức ép kinh tế một cách ngang ngược như vậy thì các nước độc tài càng phơi bày bộ mặt thật và đấy là một điều thật ra vẫn bất lợi về ngoại giao. Thí dụ nóng hổi là lập trường của Nga và Trung Quốc trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc về nạn Syria tàn sát người dân.

Chuyện thứ hai là đòn bẩy kinh tế đó thường chỉ công hiệu với các nước yếu thế và thiếu thống nhất với nhau. Nhưng nếu áp dụng mãi thì nó lại gây tác dụng ngược là khiến các nước nạn nhân càng dễ đoàn kết với nhau. Tôi xin được nêu một thí dụ là Sáng kiến Hợp tác Tiểu vùng Mekong do Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đề xướng năm 2009.

Ai cũng có thể nghĩ rằng đấy là một phản đòn của Mỹ trước sự khuynh đảo của Trung Quốc. Nhưng nếu xét cho kỹ thì mình thấy rằng một xứ dân chủ có thể dùng biện pháp tích cực là viện trợ để thuyết phục các nước khác cùng chia sẻ một chủ trương ngoại giao có lợi chung. Nó khác hẳn lề thói ngang ngược của Bắc Kinh. Chính là điều ấy mới khiến lãnh đạo nhiều nước liên hệ phải xét lại quan điểm về lợi ích khi hợp tác với Bắc Kinh, một điển hình là sự chuyển hóa của Miến Điện qua chế độ dân chủ hơn mà thế giới đang chứng kiến.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối thưa ông, trước hoàn cảnh đó thì các nước đang làm ăn với Trung Quốc nên hành xử như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Ta thấy tại các nước dân chủ có quyền tự do báo chí thì dư luận thường xuyên nêu vấn đề về quy cách ứng xử đáng chê trách của Trung Quốc. Một thí dụ là chương trình phát thanh này của chúng ta. Một thí dụ khác là khi dư luận được biết, họ có thể tự huy động thành sức mạnh gây áp lực với chính quyền và các doanh nghiệp có tính chất đồng lõa với Bắc Kinh. Ta không nên đánh giá thấp phản ứng này của quần chúng.

Tại các nuớc thiếu dân chủ và không có tự do báo chí thì chính quyền thật sự đã bị Trung Quốc vận dụng để thực hiện những điều có hại cho quyền lợi quốc gia vì chẳng hạn như khi Bắc Kinh bẻ đũa từng chiếc thì chính mình đã bị bẻ gãy và sự thiếu đoàn kết đa phương càng khiến quốc gia bị lệ thuộc nhiều hơn vào Bắc Kinh. Khi người dân Việt Nam biểu tình chống lại thái độ ngang ngược của Trung Quốc mà lại bị chính quyền Hà Nội cấm đoán thì lãnh đạo Việt Nam cho thấy quyền lợi của họ nằm ở đâu!

Tại các nuớc thiếu dân chủ và không có tự do báo chí thì chính quyền thật sự đã bị Trung Quốc vận dụng để thực hiện những điều có hại cho quyền lợi quốc gia …
ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Tôi lại xin kết thúc bằng một truyện tích được viết trong cuốn Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Có ông phú hộ đó sợ bị trộm nên bao nhiêu của quý đều chất vào một cái rương, bên ngoài có khóa và đóng đai cho chặt. Khi kẻ trộm lẻn vào thì chỉ ôm lấy cái rương là lấy được hết và trên đường đào tẩu, hắn còn cám ơn cái khóa là không bị bung. Chính quyền độc tài đã khóa chặt người dân và trao cả cơ đồ cho ngoại bang. Vì vậy, muốn bảo vệ quyền lợi quốc gia trước sức ép của ngoại bang thì người ta phải có dân chủ. Chính là nền dân chủ đã giúp Philippines có một chính quyền độc lập và tự tin hơn trước sức ép của Trung Quốc. Cũng vậy, ta sẽ thấy sự chuyển hóa tốt đẹp hơn cho xứ Miến Điện tiếp giáp với Trung Quốc nếu nền dân chủ sẽ được thực thi.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

 

Theo dòng thời sự: