Công dân hạng nhất: CÔNG AN

Posted on July 28, 2012

1



Một trong những quyền con người được cả nhân loại đề cao là quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật. Đó là thước đo phẩm giá con người trong xã hội, bao quát toàn bộ các quyền bình đẳng khác của con người trong các lĩnh vực như chính trị, văn hóa, kinh tế, dân sự. Quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật cũng có thể coi như cội nguồn của dân chủ mà nhìn vào đó người ta có thể đánh giá một thể chế có tự do dân chủ hay không.

Quyền bình đẳng trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 của Hoa Kỳ (1) cũng là điều đầu tiên được ông Hồ Chí Minh nhắc đến trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Việt Nam Dân Chủ Công Hoà, đọc ngày 2/9/45 ở Hà Nội. Thế nhưng, xã hội Việt Nam hiện nay, tình trạng bất bình đẳng trong cách đối xử của nhà cầm quyền đối với công dân đã trở nên trầm trọng đến nỗi người ta có thể phân ra nhiều loại công dân khác nhau: công dân hạng nhất, hạng hai, hạng ba,… và hạng bét, một loại người mất hẳn quyền công dân từ khi sinh ra đời.

Vậy những ai là “công dân hạng bét” và ai là “công dân hạng nhất?”

Dễ lắm. Chỉ cần nhìn vào cách xét xử của các tòa án Việt Nam đối với từng loại người, đặc biệt so sánh các bản án là đã có thể thấy được sự “phân cấp công dân” này.

Ngày 17/7/12 vừa qua, Tòa án Nhân dân tỉnh Bắc Giang trong phiên sơ thẩm đã tuyên xử ba ông Nguyễn Kim Nhàn, Đinh Văn Nhượng và Đỗ Văn Hoa tổng cộng 13 năm 6 tháng tù, trong đó người nặng nhất là ông Nhàn bị 5 năm 6 tháng tù và 5 năm quản chế. Những người này bị khép tội “tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa” theo điều 88 của Bộ luật hình sự. Đây là loại công dân chỉ mới dùng lời nói và chỉ nói lên sự thật về tình trạng xã hội hiện nay cũng như những oan khuất của chính họ và các nông dân mất đất là đã bị dập như thế.

Trong vụ án được dư luận trong nước và thế giới quan tâm nhiều nhất, ngày 2/8/2011, Tòa phúc thẩm tại Hà Nội đã giữ nguyên bản án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế đối với ông Cù Huy Hà Vũ cũng với tội danh tuyên truyền chống nhà nước theo điều 88 Bộ luật hình sự. Ông bị đưa ra xét xử chỉ vì viết bài ngăn cản nhà nước đừng làm những dự án quá tai hại cho đất nước, như dự án khai thác bauxite tại vùng Tây Nguyên mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao cho Trung Quốc khai thác. Nghĩa là ông thuộc loại công dân chỉ mới dùng chữ viết và chỉ viết để khuyên can là đã bị dập như thế.

Đầu năm 2010 vụ án “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” cũng là một vụ án chính trị gây chấn động dư luận từ tháng 6/2009 được đem ra xét xử ngày 20/1/2010. Luật sư Lê Công Định và Trung tá Trần Anh Kim bị tuyên án 5 năm tù, ông Lê Thăng Long 3 năm 6 tháng và ông Nguyễn Tiến Trung 7 năm. Riêng ông Trần Huỳnh Duy Thức bị kết án 16 năm tù giam. Trước khi bị bắt, ông Trần Huỳnh Duy Thức là một blogger nổi tiếng với các bút danh: Trần Đông Chấn, Change We Need… Những bài viết trên blog của ông đều thu hút rất đông người đọc, trong đó có nhiều bài phân tích về các vấn đề kinh tế, chính trị. Cả 5 ông này thuộc loại công dân chỉ mới dùng ý nghĩ và chỉ mới nghĩ đến một tương lai khác tươi sáng hơn cho dân tộc là đã bị dập như thế.

Các bản án dành cho người dân là như thế, còn các bản án dành cho công an thì sao?

Tại tỉnh Bắc Giang ngày 23/7/2010 thanh niên Nguyễn Văn Khương bị đưa về đồn công an huyện Tiên Yên, lý do không đội mũ bảo hiểm. Sau đó theo tin lọt ra ngoài, anh Khương bị cả đồn công an đang say thay phiên nhau đánh đến chết tại đồn. Vụ án gây phẫn nộ dư luận và hàng ngàn người dân đã tập trung biểu tình trước trụ sở công an để phản đối. Ngày 1/3/10 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang lôi ra MỘT con dê tế thần là thiếu úy công an Nguyễn Thế Nghiệp để phạt 7 năm tù. Đó là cái giá của một mạng người và thế là huề cả làng. Cả đồn công an lại tiếp tục “thi hành công vụ”.

Cũng tại tỉnh Bắc Giang, trong một vụ cưỡng chế đất ba tuần trước đó ông Nguyễn Văn Hùng 50 tuổi, ngụ tại xóm 2 thôn Quyết Tiến, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, bị công an trong lực lượng cưỡng chế đánh trọng thương. Ông Hùng chết ngày 26/1/12 trong hoàn cảnh nghèo khó không tiền chạy chữa ở bệnh viện. Mọi sự chìm vào quên lãng vì cũng chẳng có ai trách nhiệm về cái chết thương tâm của một nông dân mất đất và thế là huề cả làng. Lực lượng công an lại kéo đi “duy trì trật tự” cho những vụ cưỡng chế nhà đất khác.

Vụ án tàn bạo nhất do công an gây ra ngay giữa thủ đô Hà Nội xảy ra ngày 28/2/2011 khi một nhóm công an, trong đó có trung tá Nguyễn Văn Ninh của công an phường Thịnh Liệt, Quận Hoàng Mai, bao vây dùng dùi cui đánh gãy cổ ông Trịnh Xuân Tùng với lời tố cáo sau đó rằng ông Tùng vi phạm luật giao thông. Khi có dấu hiệu vụ án này sắp bị nhấn chìm xuồng như bao vụ việc khác, gia đình nạn nhân mà đại diện là người con gái tên Trịnh Kim Tiến đã liên tục lên tiếng về cái chết oan khuất của cha mình. Sau gần một năm trời, tòa sơ thẩm ngày 13/1/12, không phạt ai khác ngoài Nguyễn Văn Ninh và bản án là 4 năm tù. Đó là tất cả trị giá sinh mạng của nạn nhân Trịnh Xuân Tùng. [Con số này lại càng đáng kinh ngạc khi so với bản án dành cho người dân xuất hiện trên báo Người Lao Động ngày 24/7, “Ném đá vào mặt công an viên, lãnh 18 năm tù”(2)]

Trước làn sóng phẫn nộ của công luận và gia đình nạn nhân, sau hai lần đình hoãn, ngày 17/7/12 tòa phúc thẩm tại Hà Nội không những chỉ tuyên y án 4 năm tù mà còn xác nhận việc công an đánh dân là đúng và bình thường. Tại phiên tòa này, công an Nguyễn Văn Ninh tuyên bố không chấp nhận bản án sơ thẩm và vẫn cho rằng “bản thân mình làm đúng, không có gì sai trái cả”. Công an Ninh còn nói khi có hành vi đánh vào gáy nạn nhân Trịnh Xuân Tùng là lúc đương sự “đang rất bình tĩnh để xử lý tình huống”. Sau đó, chánh án phiên tòa kết luận trung tá công an Nguyễn Văn Ninh “làm đúng”; xác nhận đánh dân “một cách bình tĩnh” như thế lại càng đúng; và bản án 4 năm chỉ để phạt tội “lỡ tay” đánh gẫy cổ nạn nhân và không cho nạn nhân đi nhà thương. Thế là huề cả làng.

Điều đáng nói là nếu đây không phải là gia đình kiên trì đeo đuổi công lý của mẹ con cô Trịnh Kim Tiến, thì giờ này trung tá công an Nguyễn Văn Ninh vẫn đang chỉ huy đám công an dưới quyền tiếp tục “làm đúng” đối với người dân trên đường phố Hà Nội. Khó ai biết còn bao nhiêu nạn nhân Trịnh Xuân Tùng khác ngay giữa lòng Hà Nội mà gia đình họ không dám lên tiếng.

Hơn thế nữa, các vụ chết dưới tay công an không chỉ giới hạn ở Hà Nội mà hầu như tỉnh thành nào cũng có và năm nào cũng có. Ngay cả trên báo lề phải cũng nhan nhản tin tức loại này:

Anh Nguyễn Công Nhựt, sinh năm 1981, chết tại trụ sở công an huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, ngày 25/04/2011. Lý do: “chết do thắt cổ bằng dây sạc pin điện thoại”. Sau đổi lại thành “thắt cổ bằng dây cáp điện thoại bàn”.

Anh Nguyễn Quốc Bảo, sinh năm 1978, bị công an quận Hai Bà Trưng, Hà Nội tạm giữ. Ngày 22/01/2010 gia đình được báo tin “Chết do tự thương”, nghĩa là anh Bảo tự gây thương tích mà chết!

Anh Vũ Văn Hiền (40 tuổi) chết trong đồn công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ngày 29/6/2010 do “tự lao đầu vào tường”. Người giám sát việc mổ tử thi cho hay, nạn nhân bị đa chấn thương rất nặng: đỉnh đầu có hai vết tụ máu, vỡ xương hàm trái, thái dương trái bị rạn xương sọ, phổi tụ máu, “gãy 4 chiếc xương sườn, gẫy cẳng xương tay trái”.

…. Và chỉ cần đánh vào Google với cụm từ “công an đánh chết người”, người ta sẽ được hơn 50 triệu kết quả!

Hầu như tất cả các vụ chết người trong đồn công an đều có chung một lý do duy nhất, đó là tù nhân tự tử. Nhưng kết quả giảo nghiệm tử thi cho thấy những nghịch lý trắng trợn. Như biên bản điều tra của công an ghi “nhảy lầu chết” nhưng nạn nhân lại bể đầu và gãy xương sườn. Hai bộ phận này không thể chạm đất cùng lúc; biên bản ghi “thắt cổ tự tử bằng cách cột giây vào song sắt cửa sổ” nhưng khung cửa sổ không cao bằng chiều cao của nạn nhân; biên bản ghi “tự tử bằng dây buộc giày” nhưng nạn nhân lại bị bể lá lách và gãy chân; biên bản còn ghi “chết do thắt cổ trong tư thế ngồi”; v.v… Nhưng dù là lý do gì đi nữa, các vụ kiện tụng công an chỉ đến cửa tòa, chứ chưa vào được đến trong tòa, là hết, huề cả làng để công an tiếp tục “điều tra các vụ tự tử khác”.

– o O o -Rõ ràng tại Việt Nam, tầng lớp quan chức cao cấp của đảng và nhà nước là thành phần “ngoại hạng”. Họ đứng trên toàn bộ hệ thống và xử dụng bất kỳ tài sản nào của đất nước vào bất kỳ mục tiêu và ở bất kỳ thời điểm nào họ muốn, y như các vua chúa thời xưa. [Cũng có người tranh luận rằng số dân “nước lạ” đang sống tại các khu riêng biệt trên đất Việt cũng thuộc loại “ngoại hạng” này vì công an cũng rất sợ, không dám đụng đến họ.]

Nhưng ngay bên dưới thành phần ngoại hạng đó, khó ai còn có thể tranh cãi về vị trí “công dân hạng nhất” của công an ngày nay.

Bình thường trên thế giới, cảnh sát là những người chỉ có bổn phận thi hành pháp luật đang có. Nhưng tại Việt Nam, công an có luôn vai trò đẻ ra luật miệng ở bất kỳ lúc nào, từ bất kỳ cấp nào và có luôn trong tay mọi loại phương tiện, kể cả tòa án, để buộc các thành phần bên dưới phải vâng theo các lệnh miệng đó. Nói cách khác, công an được giao cho toàn quyền sinh sát, trấn lột, đánh đập, mắng nhiếc mọi loại dân chúng dưới họ, miễn là bảo vệ được và đầy đủ cho tầng lớp vua quan bên trên…

Còn công dân hạng nhì là ai? Đó là thành phần tay chân được công an thuê mướn dưới nhiều hình thức: từ thanh niên tình nguyện, “nhân dân tự phát”, đến những đầu gấu chính hiệu, những tay du thủ du thực, những tội phạm hợp tác với công an. Tuy ở mức thấp hơn, nhưng thành phần côn đồ này cũng được cho quyền đánh đập, mắng nhiếc và trả thù riêng đối với mọi loại dân chúng dưới họ, miễn là làm đúng và đủ theo các lệnh miệng của công an. Mọi khiếu nại về các hành vi côn đồ của thành phần này chỉ đến đồn công an là chấm dứt vì luôn phải chờ “công an mở cuộc điều tra”. Dưới sự bảo vệ đó, thành phần “công dân hạng nhì” đang xông vào nhiều trận chiến, từ vung gậy với dân oan, lên gối các ký giả, ném đồ dơ bẩn vào các nhà dân theo đơn đặt hàng, chạy theo đập kiếng xe các nhà dân chủ, dàn xếp các vụ xô xát để công an xông vào bắt một phía về tội “phá rối trật tự”, v.v… cho đến dàn hàng cùng công an để chận biểu tình. Thật là vô số công dụng.

Công dân hạng ba là thành phần đang hưởng lương bổng từ chế độ và được sai bảo đi làm việc trái với lương tâm bình thường của con người. Đó là những đại diện tổ dân phố, dân phòng, các đoàn thể thuộc Mặt Trận Tổ Quốc, những thành phần mang nhãn cựu chiến binh, cán bộ về hưu, v.v… Họ được sử dụng đi thuyết phục những người yêu nước đừng đi biểu tình chống Trung Quốc với điệp khúc “hãy để đảng và nhà nước lo”. Họ cũng lục tục theo lệnh kéo vào những cuộc đấu tố tại khu phố đối với những nhà dân chủ. Họ cũng là những “nhân dân” được điều động vào các buổi xử án chính trị “công khai” để ngồi cho đầy. Thân nhân và bạn bè của người bị xét xử không được vào vì lý do rất vô tư là “hết chỗ”. Một thí dụ điển hình gần đây là vụ các “thương binh hạng nặng” xông vào gây sự tại Viện Hán Nôm và không phê bình gì công việc của Viện, dù là Hán hay Nôm, mà chỉ nhất định đòi Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện phải đóng trang blog riêng của ông, không dính dáng gì đến Viện Hán Nôm. Loại công dân hạng ba này được cho quyền phỉ nhổ các nạn nhân lãnh tiền, miễn là theo đúng bài bản và trình tự do công an sắp xếp.

Và có lẽ còn nhiều hạng công dân sống dựa vào chế độ khác nữa.

Nhưng khá rõ ở tầng chót là đại khối nhân dân thứ thiệt còn lại. Đây là những công dân hạng bét, hay những người đã mất quyền công dân từ lúc chào đời dưới bóng chế độ. Đó cũng là những nạn nhân dự khuyết trong các cuộc đàn áp kết hợp của ba loại công dân cao nhất. Dù lúc nào cũng mang nhãn những người chủ của đất nước, các công dân hạng bét này có thể bị moi tiền, bị nạt nộ, bị bạt tai ngay giữa đường phố, bị lôi về đồn, và ngay cả bị bảo “tự tử”.

Lịch sử Việt Nam từng trải qua một giai đoạn tương tự, đó là dịch “kiêu binh” dưới thời Lê mạt. Thời ấy, vua Lê chỉ còn là hư vị, quyền bính rơi vào tay các Chúa Trịnh. Thoạt đầu, phủ Chúa chỉ dùng lính tuyển mộ từ vùng Thanh Hóa, Nghệ An làm lính riêng của mình và gọi đó là “ưu binh”. Sau khi thấy công trạng của mình đối với các Chúa Trịnh quá lớn, giới “ưu binh” dần dần trở thành “kiêu binh”, một loại công dân hạng nhất của Phủ Chúa chốn kinh kỳ. Kiêu binh bắt đầu ra “lệnh miệng” bất kể cả các luật lệ của Vua và Chúa, và đánh giết những ai không tuân các lệnh miệng đó. Có lúc họ đánh giết cả các quan lại triều đình và gia đình họ. Và vào giai đoạn chót, kiêu binh làm luôn việc chọn và đưa lên các Chúa mới.

Không chỉ lịch sử Việt Nam mà lịch sử cuả thế giới cũng đã chứng minh nhiều lần: Mọi đất nước sống dưới họa “kiêu binh” đều lụn bại trong yếu kém, và dễ trở thành mồi ngon cho ngoại bang xâm lấn.

Phạm Nhật Bình

________________________

(1) “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. (Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 của Hoa Kỳ)

(2) “Ném đá vào mặt công an viên, lãnh 18 năm tù” http://nld.com.vn/2012072404223164p0c1019/nem-da-vao-mat-cong-an-vien-lanh-18-nam-tu.htm

Công an còn hơn côn đồ nhưng được bao che

Vụ hành hung dã man phóng viên VOV ở Văn GiangNguyễn Đình Ấm: Đúng là khổ hơn chó thật. Võ Văn Tạo: Không khởi tố là chà đạp trắng trợn lên luật pháp.

Võ Văn Tạo – Chưa ngớt bức xúc trước vụ lực lượng cưỡng chế ở Văn Giang hành hung dã man 2 phóng viên của VOV hôm 24-4-2012, công luận trong và ngoài nước lại bị chọc giận không kém bởi tuyên bố mới đây của Phó giám đốc Công an tỉnh Hưng Yên – đại tá Nguyễn Văn Minh: sẽ không xử lý hình sự, mà sẽ chỉ xử lý hành chính.

Liên quan vụ hành hung kinh hoàng này, công luận đòi hỏi những kẻ đã hành xử như côn đồ, như dã thú điên cuồng phải bị trừng phạt nghiêm khắc nhất, mới mong ngăn chặn và giẩm thiểu xu thế nhân viên công lực ngày càng lạm dụng vũ lực hết sức trắng trợn.

Trên báo chí, nhiều chuyên gia phân tích: xét về tính chất vụ việc, để xử lý, có thể vận dụng các điều 104 (Tội cố ý gây thương tích), điều 257 (Tội chống người thi hành công vụ) hoặc điều 107 (Tội gây thương tích cho người khác trong khi thi hành công vụ) của Bộ luật hình sự hiện hành.

Theo Công an Hưng Yên, do 2 phóng viên VOV không có đơn yêu cầu khởi tố, nên không thể khởi tố theo điều 104. Vì luật hình sự quy định chỉ khởi tố theo tội danh “cố ý gây thương tích” khi bị hại có yêu cầu. Hai phóng viên cũng từ chối giám định thương tật, nên không thể khởi tố theo điều 107(Tội gây thương tích cho người khác trong khi thi hành công vụ),vì luật quy định thương tật phải 31% trở lên. Về lập luận này, Công an Hưng Yên đúng.

Vậy vụ hành hung chỉ có thể bị xem xét khởi tố theo điều 257 (Tội chống người thi hành công vụ).

Điều 257 – Bộ luật hình sự (Tội chống người thi hành công vụ) quy định:

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm :

a) Có tổ chức;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

Tranh luận về hành vi cản trở nhà báo tác nghiệp có phải là “chống người thi hành công vụ” hay không? Có người cho rằng chưa có điều luật nào cụ thể nào quy định như vậy. Nhiều chuyên gia cho rằng, nói như thế là ngụy biện. Phải hiểu rằng, mọi hành vi cản trở cán bộ, nhân viên cơ quan nhà nước đang thực thi công vụ đều là dấu hiệu của tội “chống người thi hành công vụ”. Tòa án đã xử và kết án nhiều vụ cản trở công an đang thực thi công vụ (căn cứ điều 257), mà không cần phải có một điều luật cụ thể quy định hành vi cản trở công an làm công vụ là chống người thi hành công vụ. Lẽ đương nhiên, các bản án ấy là đúng quy định pháp luật. Nếu không, đã bị hủy án. Không lẽ các nhà báo đi tác nghiệp là đang đi thi hành “tư vụ”?

Những ai còn “lăn tăn” chi tiết liệu lực lượng cưỡng chế có biết họ đang đánh phóng viên đang tác nghiệp? Xin hãy đọc lại bản tường trình của nạn nhân Nguyễn Ngọc Năm – trưởng phòng phóng viên Thời sự – Chính trị – Kinh tế (thuộc Trung tâm Tin của VOV).

Rõ ràng, hành vi hành hung dã man 2 phóng viên VOV mang đậm dấu hiệu của tội chống người thi hành công vụ.

Xét tính chất nghiêm trọng của vụ việc, chúng ta thấy: vụ hành hung có tổ chức (có chỉ huy và thừa hành), dùng hung khí nguy hiểm (dùi cui, gậy gộc), lại hết sức côn đồ (vô cớ, ngang ngược, chửi thề; biết là nhà báo, vẫn ra tay hết sức hung bạo), gây chấn động dư luận trong và ngoài nước – tác động rất xấu về chính trị – xã hội – đối ngoại…

Cố tình “ngâm tôm” vụ án, rồi tùy tiện tuyên bố không xử lý hình sự, phải chăng, Công an Hưng Yên đang ngang nhiên chà đạp trắng trợn lên luật pháp?

Phải nhớ rằng: không phải cứ khoác cái áo công an thì muốn “nhào nặn” pháp luật ra sao mặc lòng.

Điều 294 – Bộ luật hình sự (Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội) quy định:

1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Võ Văn Tạo

http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/07/vuhanh-hung-da-man-phong-vien-vov-o-van.html

*

Đúng là khổ hơn chó thật

Nguyễn Đình Ấm – Sau hôm hai nhà báo “quốc doanh” bị đánh ở Văn Giang( Hưng Yên) ngày 24/4/2012 các bloger viết bài nói “Nhà báo VN khổ hơn chó”. Bởi vì, con chó bị đánh còn dám “ẳng” một tiếng nhưng hai nhà báo Ngọc Năm và Phi Long của VOV bị truy đuổi, kêu thất thanh “tôi là nhà báo” nhưng vẫn bị đánh biến dạng cả ‘mặt tiền” rồi bị dẫn giải, giam hãm, thẩm vấn…nhưng không dám kêu ca, về tòa soạn vẫn cắn răng viết, đăng tin đúng “ định hướng”.

Theo dư luận ở VOV thì đây là kết quả của sự trao đổi, tính toán “nát óc” giữa ban tuyên giáo TƯ, lãnh đạo VOV và hai ký giả nhằm thủ tiêu những “ảnh hưởng xấu đến uy tín lãnh đạo, VOV cùng bát cơm, manh áo, tương lai của hai đương sự.

Thế nhưng, do hiện nay thông tin “nhậy cảm” kiểu trên không còn là độc quyền của hệ thống truyền thông “lề phải” và BBC đã phỏng vấn hai ký giả. Dù rất thận trọng đề phòng nhưng việc hai nhà báo bị đòn cũng được khẳng định. Lúc ấy lãnh đạo VOV, hai nạn nhân, công an Hưng Yên…mới công bố sự kiện và công văn, hứa trước dư luận “làm rõ, xử lý nghiêm…”. Nhưng ba tháng sau khi “điều tra” cái việc rõ như ban ngày, có băng video cả thế giới biết, kẻ đánh, người ăn đòn lè lè ra đó…CA Hưng Yên, Văn Giang mới có kết luận: “ Không xử lý hình sự hai CA và 3 dân phòng (điếu đóm) đánh người, chỉ xử lý hành chính vì “không đủ căn cứ”. Làm sao mà đủ “căn cứ” khi CA lại điều tra CA đánh nhà báo “cùng hội, cùng thuyền”? Đặc biệt, hai nhà báo từ chối đi khám thương, không yêu cầu xử lý hình sự kẻ đánh mình…

Khi mới xẩy ra sự việc tôi không đồng ý với việc gọi hai nhà báo VOV bị đánh “khổ hơn chó”. Nói thế là hơi nóng vội do con chó nó “ẳng” chỉ là vô thức, phản xạ bẩm sinh còn con người “ẳng” hay không là còn phải tính toán, lợi, hại… Biết đâu đây là một “khoảng lặng” để có bài giáng trả thích đáng đối với những kẻ côn đồ, làm thuê cho DN mặc áo CA? Nhưng nay khi hai nhà báo từ chối khám thương, yêu cầu không xử lý HS kẻ truy sát, hạ nhục, đánh mình biến dạng cả “mặt tiền” thì đúng là họ khổ không bằng con chó thật. Khổ hơn chó chính vì họ biết tính toán, lợi hại cho bản thân, cấp trên, cho cái mà họ dựa vào để có thể thăng quan, tiến chức, khai thác, kiếm được nhiều của cải trong xã hội một cách “hiệu quả” nhất? Còn cái pháp luật của VG, Hưng Yên có vẻ “nghiêm minh” vì không đủ căn cứ, bị hại từ chối đi khám thương nhưng điều đó không thuyết phục được ai. Đâu chỉ có “thương tích” mới xử lý HS? Bị hại không đi khám thương, yêu cầu không xử lý HS là “xong” ư? Có vụ người chỉ tát cảnh sát mà phải vào tù kia mà!… Vở diễn quá vụng về vì:

– Đây không hải chỉ là vấn đề thương tật đến bao nhiêu mà là hành vi điên loạn, dã man, tàn bạo của kẻ đánh người. Những kẻ mang danh người của nhà nước truy sát đánh đập dã man nhà báo tay không , đè dúi, đấm đá thục mạng vào người đàn bà còm cõi, thúc gối vào mạnh sườn, bụng người vô tội…mà không đáng lên án, trừng phạt hay sao?

– Không xử lý hình sự vụ đánh hai nhà báo còn do “tưởng nhà báo là dân”(báo NLĐ).VTV1 trong bản tin thời sự cũng nêu lý do nhà báo bị đánh “do không báo cáo với chỉ huy và đứng gần người dân quá khích”.

Các nhà báo, những người có lương tâm, có chút tôn trọng pháp luât, có lòng tự trọng, đặc biệt hai nhà báo Ngọc Năm (luật sư) và Phi Long nghĩ gì? Họ đã tường trình khi mình bị đánh đã gào lên “tôi là nhà báo” như thế nào mà nay phải chấp nhận những lời biện hộ đó? Đánh dân là được phép ư hỡi VTV1, hỡi pháp luật VN?… Thì ra, không chỉ có một ông Hà Minh Huệ, phó chủ tịch thường trực HNBVN “cần phải xem hai nhà báo hoạt động có đúng quy định không đã”. Như thế là các ông có luật riêng, không làm theo ý(quy định) các ông thì bị đánh cũng không oan.

Hai nhà báo VOV đã có lần nào đề cập với CA việc chị nông dân bị đánh tơi tả chỉ vì hô hoán “đừng đánh nhà báo” bênh vực mình? Chắc chắn là không vì ngay bản thân mình bị đánh nhục hơn con chó(vì khi người ta buộc phải cắt tiết con chó thịt ăn còn rất thương xót nó kia mà…) nhưng còn tạo mọi thuận lợi cho kẻ dã man khỏi bị phiền phức thì dân, đồng nghiệp khác…là cái gì?…Rồi đây các đồng nghiệp của hai anh bị đánh đến thế nào thì kẻ đánh mới đáng xử lý HS?…

Phải chứa chất trong tâm trí mình, dư luận, gia tộc, con, cháu sau này… cái kỷ niệm khốn nạn, nhục nhã, bất công, lố bịch kia… suốt cả cuộc đời, sự nghiệp chỉ vì trung thành với những thế lực, lợi ích cá nhân… thì đúng là khổ hơn chó thật.

Nguyễn Đình Ấm

http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/07/vuhanh-hung-da-man-phong-vien-vov-o-van.html

*

Tường trình của phóng viên Nguyễn Ngọc Năm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————

Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2012

BẢN TƯỜNG TRÌNH

(Vụ việc đánh phóng viên VOV tại Văn Giang, Hưng Yên ngày 24-04-2012)

Kính gửi: Lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam

Lãnh đạo Trung tâm Tin.

Tôi là Nguyễn Ngọc Năm, Trưởng phòng Phóng viên Thời sự Chính trị – Kinh tế, Trung tâm Tin xin trình bày sự việc bị lực lượng cưỡng chế đánh vào sáng 24/4/2012 tại xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên như sau:

Tôi được giao nhiệm vụ theo dõi, đưa tin, nắm tình hình để báo cáo vụ việc cưỡng chế ở huyện Văn Giang.

Ngày 23/4/2012, tôi tham gia buổi họp báo do Văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên tổ chức. Tại cuộc họp này, sau khi nghiên cứu thông cáo báo chí, tôi có một số câu hỏi trên tinh thần ủng hộ chủ trương của tỉnh, như: “Ngày nào tổ chức cưỡng chế? Công tác chuẩn bị như thế nào để đảm bảo an toàn tuyệt đối? Nhà báo đến tác nghiệp, đưa tin có được không? Với những đối tượng cầm đầu, lôi kéo, kích động thì phân loại, xử lý như thế nào?”.

Những câu hỏi của tôi đã được chủ trì họp báo trả lời và lãnh đạo các ban, ngành cùng nhiều đồng nghiệp dự họp báo đồng tình.

Ngày 24/4/2012, là ngày tiến hành việc cưỡng chế tại xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tôi tiếp tục được cử đến hiện trường nắm bắt thông tin, báo cáo tình hình để có tuyên truyền đúng định hướng.

Tôi chấp hành chỉ đạo của cấp trên, đồng thời cử phóng viên Hán Phi Long đi cùng bằng xe máy, đến Xuân Quan lúc khoảng 9h00.

Chúng tôi vào hành lang Nhà văn hóa thôn 1, xã Xuân Quan (nơi đang tụ tập đông người). Nhà văn hóa thôn (đang ở giai đoạn hoàn thiện) liền kề Nghĩa trang liệt sĩ là nơi giáp ranh giữa khu dân cư với cánh đồng đang bị cưỡng chế. Chúng tôi đứng quan sát một bên là hàng rào cảnh sát (đứng chắn ở gần cổng nghĩa trang liệt sĩ); một bên là vài trăm người dân (đứng ngoài đường trước cửa nhà văn hóa thôn 1). Hàng rào cảnh sát ngăn cản không cho mọi người ra đồng. Một nhóm người ném gạch đá vào hàng rào cảnh sát liên tục. Nhưng lực lượng cảnh sát chỉ giơ khiên đỡ mà chưa có hành động chống trả nào.

Tôi thấy tình hình khá phức tạp nên dùng điện thoại di động quay cảnh những người quá khích hò hét, ném gạch với thời lượng 33 giây rồi cất máy vào túi. Chúng tôi tiếp tục đứng tại hành lang nhà văn hóa thôn cách đám đông tụ tập ở đường làng chừng hơn 20 mét.

Sau thời gian tấn công lực lượng cưỡng chế bằng gạch đá chưa đạt kết quả, nhóm người này lại ném “bom xăng”. Lực lượng cưỡng chế buộc phải nổ pháo. Đám đông tán loạn, còn lực lượng cưỡng chế từ phía cổng nghĩa trang liệt sĩ bắt đầu tiến lên.

Tôi vẫn đội mũ bảo hiểm màu trắng mang tên “Bảo Minh” đứng tại hành lang nhà văn hóa thôn 1, thì thấy một nhóm cảnh sát và người mặc thường phục đeo băng đỏ đi vào nghĩa trang liệt sĩ và nhảy qua hàng rào nghĩa trang để sang khu vực nhà văn hóa thôn. Lúc đó tôi nhìn thấy phóng viên Hán Phi Long vẫn đội mũ bảo hiểm đang đứng trên bờ móng nhà văn hóa thôn, tay cầm một máy ảnh du lịch.

Đi đầu nhóm cưỡng chế là hai công an đến bên Phi Long hỏi gì đó, rồi ngay lập tức xốc nách Long về sát chân tường nghĩa trang liệt sĩ. Liền đó, một người đeo băng đỏ giật máy ảnh của Long; khoảng gần chục người dùng dùi cui, gậy vụt vào người; liên tiếp đấm đá anh Long rất mạnh. Thấy vậy, tôi đứng trong hành lang nhà văn hóa thôn, dùng điện thoại để quay hình ảnh này. Nhưng chỉ quay được khoảng 10 giây, tôi thấy Long ôm bụng gục xuống. Theo phản xạ tự nhiên, tôi dừng quay, chạy lại phía lực lượng cưỡng chế và hét lên nhiều lần: “Chúng tôi là nhà báo, sao các anh lại đánh chúng tôi? Chúng tôi là nhà báo, không được đánh …”.

Khi chạy tới nơi lực lượng cưỡng chế, tôi lại nói nhiều lần “Chúng tôi là nhà báo làm nhiệm vụ, các anh đừng đánh…”. Họ không những không nghe mà còn vặn hai tay tôi về phía sau, dùng gậy, dùi cui đánh vào người, đấm đá vào mặt, vào ngực tôi. Lúc đó tôi lại tiếp tục hét lên nhiều lần “Tôi là nhà báo, sao lại đánh tôi?”. Nhưng có người trong nhóm người cưỡng chế còn chửi “Đ. M mày! Nhà báo cũng đánh cho chết mẹ mày đi”. Tôi bị mấy người vặn tay về phía sau, dẫn giải về trước cửa nghĩa trang liệt sĩ và tiếp tục đánh hội đồng. Một công an nói lớn “Đừng đánh vào mặt nó”… rồi tôi bị còng tay số 8, mũ bảo hiểm rơi mất lúc nào không biết.

Còng tay tôi xong, một trung úy (cao, béo) và một thiếu úy (thấp, gầy) áp giải tôi đi theo hướng cánh đồng đang bị cưỡng chế, đến một con đường hai bên trồng tre để chờ xe thùng tới chở đi. Trên đường đi, tôi gặp một số sĩ quan đeo lon thượng tá, trung tá liền nói “tôi là nhà báo” nhưng họ lặng thinh. Một chiếc camera của lực lượng cưỡng chế đã ghi lại hình ảnh tôi bị còng tay số 8 và hai sĩ quan công an áp giải.

Đợi khoảng hơn 10 phút, tôi bị đưa lên xe thùng cùng với một phụ nữ khoảng ngoài 40 tuổi và một thanh niên 20 tuổi. Cả ba chúng tôi bị còng. Khi lên xe, vị Trung úy áp giải tôi định thu điện thoại của tôi. Nhưng tôi nói “Nếu thu điện thoại của tôi anh phải lập biên bản, vì tôi không biết anh là ai, tên là gì. Điện thoại tôi mất thì ai phải đền? Tôi lại đang bị còng thế này”. Thế là vị Trung úy nọ phải trả lại điện thoại vào túi áo ngực cho tôi.

Ngay khi tôi ở trên xe, nhận được điện thoại của anh Phi Long (trước đó đã gọi mấy cuộc nhưng tôi không được nghe máy). Sau này tôi được biết, Phi Long bị đánh đau, được mấy người can và khi tôi xuất hiện thì họ bỏ Long lại để tấn công tôi, nên Phi Long chạy thoát vào một nhà vệ sinh gần đấy với nhiều vết sưng tím trên mặt và vệt máu loang cả ra quần áo. Tôi nhờ chị phụ nữ lấy điện thoại ra và nói cho Long biết: “Anh bị bắt về Công an huyện Văn Giang. Em về Công an huyện đi”.

Trên xe, chị phụ nữ cho tôi biết “thấy chúng tôi bị đánh đập vô cớ, chị chạy theo thì bị bắt”. Còn thanh niên kia nói rằng, chị gái anh ta muốn đi lấy chồng nhưng do gia đình không chịu nhận tiền đền bù nên không được đăng ký kết hôn. Cả hai đều nói là họ không có hành động gì, bị bắt oan.

Tôi được đưa đến trụ sở Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang. Ngay khi biết tôi là nhà báo, cảnh sát đã tháo còng số 8, lập biên bản tạm thu điện thoại và giấy tờ của tôi (gồm Thẻ Nhà báo; Thẻ Đảng viên; Chứng minh nhân dân; Thẻ hội viên hội luật gia Việt Nam).

Lấy lời khai của tôi là một Thượng tá (không đeo biển hiệu công an) tự xưng tên là Tần. Với thái độ hết sức kiềm chế, bình tĩnh, tôi đã khai đúng như những gì tường trình ở trên. Nói rõ mục đích đến Xuân Quan là để nắm tình hình cho định hướng tuyên truyền và khẳng định “Tôi là một nhà báo được cử đi làm nhiệm vụ, tôi không có gì sai. Mặt khác, với việc cưỡng chế diễn ra công khai, thì nhà báo đến chứng kiến không có gì sai?”.

Ngoài “Biên bản ghi lời khai”, tôi còn phải làm một BẢN TƯỜNG TRÌNH. Tôi vẫn tường trình đúng sự việc như vừa nêu. Trong đó có yêu cầu phía công an: “Tìm ra những người đã trấn áp, đánh đập chúng tôi; Cùm tay và áp giải tôi như tội phạm hình sự nguy hiểm; Có trách nhiệm bồi thường tính mạng, sức khỏe chúng tôi nếu có gì xảy ra…”. Tôi còn nhớ trong bản tường trình viết rất rõ: “Bây giờ là 13 giờ ngày 24/4/2012, tôi không đủ bình tĩnh và thoải mái hoàn toàn như lúc bình thường, nên những gì trình bày mới chỉ là ban đầu. Có chi tiết nào chưa nhớ ra, tôi xin bổ sung sau”. Tiếp đó tôi xin phép gọi điện thoại cho Phi Long, bảo Long sang trụ sở Viện kiểm sát để trình bày sự việc.

Khi tôi trình bày xong, cũng là lúc phóng viên Phi Long tới trụ sở Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, gặp Công an để tường trình toàn bộ sự việc với một điều tra viên khác.

Chúng tôi được gặp nhau sau khi việc lấy lời khai kết thúc. Sau đó, có hai bác sĩ được cử đến để khám tình trạng thân thể của chúng tôi (có biên bản do công an giữ). Tôi thấy mặt, miệng Phi Long sưng vù; máu vẫn rỉ ra khóe miệng; quần và áo đều dính nhiều vết máu. Sau đó, chúng tôi được “mời” đi bộ sang trụ sở Công an huyện Văn Giang.

Khoảng hơn 13 giờ, chúng tôi được “mời” ăn cơm hộp với công an. Phi Long đau miệng không ăn được cơm nên công an mua sữa để uống.

Đầu giờ chiều, tôi lại được một Thiếu tá (không đeo biển hiệu) lấy lời khai lần thứ hai. Anh tự xưng tên là Tiến (đội trưởng đội trọng án). Trước khi lấy lời khai, anh Tiến “xin được tâm sự” khá dài …với tôi.

Trong lần lấy lời khai này, tôi được anh Tiến hỏi “Anh có thấy chúng tôi cắm biển cấm quay phim, chụp ảnh không?” Tôi trả lời “Không thấy! Và nếu có thì việc làm đó là không đúng luật, vì không ai cấm quay phim, chụp ảnh ở khu dân cư cả? Mặt khác, khi tôi đến thôn 1, phía sau những người tụ tập, thì mọi sinh hoạt vẫn diễn ra bình thường”.

Hỏi “Tỉnh Hưng Yên đã cấm báo chí, anh thấy như thế nào?”. Trả lời “Tôi không bình luận gì về việc cấm đó của tỉnh Hưng Yên”.

Hỏi “Sao anh đã đi họp báo, biết là cấm mà anh vẫn đến?”. Tôi trả lời “Tôi được tiếp nhận thông tin tại họp báo là, để đảm bảo an toàn, các nhà báo không nên đến khu vực cưỡng chế. Mặt khác, tôi không đến khu vực cưỡng chế ngoài cánh đồng, mà đến khu dân cư. Và, tôi không thấy bất cứ một văn bản nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấm nhà báo hoạt động khu vực này. Tại cuộc họp báo, đã có 2 nhà báo cho rằng, không để nhà báo đến đưa tin là vi phạm luật báo chí, nhưng phía chủ trì họp báo không đưa ra kết luận nào cả”.

Hỏi “Sao đã cấm, anh còn quay phim?”. Tôi trả lời “Tôi quay phim bằng điện thoại di động là theo yêu cầu nghề nghiệp để báo cáo tình hình. Thời lượng quay chỉ từ 20 đến 30 giây, trong khi máy điện thoại của tôi có thể quay hàng giờ đồng hồ. Như vậy mục đích quay phim của tôi đã rõ”.

Hết phần lấy lời khai, theo đề nghị của tôi, anh Tiến đồng ý đưa giấy cho tôi viết “ĐƠN ĐỀ NGHỊ” gửi ông Giám đốc Công an tỉnh Hưng Yên. Trong đơn tôi trình bày sơ qua sự việc và có ba yêu cầu:

Thứ nhất: Lãnh đạo Công an tỉnh Hưng Yên cần có buổi làm việc với lãnh đạo của chúng tôi để làm rõ sự việc. Ai có lỗi phải chân thành nhận lỗi, rút kinh nghiệm. (Tìm ra ai là người đánh chúng tôi, ai là người ra lệnh?).

Thứ hai: Có trách nhiệm (bồi thường) sức khỏe, danh dự của chúng tôi, nhất là với phóng viên Hán Phi Long.

Thứ ba: Kiểm điểm, rút kinh nghiệm sâu sắc đối với lực lượng cưỡng chế. Nếu không, những vụ cưỡng chế tương tự sẽ trấn áp tràn lan, gây hậu quả xấu.

“ĐƠN ĐỀ NGHỊ” của tôi đưa cho anh Tiến sau buổi làm việc.

Sau đó, tôi đề nghị Công an đưa Phi Long đi chiếu chụp tại Trung tâm y tế Văn Giang. Yêu cầu này được chấp thuận vào cuối giờ chiều hôm đó. Chúng tôi được nhận lại tài sản như điện thoại, máy ảnh, các giấy tờ tùy thân. Họ yêu cầu tôi xóa 2 đoạn clip trong máy điện thoại (33 giây quay lúc 9h23 phút và đoạn 10 giây quay lúc 9h28 phút).

Trong lúc anh Phi Long đi chụp phim, từ trụ sở Công an huyện Văn Giang, tôi đã gọi điện báo cáo sự việc với đồng chí Giám đốc Trung tâm Tin, Nguyễn Hoài Thu.

Sau khi anh Phi Long đi chiếu chụp về, anh Tiến (Thiếu tá, đội trưởng đội trọng án); Anh Hồng (thượng tá, Trưởng phòng Cảnh sát hình sự) đã xin lỗi chúng tôi về sự việc diễn ra buổi sáng. Chúng tôi về đến cơ quan lúc 19 giờ ngày 24-04-2012. Tôi đi mua cho Long một chiếc áo sơ-mi để thay chiếc áo có nhiều vết máu trước khi về nhà.

Lúc 21 giờ, tôi báo cáo toàn bộ sự việc với đồng chí Vũ Hải như báo cáo đồng chí Nguyễn Hoài Thu lúc buổi chiều.

Kính thưa các đồng chí!

Những ngày sau, phóng viên Phi Long phải nghỉ ở nhà điều trị vết thương và bớt căng thẳng. Tôi vẫn đi làm bình thường, tuy có đau một chút ở phần mềm. Chúng tôi rất bình tĩnh, cố gắng không để sự việc xấu thêm. Tuy nhiên, ngày hôm sau, trên rất nhiều trang mạng đã truyền nhau đoạn Clip công an đánh chúng tôi. Một số phóng viên báo khác đã biết, hai người bị đánh trong Clip là phóng viên VOV.

Ngày 26-04-2012, tôi có gọi điện cho một số vị lãnh đạo ở Hưng Yên. Trong đó, Giám đốc Công an, ông Trần Huy Ngạn nói rằng chưa nhận được đơn của tôi; Ông Chánh văn phòng UBND tỉnh Bùi Huy Thanh và Chánh văn phòng Tỉnh ủy Nguyễn Văn Doanh hứa sẽ báo cáo lãnh đạo tỉnh về sự việc này. Sau đó, tôi có gọi điện cho Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Văn Cường và Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Thông, nhưng cả hai vị không nghe máy.

Qua sự việc này, tôi đề xuất: Đài TNVN cần tỏ rõ thái độ mềm dẻo, nhưng kiên quyết đối với sự việc phóng viên của Đài bị hành hung. Cụ thể:

– Nếu ĐƠN ĐỀ NGHỊ của tôi với Công an Hưng Yên được thực hiện và lãnh đạo công an tỉnh Hưng Yên lên Hà Nội làm việc, thì Lãnh đạo Trung tâm Tin tiếp và giải quyết.

– Nếu ĐƠN ĐỀ NGHỊ của tôi với Công an Hưng Yên không được thực hiện, thì lãnh đạo Đài TNVN, Liên chi hội nhà báo Đài TNVN có công văn gửi Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hưng Yên đề nghị tổ chức một buổi làm việc. Trong đó làm rõ: Những ai đã hành hung phóng viên? Ai là người ra lệnh? Cần rút kinh nghiệm thế nào? Xử lý vấn đề ra sao?

Nội dung làm việc trên tinh thần xây dựng, với mục đích bảo vệ những phóng viên khác khi hoạt động ở cơ sở, đồng thời nâng cao và bảo vệ uy tín của Đài TNVN.

Kính mong các đồng chí xem xét, cho ý kiến.

Advertisements