Thời khắc trỗi dậy của quân đội Trung Quốc ở Biển Đông?

Posted on July 31, 2012

0



Cánh cửa cơ hội đang khép lại đối với vấn đề Biển Đông. Liệu Bắc Kinh sẽ gây xung đột?

Bị lóa mắt bởi trữ lượng dầu khí dưới biển và sự yếu thế của miền Nam Việt Nam, Trung Quốc đã phát động một cuộc tấn công quân sự để cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa. Để biện minh cho hành động của mình, Bắc Kinh viện dẫn lịch sử, chủ yếu là chuyến đi của Đô đốc Trịnh Hòa thời Minh vào thế kỉ 15 – trong khi tiếp tục rình rập cơ hội để áp đặt cái gọi là “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với hầu như toàn bộ Biển Đông.

Các tàu thuyền Trung Hoa mang theo lực lượng đổ bộ từ khu vực gần đảo Hải Nam đã nổ súng tấn công đội tàu nhỏ của miền Nam Việt Nam vốn đã bị mất sự yểm trợ của không quân. Một chiếc tàu hộ vệ của Việt Nam đã nằm lại dưới đáy biển Đông sau trận chiến kéo dài cả ngày. Cờ Trung Quốc đã bay trên quần đảo Hoàng Sa.

Đó là kịch bản của cuộc giao tranh xảy ra vào ngày 17/1/1974.

Di ảnh chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hy sinh trong trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974

Lịch sử có thể không lặp lại một cách chính xác nhưng chắc chắn có nhiều điều trùng hợp. Trở lại quá khứ, Trung Quốc đã khai thác điểm yếu của Việt Nam Cộng hòa để cưỡng chiếm Hoàng Sa. Giờ đây, Quân giải phóng Trung Quốc (PLA) đã công bố kế hoạch thành lập quân đội đồn trú ở cái gọi là Tam Sa, thành phố mới được thành lập trên 0,8 dặm vuông của đảo Woody, quần đảo Hoàng Sa. Chính thức thành lập vào ngày 24/7, Tam Sa sẽ đóng vai trò như là trung tâm hành chính của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển xung quanh.

Đây là bước đi mới nhất trong chiến dịch củng cố yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với toàn bộ vùng biển và đảo nằm trong cái gọi là “đường chín đoạn” gần như ôm trọn cả Biển Đông, bao gồm cả phần lớn diện tích vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các quốc gia Đông Nam Á. Cũng trong tháng này, một tàu khinh hạm của Trung Quốc đã bị mắc cạn trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippine sau khi được cho là đã xả súng vào ngư dân của nước này. Vụ việc xảy ra tiếp sau tuyên bố cuối tháng Sáu rằng các đơn vị hải quân của PLA sẽ bắt đầu thực thi tuần tra và sẵn sàng chiến đấu ở các vùng biển tranh chấp

Bắc Kinh đang tìm cách sử dụng vũ khí của mình một lần nữa. Tuy nhiên, lần này khác với năm 1974, lãnh đạo Trung Quốc thực hiện sách lược này vào đúng thời điểm ngoại giao hòa bình dường như đang đem đến cho họ cơ hội tốt để giành lấy ưu thế mà không phải sử dụng vũ lực. Tôi gọi sách lược này là “ngoại giao cây gậy nhỏ” – ngoại giao pháo hạm nhưng lại không biểu dương pháo hạm một cách công khai.

Các chiến lược gia Trung Quốc có một tầm nhìn rất rộng về sức mạnh trên biển – bao gồm cả việc phát triển đội tàu phi quân sự. Vào năm 1974, các cỗ máy tuyên truyền đã tô vẽ cuộc “Chiến tranh phòng vệ Hoàng Sa” (cách mà Trung Quốc nhìn nhận về cuộc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) như là chiến thắng của “hải quân nhân dân”, tâng bốc lên mây những ngư dân đã hành động như những người phụ tá cho hải quân. Các tàu đánh cá có thể đến hiện trường và thực hiện các hành vi khiêu khích để các đối phương phải đáp trả hoặc từ bỏ chủ quyền của họ theo mặc định. Những con tàu phi vũ trang từ các cơ quan kiểu như phòng vệ bờ biển là bước tiếp theo. Và hạm đội hải quân của PLA, được yểm trợ bằng máy bay chiến thuật từ bờ, tên lửa, tàu chiến trang bị tên lửa tấn công và tàu ngầm sẽ là bước đi cuối cùng.

Bắc Kinh có thể củng cố khả năng kiểm soát của mình trong “đường chín đoạn” bằng cách phái các đội tàu hải giám, tàu ngư chính, tàu chấp pháp để bảo vệ ngư dân nước này tại các vùng biển tranh chấp, uy hiếp các nước tuyên bố chủ quyền khác và áp đặt luật pháp của Trung Quốc. Và họ có thể làm như vậy mà không công khai bắt nạt các láng giềng yếu thế hơn, do đó không cho các cường quốc bên ngoài có cớ để can thiệp hoặc phung phí vị thế quốc tế của họ trong đống hỗn độn và thống khổ của xung đột vũ trang. Tại sao lại từ bỏ một chiến lược đầy hứa hẹn như vậy?

Bởi vì ngoại giao cây gậy nhỏ cần nhiều thời gian. Nó đòi hỏi phải tạo ra những sự kiện trên thực địa – như cái gọi là Tam Sa vừa qua – đồng thời thuyết phục được những người khác rằng sẽ vô ích nếu thách thức các sự kiện này. Bắc Kinh có động cơ, phương tiện và cơ hội để giải quyết tranh chấp Biển Đông theo các điều khoản của mình, nhưng họ có thể thấy cơ hội này chỉ là mong manh. Các nước tuyên bố chủ quyền như Việt Nam đang gia tăng vũ trang. Việt Nam có thể mua sắm các phương tiện quân sự đủ sức đánh bại mối đe dọa của Trung Quốc, hoặc chí ít cũng dồn Trung Quốc vào thế phải trả giá đắt cho sự áp đặt ý chí của mình. Trong khi đó, các nước Đông Nam Á đang tìm kiếm sự giúp đỡ từ các cường quốc bên ngoài như Mỹ. Mặc dù Hoa Kỳ tuyên bố không đứng về bên nào trong tranh chấp hàng hải nhưng về mặt tự nhiên, Hoa Kỳ giữ mối thiện cảm với các quốc gia Đông Nam Á. Một số nước như Philippines là đồng minh, trong khi các chính quyền Mỹ liên tục phát triển quan hệ hữu nghị với Việt Nam.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc, bởi vậy có thể tin rằng họ phải hành động ngay bây giờ hoặc sẽ mãi mãi đánh mất cơ hội củng cố quyền kiểm soát đối với toàn bộ Biển Đông. Những phương pháp trực tiếp hơn được xem như là hành động ít tổn hại nhất – bất kể chi phí, sự mạo hiểm hay nguy cơ trả đũa ngoại giao mà chúng có thể gây ra trong ngắn hạn.

Bắc Kinh có thể sẽ kết luận rằng ngoại giao kiên nhẫn chờ thời sẽ chấm dứt sứ mệnh của nó ở Biển Đông. Trong con mắt của người Trung Quốc, giờ tốt hơn cả là hành động và chiếm đoạt trước để giành ưu thế trong cuộc cạnh tranh.

Các mưu đồ của Trung Quốc đối với Biển Đông được thực thi gần như xuyên suốt qua hàng thập kỷ. Bản đồ đường chín đoạn đã được vẽ từ những năm 40 của thế kỷ 20 chứ không phải mới được tưởng tượng ra trong những năm gần đây. Chính quyền Tưởng Giới Thạch đã cho xuất bản tấm bản đồ này trước khi đào thoát sang Đài Loan và chính quyền cộng sản Trung Quốc đã kế thừa nó.

Hiện nay cũng như trước kia, tấm bản đồ thể hiện gần trọn lợi ích và tham vọng của Trung Quốc. Trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên nằm dưới đáy biển đã ám ảnh nhiều người – đặc biệt là Đặng Tiểu Bình, cha đẻ của chương trình cải cách và mở cửa kinh tế của Trung Quốc. Xăng dầu và các nguyên liệu thô cho đến nay vẫn đóng vai trò sống còn đối với chương trình phát triển đất nước mà Đặng đã phát động cách đây ba thập kỷ.

Động cơ ngăn chặn sự bao vây của siêu cường cũng ảnh hưởng tới chiến lược của Trung Quốc. Cuối thập kỷ 70, Đặng đã đi tới chỗ tin rằng Liên Xô đang theo đuổi “chiến lược quả tạ”, được thiết kế nhằm đưa hải quân Liên Xô trở thành lực lượng thống trị ở Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương. Eo biển Malacca trở thành rào chắn giữa hai sân khấu. Để kết nối chúng, Moscow đã thương lượng để giành quyền đồn trú ở Cam Ranh và Đà Nẵng. Bắc Kinh tin rằng sự kiện trên báo hiệu cho một liên minh Việt – Xô. Do đó, PLA đã phát động một cuộc chiến tranh xâm lược qua biên giới Việt Nam vào năm 1979, chủ yếu nhằm mục đích làm bẽ mặt Moscow với tư cách người bảo vệ của Hà Nội.

Giờ đây, Bắc Kinh cũng có thể nhìn nhận chiến lược hải dương của Hoa Kỳ năm 2007 như một sự trở lại “chiến lược quả tạ” của Moscow năm xưa – nhằm mục tiêu duy trì và mở rộng vị thế độc tôn của Hoa Kỳ ở Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. (Chiến lược hàng hải Hoa Kỳ 2007 là tuyên bố chính thức của Hải quân, lực lượng lính thủy đánh bộ và Phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ về việc các lực lượng biển nước này đánh giá như thế nào về môi trường chiến lược và sẽ quản lý nó ra sao – NV). Các chiến lược gia Trung Quốc liên tục tỏ ra bực bội với sự bao vây của Mỹ, đặc biệt là khi Mỹ tuyên bố xoay trục về châu Á. Đối với Trung Quốc thì dường như kịch bản xưa cũ nay đã trở lại.

Chúng ta cũng không nên bỏ qua một điều rằng thể diện cũng là một động cơ phía sau các hành động của Bắc Kinh. Lấy lại thể diện và danh dự của Trung Quốc sau “một thế kỷ bị sỉ nhục” trong tay những kẻ chiếm đóng đã trở thành nguồn năng lượng cho các hành động của Trung Quốc vào năm 1974 và 1979. Tâm thức này vẫn còn nguyên vẹn đến ngày nay. Biển tạo ra một phần của cái mà người Trung Hoa xem như là vùng ảnh hưởng lịch sử của đất nước họ. Do đó, họ cho rằng Trung Quốc phải trở nên vượt trội ở những khu vực bành trướng này.

Những kỳ vọng đang cao ngất trời trong dân chúng Trung Quốc. Khi đã thường xuyên mô tả các yêu sách lãnh thổ biển của mình như là chủ quyền không thể tranh cãi, đánh cược uy tín của đất nước vào việc tranh giành quyền kiểm soát những khu vực tranh chấp và kích động tình cảm dân chúng với tầm nhìn về một cường quốc hải dương hùng mạnh, các lãnh đạo Trung Quốc sẽ đẩy các yêu sách của họ trở lại vùng nguy hiểm. Bởi thế mà họ phải giải tỏa chúng, bằng cách này hay cách khác.

Và họ có các phương tiện để làm như vậy. Trung Quốc đã tích lũy được sức mạnh quân sự và hải quân vượt trội so với bất kỳ đối thủ nào ở Đông Nam Á. Philippines không có lực lượng không quân đáng để nói đến, trong khi những con tàu phòng thủ bờ biển già cỗi của Hoa Kỳ để lại là những tàu chiến mạnh nhất của họ. Ngược lại, Việt Nam, có chung biên giới với Trung Quốc và sở hữu một quân đội có sức mạnh ghê gớm. Năm ngoái, Hà Nội đã công bố kế hoạch củng cố sức mạnh hải quân của mình thông qua dự án mua 6 tàu ngầm lớp Kilo của Nga. Các tàu ngầm này được vũ trang ngư lôi và tên lửa hành trình chống tàu. Một phi đội Kilo sẽ mang đến cho hải quân Việt Nam năng lực “đánh phủ đầu trên biển” . Nhưng Nga vẫn chưa bàn giao tàu ngầm cho Việt Nam, nghĩa là hiện nay Hà Nội chỉ có thể chống chọi yếu ớt với bất kỳ cuộc tấn công hải quân nào của Trung Quốc. Do đó, Trung Quốc càng có thêm lý do để nỗ lực giữ chặt những thắng lợi của mình trước khi các đối thủ Đông Nam Á bắt đầu đáp trả một cách hiệu quả.

Vì vậy, cánh cửa cơ hội cho đến nay vẫn đang mở ra cho Bắc Kinh. Ngoại giao Trung Quốc gần đây đã đẩy lùi được nỗ lực đoàn kết ASEAN để xây dựng một bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông. Washington mới đây đã công bố chiến lược “tái cân bằng” của hải quân Mỹ, theo đó sẽ chuyển 60% các hạm đội đến Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Mặc dù vậy, chiến lược tái cân bằng vẫn đang là một nỗ lực khiêm tốn. Thực tế là hơn một nửa lực lượng hải quan Hoa Kỳ đang hiện diện ở khu vực này rồi, và sự tái cân bằng sẽ diễn ra theo tiến độ từ từ trong vòng 8 năm tới.

Cũng như vậy, bốn chiếc tàu chiến Mỹ sẽ cập bến Singapore (chiếc đầu tiên dự kiến sẽ đến vào mùa xuân tới) sẽ giúp tái cân bằng ở Đông Nam Á. Những chiếc tàu này không được thiết kế để chiến đấu chống lại đội tàu của hải quân PLA. Nhưng một khi đã xác lập được nguyên tắc mà hầu hết hải quân Mỹ nên gọi Thái Bình Dương và Châu Á là nhà, Washington sẽ luôn có khả năng tăng tốc tiến trình tái cân bằng, dịch chuyển nhiều lực lượng sang đây và thậm chí có thể thương lượng với các nước để lập căn cứ đồn trú quân sự. Bắc Kinh hiểu rất rõ điều này.

Bắc Kinh có thể sẽ kết luận rằng ngoại giao kiên nhẫn chờ thời sẽ chấm dứt số mệnh của nó ở Biển Đông. Trong con mắt của người Trung Quốc, giờ tốt hơn cả là hành động và chiếm đoạt trước để giành ưu thế trong cuộc cạnh tranh. Bài học của năm 1974: Thời gian là tất cả.

Advertisements