Việt Nam cần tích cực phá vỡ âm mưu chia rẽ ASEAN của Trung Quốc

Posted on September 3, 2012

0



Lính Hải quân Việt Nam trên một hòn đảo thuộc Quần dảo Trường Sa. Ảnh chụp ngày 16/04/2010
REUTERS/Stringer

Chưa bao giờ vấn đề đoàn kết của ASEAN trên hồ sơ Biển Đông lại được chú trọng như hiện nay. Vào lúc Hoa Kỳ tìm cách hỗ trợ nỗ lực của Indonesia trong việc gắn kết khối Đông Nam Á trở lại, Trung Quốc lại có dấu hiệu tiếp tục chiến lược chia rẽ, để ngăn chặn việc hình thành mặt trận thống nhất chống lại các hành vi lấn lướt của Bắc Kinh. Theo giới quan sát, Việt Nam – nạn nhân số một của Trung Quốc trên Biển Đông – cần phải năng nổ hơn trong việc tạo điều kiện cho khối ASEAN đoàn kết lại.

Biển Đông trong tuần này sẽ nổi lên thành một chủ đề lớn tại châu Á với chuyến ghé thăm Indonesia bắt đầu từ hôm nay 03/09/2012 của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, được tiếp nối bằng hai chặng ngừng sau đó là Trung Quốc và Brunei. Ngay từ trước lúc bà Clinton lên đường, Bộ Ngoại giao Mỹ đã loan báo rằng lãnh đạo của họ sẽ tranh thủ mọi cơ hội thích hợp nhân vòng công du lần này để đề cập đến tình hình căng thẳng tại Biển Đông.

Tại Jakarta, Ngoại trưởng Mỹ sẽ khẳng định lập trường ủng hộ mạnh mẽ bộ quy tắc ứng xử do khối ASEAN dự trù, nhằm giảm bớt căng thẳng đang gia tăng tại Biển Đông. Theo một quan chức Mỹ cao cấp trong phái đoàn của bà Clinton vào hôm qua, mong muốn của Mỹ là « củng cố sự đoàn kết của ASEAN để tiến về phía trước ». Bà Clinton cũng sẽ đề nghị khối Đông Nam Á yêu cầu Trung Quốc chấp thuận một cơ chế chính thức để giảm bớt rủi ro xung đột nhằm tiến tới một giải pháp dứt điểm cho các tranh chấp chủ quyền.

Sự kiện Hoa Kỳ thúc đẩy khối ASEAN tăng cường đoàn kết không phải là ngẫu nhiên, sau khi tình trạng chia rẽ của giữa các nước Đông Nam Á trên vấn đề tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc đã bộc lộ công khai tại Hội nghị các Ngoại trưởng ASEAN ở Phnom Penh vào tháng 07/2012.

Theo đa số các nhà quan sát, Trung Quốc đã thành công trong việc mượn tay Cam Bốt để ngăn chặn mọi tuyên bố chính thức của ASEAN về các hành vi gây căng thẳng ở Biển Đông mà chính Bắc Kinh là tác giả. Và cho đến hôm qua, 02/09, Trung Quốc – qua lời Thủ tướng Ôn Gia Bảo, cũng vẫn ca ngợi Cam Bốt trong « vai trò quan trọng trong việc duy trì quan hệ hữu hảo giữa Trung Quốc và ASEAN ».

Đối với các nhà phân tích, khi ca ngợi vai trò của Phnom Penh, Bắc Kinh vẫn bộc lộ ý đồ muốn tiếp tục gây phân hóa trong nội bộ ASEAN.

Hành động « móc ngoặc » giữa Trung Quốc và Cam Bốt liên tiếp bị vạch trần

Trong bài “ASEAN khổ nhọc để duy trì sự đoàn kết” (ASEAN struggles for unity), đăng trên The Phnom Penh Post tại Cam Bốt ngày 23/07/2012, ký giả Roger Mitton đã tiết lộ : « Khi dự thảo đầu tiên của bản thông cáo chung được nộp lên cho Chủ tịch ASEAN (là Cam Bốt), trong một hành động vi phạm quy tắc của ASEAN, phía Cam Bốt đã cho Trung Quốc xem ngay. (Sau khi) Trung Quốc nói rằng dự thảo đó không thể chấp nhận được trừ phi vấn đề biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông) ghi trong văn kiện được xóa bỏ, Cam Bốt đã gửi trả lại bản dự thảo để được sửa đổi ».

Được biết là ban soạn thảo bản dự thảo này bao gồm các Ngoại trưởng Marty Natalegawa (Indonesia), Anifah Aman (Malaysia), Albert del Rosario (Philippines) và Phạm Bình Minh (Việt Nam).

Cam Bốt luôn luôn bác bỏ các thông tin về việc họ chiều lòng Trung Quốc để nhận chìm hồ sơ Biển Đông. Tuy nhiên nhật báo Anh Financial Times ngày 15/08/2012 đã trích lời Trần Hướng Dương (Chen Xiang Yang), chuyên gia nghiên cứu thuộc Học viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc CICIR, xác định thẳng thừng : « Chúng tôi đã phối hợp rất tốt với Cam Bốt trong trường hợp đó… để ngăn chặn một vụ việc có thể gây bất lợi cho Trung Quốc ».

Việt Nam phải nỗ lực thuyết phục toàn khối ASEAN về các đe dọa từ Trung Quốc

Trong thời gian qua, là hai đối tượng bị Trung Quốc thúc ép dữ dội nhất tại Biển Đông, Việt Nam và Philippines đã cố gắng vận động khối ASEAN thống nhất lập trường để đối phó với Trung Quốc. Trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục tìm cách phân hóa các nước ASEAN, Việt Nam có thể làm gì ? Theo giáo sư Ngô Vĩnh Long, một nhà nghiên cứu kỳ cựu về Biển Đông, Việt Nam phải nỗ lực đi đầu trong việc đoàn kết khối ASEAN, thuyết phục được toàn khối về các đe dọa của Trung Quốc.

Trả lời phỏng vấn của RFI, giáo sư Long cho rằng Việt Nam cần tích cực hơn nữa vì chính sách xuyên suốt của Trung Quốc là gây chia rẽ trong ASEAN không những là để dễ thống trị từng nước Đông Nam Á riêng lẻ, mà còn để phá vỡ chiến lược trở lại Châu Á và Đông Nam Á của Mỹ, vốn rất cần một khối ASEAN đoàn kết.

Trung Quốc gây chia rẽ trong ASEAN để đổ lỗi cho Mỹ

Trước hết là Trung Quốc biết chỗ yếu của Mỹ, biết Mỹ muốn làm gì trong khu vực. Vấn đề chính mà Mỹ đã nói từ lâu là họ muốn các nước ASEAN liên kết chặt chẽ hơn với nhau để bảo vệ an ninh của mình.

Phần nữa là trong tư cách một nước lớn trên thế giới, và một nước đã có chiến tranh trong khu vực, Mỹ không thể bây giờ trở lại và nói : « Đây ! Tôi đây ! Tôi sẽ làm cái này, cái kia ! ». Không được ! Mỹ cần phải có sự ủng hộ của những nước trong khu vực, nếu không là của cả một khối ASEAN, thì cũng là của những nước lớn trong khu vực. Qua đó thì chính quyền Mỹ mới được sự ủng hộ của dân chúng Mỹ và của nhiều nước khác trên thế giới. (Muốn thế thì Mỹ phải làm sao để có thể chứng minh được) là Mỹ trở lại để giúp đỡ bảo vệ an ninh khu vực, và do yêu cầu của các nước trong vùng chứ không phải là Mỹ đơn phương và đơn độc trở lại khu vực đó.

Hiện giờ, Trung Quốc ngược lại thì muốn làm sao chia rẽ, rồi dùng cái sự chia rẽ đó để quảng bá với các nước trên thế giới rằng : « Thấy không ? Mỹ nó trở lại, nó muốn gây sự, gây ra mất ổn định trong khu vực, gây chia rẽ giữa các nước ASEAN ! »

Nhưng nói cho cùng, tôi nghĩ rằng Trung Quốc chỉ tạm thời « mua » được một vài nước không có lợi ích trực tiếp đối với vấn đề Biển Đông mà thôi. Nhưng an ninh toàn khu vực lại là vấn đề của toàn khu vực, do đó trước sau gì, nếu sự đe doạ của Trung Quốc lớn, thì các nước xung quanh đó sẽ có những phương cách để tập hợp lại với nhau.

Việt Nam phải tranh thủ cả Cam Bốt, Thái Lan, Lào và Miến Điện

Những nước không có lợi ích trực tiếp ở Biển Đông cũng bị những đe dọa do Trung Quốc gây nên bằng cách này, cách khác, trong đó có vấn đề sông Mêkông.

Trong vấn đề Mêkông, Việt Nam là nước phải chịu nhiều khó khăn nhất ; về Biển Đông, Việt Nam là nước chịu thiệt thòi nhất, nên đáng lẽ phải lên tiếng rất rõ ràng từ lâu về những vấn đề này. Việt Nam bấy lâu nay dùng dằng, nhưng bây giờ bắt đầu lên tiếng từ từ, đây là việc tốt.

Tuy nhiên, Việt Nam phải có những hành động tích cực và hợp thời, thì các nước khác mới có thể ủng hộ Việt Nam. Chứ nếu Việt Nam vẫn dùng dằng trên những vấn đề đe dọa quyền lợi Việt Nam như thế này, thì những nước không có quyền lợi trực tiếp sẽ nói : « Dại gì đưa đầu ra ! Tôi đưa đầu ra tôi sẽ bị khó khăn với Trung Quốc, Trung Quốc không buôn bán với tôi… »

Tôi nghĩ rằng chung quanh vấn đề này, Việt Nam phải có một chính sách toàn diện, rồi phải đi vận động. Chứ không thể chỉ nói khơi khơi, rồi không làm gì tích cực. Theo tôi, vai trò tích cực của Việt Nam sẽ giúp rất nhiều nước trong khu vực có thái độ tốt hơn, và càng ngày họ sẽ càng liên kết chặt chẽ hơn. Cho nên vai trò Việt Nam rất quan trọng, phải có những hoạt động thích ứng, và phải vận động tích cực hơn nữa.

Vai trò của Philippines cũng quan trọng, nhưng vấn đề biển đảo của Philippines (xẩy ra ở nơi) rất xa, ví dụ như bãi Scarborough rất xa những tuyến đường thông thương trên Biển Đông, thành ra nhiều người thấy : « A ! Tranh chấp giữa Trung Quốc với Philippines chưa đe dọa cái gì thì thôi, bây giờ mình làm lơ đi ! ». 

Vai trò của Indonesia rất quan trọng và cần được ủng hộ

Indonesia là một nước quan trọng… bây giờ muốn đóng vai trò trung gian, vì có thể nói chuyện được với cả bên này lẫn bên kia, bởi vì là một nước không tranh chấp chủ quyền các đảo, Trường Sa chẳng hạn. Nhưng họ có vai trò lớn trong vấn đề an ninh khu vực. Bây giờ Indonesia cố gắng đi dàn xếp giữa các bên, tôi thấy đây là một vấn đề rất tích cực và nên ủng hộ.

Nếu Indonesia thất bại trong vấn đề này, mọi người sẽ thấy ai là kẻ làm cho những cố gắng Indonesia thất bại, và điều đó theo tôi, sẽ giúp cho các nước trong khu vực liên kết với nhau để bảo vệ an ninh, qua đó giúp cho những nước ngoài khu vực – ví dụ như Mỹ – rất nhiều trên mọi phương diện…

Indonesia nước rất quan trọng đối với Mỹ, đối với Âu Châu, cũng như đối với Việt Nam. Thì tôi, nếu quan hệ giữa Việt Nam với Indonesia được thúc đẩy mạnh lên, điều đó rất tốt cho cả hai nước cũng như cho cả khu vực và cho thế giới.

Không chỉ về an ninh, ngay cả về vấn đề kinh tế, Indonesia và Việt Nam có dân số đông nhất trong khu vực, kinh tế hai nước lại có những điểm hỗ trợ nhau. Nếu lúc nào đó mà Mỹ hay Âu châu cần phải rút đầu tư hay những cơ sở chế biến của họ ở bên Trung Quốc hay chỗ khác chẳng hạn, thì Indonesia và Việt Nam là hai nước mà họ có thể dùng nhân công, và đầu tư tốt nhất – bởi vì không những đông dân mà cũng có lãnh hải rất dài.

Nếu hai nước hợp tác với nhau trên những khâu ví dụ như chế biến, thì đấy là vấn đề rất quan trọng cho các nước ngoài khu vực.

Hợp tác giữa Malaysia và Việt Nam trên vấn đề Biển Đông rất tốt

Malaysia cũng là một nước rất quan trọng trong hồ sơ Biển Đông mà tôi nghĩ là rất thông minh. Vì những vấn đề nội bộ của họ, họ không để lộ ra nhiều, nhưng phiá sau họ làm rất tốt, ví dụ như trong quan hệ đối với Mỹ, quan hệ đối với các nước khác ngoài khu vực và kể cả quan hệ đối với Việt Nam.

Vụ dàn xếp về vấn đề ranh giới biển với Việt Nam (chuẩn bị cho Liên Hiệp Quốc vào năm 2009), họ làm rất tốt, và làm cho cả Trung Quốc cũng phải bật ngửa, và khi bị bật ngửa, Trung Quốc đã phải vội đưa đường lưỡi bò, đường chín đoạn của họ ra trước Liên Hiệp Quốc.

Không nên bi quan như chuyên gia Mỹ Jim Holmes về “thời cơ” để Trung Quốc động binh ở Biển Đông

Tôi nghĩ là nhận định đó không những quá bi quan mà còn không xác thực. Trước hết, khi Mỹ nói là họ chuyển trục về Á châu trong nhiều năm nữa, nhưng hiện giờ đã có 50% của tàu chiến quân sự của Mỹ đi qua vùng đó. Nếu trong 10 năm tới, sẽ lên 60%, đó không phải là một vấn đề (chênh lệch) rất lớn.

Thứ hai nữa là Việt Nam bây giờ mà có 7, 8 chiếc tàu ngầm, cũng không làm được gì đối với ba mươi mấy, bốn chục chiếc tàu ngầm của Trung Quốc. Khi đi ra ngoài biển khơi, nếu bắn chìm được vài cái, điều đó cũng sẽ gây rất nhiều khó khăn cho cả khu vực. Vì thế, vấn đề Việt Nam mua tàu ngầm, chỉ là để cho khu vực biết là nếu Trung Quốc đe dọa Việt Nam quá, mà Việt Nam phải trả lời, thì sẽ xẩy ra tình trạng mất an ninh.

Còn vấn đề bảo vệ chủ quyền Việt Nam hay tự vệ trước khả năng Trung Quốc có thể dùng vũ lực đối với Việt Nam, thì tôi nghĩ rằng bờ biển Việt Nam rất dài, Trung Quốc tiến vào thì Việt Nam có nhiều cách đánh lại, chứ không phải là mua một vài chiếc tiềm thủy đỉnh mà có thể ngăn Trung Quốc được.

Về mặt quân sự mà nói, tôi thấy tác giả này phân tích không đúng. Vấn đề chính, theo tôi nghĩ, là chính trị : Trung Quốc muốn lợi dụng lúc Mỹ bận nhiều chuyện, kể cả vấn đề Trung Đông, để bắt Mỹ nhượng bộ phần nào đó về quân sự cũng như về kinh tế. Nếu Mỹ nhượng bộ, thì Trung Quốc có thể lấy cái đà đó mà càng tiến lên thêm, cũng như qua việc đối với Đài Loan (trước đây).

Khi Mỹ và Trung Quốc ký hiệp định Thượng Hải về Đài Loan, thì ngay lúc đó họ nói là người Trung Quốc hai bên nghĩ rằng chỉ có một Trung Quốc, chứ không nói là Đài Loan là của Trung Quốc… Thế mà Trung Quốc cứ theo hiệp định Thượng Hải đó để ép Mỹ lần lần…, không những có thêm nhiều đòi hỏi, mà còn lấn lướt đến nỗi bây giờ Đài Loan cũng phải sợ, mặc dầu Mỹ có luật và có chính sách bảo vệ Đài Loan…

Theo tôi, đây là một bài học mà lẽ ra Mỹ phải học từ lâu. Và ngoài Mỹ, thì những nước gần Trung Quốc như Việt Nam cũng phải học từ lâu. Tôi cho rằng một vài nước xung quanh Trung Quốc đã thấy bài học đó rồi, bây giờ họ tìm cách để tháo gỡ những cái khó khăn mà quan hệ với Trung Quốc đã gây ra cho họ.

Hoa Kỳ yêu cầu Trung Quốc xuống thang tại Biển Đông để tránh sự cố

Nếu tôi không lầm, thì Mỹ không muốn Trung Quốc làm áp lực trên Biển Đông, bởi vì làm điều đó ngay trong những tháng trước bầu cử, sẽ bắt buộc Mỹ phải có phản ứng mạnh hơn.

Cho đến nay chính sách của Mỹ vẫn là sẽ chuyển một số hải quân về khu vực Thái Bình Dương. Vấn đề là để phòng hờ, nhưng chính sách của Mỹ là vẫn muốn Trung Quốc xuống thang ở Biển Đông và muốn Trung Quốc đàm phán với các nước trong khu vực.

Nhưng nếu Trung Quốc đẩy tới mạnh hơn nữa, trong trường hợp hiện nay, trước bầu cử và trước những chỉ trích của phe diều hâu và đảng phe Cộng hoà, điều đó có thể gây khó cho chính quyền Obama nếu không có những phản ứng mạnh hơn.

RFI

An ninh biển Đông Nam Á: Đi tìm giải pháp hợp lý

Một giải pháp hợp lý không hoàn toàn đồng nghĩa với “logic” và “sự thật do các bên đưa ra” mà tính đến lợi ích hài hòa chung cũng như phải mang tính khả thi cao.

Ngày 31/8 vừa qua tại Jakarta, chuỗi 4 Hội thảo về an ninh biển do Diễn đàn Thái Bình Dương, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (Mỹ) phối hợp tổ chức với lần lượt các cơ quan nghiên cứu của Philipine, Việt Nam, Malaysia và Indonesia đã kết thúc. Hàng trăm lượt ý kiến của đại diện quan chức và học giả từ các nước ASEAN, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, New Zealand, Australia và Trung Quốc đã phân tích và khuyến nghị những vấn đề liên đến an ninh biển của khu vực Đông Nam Á, tập trung chủ yếu vào các vùng và eo biển quan trọng như biển Đông, biển Sulu/Sulawesi, eo Malacca, Vịnh Thái Lan.

Trước những thách thức ngày càng nghiêm trọng như tranh chấp chủ quyền biển đảo, thảm họa thiên nhiên, môi trường xuống cấp, an toàn hàng hải bị đe dọa trên nhiều phương diện, các đại biểu đề xuất nhiều giải pháp để khuyến nghị lên các chính phủ, trong đó tập trung vào 6 nhóm giải pháp được nhiều đại biểu cho là “hợp lý” hơn cả. Theo diễn giải tại các cuộc Hội thảo, một giải pháp hợp lý không hoàn toàn đồng nghĩa với “logic” và “sự thật do các bên đưa ra” mà tính đến lợi ích hài hòa chung cũng như phải mang tính khả thi cao.

–  Tăng cường xây dựng lòng tin mạnh mẽ hơn nữa, trong đó có vai trò của DOC/COC: Dù là quá trình giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo hay hợp tác đối phó với các thách thức chung như nạn cướp biển, gian lận thương mại, bảo vệ các nguồn lợi đại dương các bên liên quan đều cần xuất phát từ cơ sở lòng tin đối với nhau.

Nếu việc xây dựng lòng tin không đạt mức cần thiết, các cam kết sẽ chỉ nằm trên giấy. Đây là bài học kinh nghiệm của các nước thuộc Hội đồng Bắc Âu nơi việc quản lý chung các vấn đề trên biển được triển khai có hiệu quả nhờ mức độ tin cậy lẫn nhau cao.

Thực tế, do yếu tố lịch sử và điều kiện đặc thù, khu vực Đông Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng vẫn tiếp tục cần nhiều biện pháp xây dựng lòng tin mạnh mẽ hơn nữa không chỉ trong tổng thể quan hệ đối với nhau mà còn cả những vấn đề cụ thể như hợp tác an ninh hàng hải.

– Tiến tới ngoại giao phòng ngừa: Một số đại biểu cho rằng trong khi tiếp tục xây dựng lòng tin, các bên cần áp dụng đồng thời các giải pháp ngoại giao phòng ngừa như minh bạch hóa các ngân sách mua sắm quân sự, thông báo trước những hoạt động lớn diễn ra trên biển, sử dụng công cụ đối thoại và tham vấn mỗi khi xảy ra các bất đồng và tranh chấp.

Ngoại giao phòng ngừa chính là một biện pháp hòa bình hữu hiệu, có tác dụng làm giảm căng thẳng, ngăn chặn các tình huống xung đột, kể cả khi có sự hiểu nhầm hay “tai nạn cướp cò” trên biển. ARF sẽ cung cấp một trong những quy trình ngoại giao phòng ngừa như vậy.

– Tận dụng vai trò của các thể chế khu vực: Khu vực Đông Nam Á nằm trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương rộng lớn là bên khởi xướng, tham gia vô số những thể chế có liên quan đến an ninh biển. Nổi bật và nằm trung tâm trong các thể chế này là vai trò của ASEAN và các thể chế có liên quan như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và kể từ năm 2006 đến nay còn có sự xuất hiện cần thiết của Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+).

ASEAN còn thiết lập Diễn đàn hàng hải ASEAN để thảo luận các chiến lược quản lý biển và đối phó với các vấn đề nhức nhối đang diễn ra như nạn cướp biển, khủng bố, buôn lậu.

Ngoài ra còn có một loạt các cơ chế khác như Diễn đàn lực lượng phòng vệ biển Bắc Thái Bình Dương; Hội nghị những người đứng đầu Cảnh sát biển các nước châu Á (HACGAM); Hiệp định Kiểm soát Cảng biển khu vực Thái Bình Dương (thuộc Tổ chức Hàng hải quốc tế); Hiệp định Tìm kiếm Cứu nạn trên biển khu vực Bắc Thái Bình Dương; Diễn đàn An ninh hàng hải Bắc Thái Bình Dương; Hiệp định Hợp tác khu vực chống cướp biển và hoạt động vũ trang chống lại tàu thuyền (ReCAAP); Các cơ chế chung ở eo Malacca ví dụ như “Giám sát bằng hình ảnh vệ tinh” đối với hoạt động của tàu bè…

Dĩ nhiên vấn đề mấu chốt là các bên cần tôn trọng thực thi các cơ chế này.

– Phát huy luật pháp và tập quán quốc tế: Quy định quốc tế bao trùm trong các vấn đề về biển giữa các quốc gia chính là Công ước Luật biển Liên hợp quốc năm 1982 (UNCLOS 1982). Việc tôn trọng UNCLOS 1982 và các luật có liên quan sẽ góp phần giải quyết các thách thức trên biển, kể cả tranh chấp biển đảo.

Luật quốc tế về biển quy định một cách tường minh các nguyên tắc ứng xử cũng như cơ sở để xác lập các vùng biển, tạo điều kiện cho việc quản lý dễ dàng hơn. Hiện nay chỉ còn khoảng hơn 10 nước chưa phê chuẩn UNCLOS 1982.

Một tập quán quan trọng khác được đề cập là Hiệp định Ngăn ngừa các sự cố trên biển quốc tế (INCSEA), cơ chế góp phần quan trọng trong việc ngăn chặn các “tai nạn cướp cò” trước đây giữa hải quân Mỹ và Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Mặc dù tình hình hiện nay đã khác, song các đại biểu vẫn khuyến nghị Mỹ, Trung Quốc và các nước ASEAN nghiêm túc xem xét đàm phán các cam kết kiểu INCSEA mới.

Nhìn tổng thể, ngoài việc phải tôn trọng, sự diễn giải luật của các nước theo quan điểm xây dựng cũng đóng vai trò quan trọng vì hiện nay có những nước vẫn đưa ra “cách hiểu” khác nhau như đối với vấn đề “qua lại vô hại” trong khu vực đặc quyền kinh tế, thậm chí hoàn toàn vô căn cứ như “đường lưỡi bò” của Trung Quốc.

– Chú trọng quản lý xung đột vì giải quyết xung đột sẽ có thể kéo dài: Đây là một khuyến nghị đáng chú ý vì các bên liên quan có thể vì cái “đầu nóng” mà mất tỉnh táo trong quá trình đưa ra quyết định sẽ ứng xử với nhau như thế nào.

Ví dụ, việc tìm một giải pháp cuối cùng cho vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Đông sẽ là vô cùng khó khăn, quá trình này có thể kéo dài, thậm chí rất dài. Vì vậy, một số đại biểu khuyến nghị các bên nên ưu tiên các giải pháp quản lý xung đột. Nó giống như vai trò của trọng tài trong một trận bóng, vấn đề quan trọng không chỉ là kết quả cuối cùng mà trong thời gian trận đấu, ông ta cần tập trung để kiểm soát, bảo đảm trận đấu diễn ra đúng luật.

Cơ sở thực tế của đề xuất này là do các bên tiếp tục “ghè” nhau, “không xuống thang” về chủ quyền nên nhiều khu vực biển đã không được quản trị tốt.

Dĩ nhiên, việc quản lý xung đột cần được áp dụng song song với các giải pháp khác, tranh việc lấy cớ “cần quản lý chung” để biến một vùng biển không tranh chấp thành tranh chấp.

– Vai trò xây dựng của các nước lớn: Ở khu vực Đông Nam Á, ASEAN là thể chế quan trọng nhất, đang trên đường trở thành một cộng đồng chung vào năm 2915. Mặc dù vậy, như lịch sử và hiện tại cho thấy, vai trò của các nước lớn cũng vô cùng quan trọng. Điều này thể hiện trên nhiều khía cạnh như hỗ trợ nâng cao năng lực cho các nước ven biển trong quản lý biển, thể hiện lập trường trong các cuộc tranh cãi ngoại giao và va chạm trên thực địa.

Đối với Mỹ, bên cạnh các vai trò trên còn là hàng loạt các cơ chế tập trận, diễn tập nhạy cảm với một số nước trong khu vực như RIMPAC, Hổ mang vàng, Kalimantan, Thiên thần Thái bình dương, tìm kiếm cứu nạn.

Còn Trung Quốc, ngoài là bên liên quan trực tiếp đến tranh chấp chủ quyển biển đảo ở biển Đông còn đề xuất các cơ chế hợp tác song phương khác với các nước Đông Nam Á. Ví dụ mặc dù đã có Diễn đàn Hàng hải ASEAN nhưng Trung Quốc vẫn đề xuất lập diễn đàn hàng hải song phương với Indonesia.

Ấn Độ, Nhật Bản và các cường quốc tầm trung trong khu vực như Hàn Quốc, Australia cũng là những nhân tố đáng kể.

Về lý tưởng, các nước lớn cần phải hành động có trách nhiệm, mang tính xây dựng, tôn trọng luật pháp quốc tế và các nguyên tắc ứng xử của khu vực như DOC/COC, Hiệp định thân thiện và hợp tác tại khu vực Đông Nam Á, không dùng sức mạnh bất đối xứng để lấn lướt các nước nhỏ trong quan hệ quốc tế.

Tuần Việt Nam

Advertisements