Bản án chế độ cộng sản Việt Nam

Posted on September 28, 2012

0



Đài tưởng Niệm 100 Triệu Nạn Nhân Của Chế Độ Cộng Sản

Tội ác của chủ nghĩa phát xít đã được thế giới biết rỏ và đã công nhận, nhưng có lẽ tội ác của chủ nghĩa cộng sản vẫn còn ít người trên thế giới biết tới, đó là lý do mà Đài Tưởng niệm Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản (Victims of Communism Memorial) được xây dựng trong một khuôn viên tại Washington, D.C. Mà theo Quỹ Đài Tưởng niệm Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản thì mục đích của tượng đài là: “để lịch sử về sự tàn bạo của cộng sản sẽ được dạy cho các thế hệ tương lai”, và được ghi nhận là “để tưởng nhớ hơn 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản”.

Đài Tưởng niệm Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản được Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush khánh thành vào ngày 12 tháng 6 năm 2007, kỷ niệm 20 năm ngày Tổng thống Ronald Reagan đọc bài diễn văn nổi tiếng “Hãy phá đổ bức tường này” trước Bức tường Berlin.

Trong buổi lễ khánh thành, Tổng thống Bush đã nêu ẩn danh của những người từng là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản:

“Họ gồm có các nạn nhân Ukraina bị chết đói trong Nạn đói Vĩ đại dưới thời Stalin; hoặc những người Nga bị giết trong các cuộc thanh trừng của Stalin; những người Litva, Latvia và Estonia bị quăng lên xe chở trâu bò và bị đầy khổ sai trong các trại tử thần vùng giá rét của chủ nghĩa Cộng sản Xô Viết. Họ bao gồm những người Trung Hoa bị giết chết trong Đại nhảy vọt và Cách mạng Văn hóa; những người Campuchia bị tàn sát trong những cánh đồng chết của Pol Pot; những người Đông Đức bị bắn chết trong lúc cố trèo qua Bức tường Berlin để tìm tự do; những người Ba Lan bị tàn sát tại rừng Katyn; và những người Ethiopia bị tàn sát trong cuộc “Khủng bố Đỏ”; những người da đỏ Miskito bị giết chết bởi chế độ độc tài Sandinista ở Nicaragua; và những người Cuba, Việt Nam bị chết chìm trong lúc vượt thoát bạo quyền.”

Để kết thúc bài diễn văn khánh thành tượng đài, Tổng thống George  W. Bush cũng nói: “Thủ đô Hoa Kỳ chưa từng có đài tưởng niệm nào cho nạn nhân của chế độ cộng sản” và “Trước sự hiện diện của những người, nam cũng như nữ, đã đấu tranh cưỡng lại cái ác và tiếp tay đưa đến sự sụp đổ của đế quốc cộng sản, tôi hãnh diện thay mặt cho nhân dân Hoa Kỳ, nhận lấy Đài Tưởng niệm Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản, “.

Kính thưa quý vị,

Rỏ ràng, sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản là một đại thảm họa của nhân loại. Trước hết, chúng tôi xin thống kê sơ lược số lượng hơn 100 triệu nạn nhân của chế độ cộng sản được phân bổ như sau:

– Liên Xô: 30 triệu người.

– Trung Cộng, 70 triệu.

– Việt Nam, 3 triệu.

– Bắc Hàn, 5 triệu.

– Cam Bốt, 3 triệu.

– Đông Âu, 2 triệu.

– Châu Mỹ La Tinh, 150 000.

– Phi Châu, 2,7 triệu.

– Afganistan, 2,5 triệu.

Sau non một thế kỷ chủ nghĩa cộng sản ra đời, những người cộng sản ở Đông Âu nhận thấy rằng, trên 100 triệu con người đã bị tàn sát để lót đường cho sự hình thành và phát triển của chế độ cộng sản là quá nhiều, nên họ đã quyết tâm từ bỏ chế độ cộng sản, quay trở lại với chế độ tư bản tự do và dân chủ. Tuy nhiên, với bản chất bảo thủ, hiếu chiến hiếu sát và tham vọng quyền lực, tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam vẫn kiên trì đi theo con đường mà Hồ Chí Minh đã chọn, đó là con đường đi lên xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa được xây bằng xác người bị trị, bằng máu xương của những người yêu nước, và chắc chắn là di họa sẽ khó lường về cả vật thể lẫn tinh thần, đó là lý do cho sự ra đời của BẢN ÁN CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN VIỆT NAM này.

Ngày Đó Không Xa!

Từ khi tham gia vào quốc tế cộng sản vào những năm 20 của thế kỷ trước, Hồ Chí Minh đã nhận chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế, đứa con đẻ của Lê Nin, ra đời vào năm 1919, mà một trong những chỉ thị gây di hại lớn hơn cả, đó là “Bạo Lực” và “Độc Tài Vô Sản” mà Hồ Chí Minh đã khéo léo đánh lừa dân Việt bằng cách thay từ “Chuyên chính vô sản” cho từ và “Độc Tài Vô Sản”, bởi từ “chuyên chính” thoáng nghe có vẻ tốt đẹp quá, chứ người Việt mấy ai hiểu được “Chuyên Chính” là một uyển ngữ của “Độc Tài”.

Áp dụng bạo lực là một trong những chủ trương chính của Lênin. Và của Đệ tam Quốc Tế “Độc tài vô sản” được ông ta định nghĩa là “sử dụng bạo lực không chấp nhận một giới hạn nào cả, bất chấp tất cả các luật lệ”. Về tinh thần quốc gia và tinh thần quốc tế, Lênin gạt bỏ tinh thần quốc gia, cho đó là môt quan niệm của giới truởng giả (bourgeois), và người cộng sản chỉ biết có một loại tinh thần quốc tế, đó là “chung sức với các người cộng sản khác để chuẩn bị, tuyên truyền, và gia tốc thực hiện cách mạng vô sản quốc tế”. Ông ta kêu gọi những người cộng sản trên khắp thế giới “tiếp tay với Liên Xô tổ chức một đạo quân thống nhứt để thực hiện cuộc cách mạng vô sản thế giới và thiết lập một Cộng Hòa Sô Viết toàn cầu”.

Lênin đòi hỏi người cộng sản phải tuyệt đối trọng kỷ luật. Vi phạm kỷ luật là bội phản giới vô sản. Ông ta nói : “không tuân kỷ luật là giải giới vô sản… người nào vi phạm một tý ty kỷ luật sắt của đảng vô sản là… tiếp tay cho giới trưởng giả chống vô sản”. Và Hồ Chí Minh, một học trò kiệt xuất của Lê Nin đã vận dụng một cách sáng tạo “Bạo Lực Cách Mang” và “Độc Tài Vô Sản” vào thực tiển của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam ngay khi đảng cộng sản Việt nam chưa chính thức thành lập, để với “Bạo Lực Cách Mạng” đó, Hồ Chí Minh đã thanh trừng những người yêu nước, những văn hào nhân sỹ trí thức vốn được xem là nguyên khí của quốc gia như cụ Sào Nam Phan Bội Châu, cụ Phạm Quỳnh, cụ Ngô Đình Khôi, Trương Tử Anh, Khái Hưng, và cả những đồng chí của Hồ như Tạ Thu Thâu, Ngô Gia Tự, Lâm Đức Thụ, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai…

Cũng với “Bạo Lực” Hồ Chí Minh và Cộng sản Việt Nam đã thảm sát hơn 7.000 đồng bào Huế trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 bằng hình thức chôn sống, hoặc đập đầu trước khi chôn, mà nạn nhân trong vụ thảm sát đó không ít người là các chức sắc tôn giáo, các sinh viên học sinh, các giáo sư đại học kể cả các cụ già và em nhỏ, mà chúng gán cho cái tội “Việt gian”.

Cũng với “Bạo Lực”, Hồ Chí Minh đảng cộng sản Việt Nam đã xua quân qua vùng phi quân sự tại vĩ tuyết 17 đánh chiếm tỉnh Quảng Trị, vào mùa hè 1972, trong chiến dịch lấn đất dành dân đó, cộng sản Việt Nam đã nã đại pháo trực diện vào đoàn người đang di tản ra khỏi vùng chiến cuộc, nghiền nát hơn 30.000 cụ già, phụ nữ và trẻ em trên đoạn đường dài hơn 3 km từ Triệu Phong đến Hải Lăng, Quảng Trị, tạo ra một Đại Lộ Kinh Hoàng, một Holocaust của Việt Nam.

Cũng với “Bạo Lực”, mùa Xuân 1975, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam đã xua quân đánh chiếm toàn Miền Nam Việt Nam, xóa tên trên bản đồ thế giới một nước Việt Nam Cộng Hòa hợp hiến, hợp pháp, có chủ quyền lãnh thổ từ Vĩ tuyến 8 đến vĩ tuyến 17, gây ra cảnh điêu tàn, đổ nát cho tất cả cả tỉnh thành của Miền Nam Việt Nam và cũng tạo ra cảnh thương vong cho hang triệu người dân vô tội. Mà theo thống kê của Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Chống Lại Loài Người Của Chế Độ Cộng Sản, thì số nạn nhân trực tiếp của Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam là 3 triệu người, một con số thống kê, hết sức khiêm tốn, so với thực tế lên đến cả 10 triệu người.

Như đã nêu trên, một chỉ thị khác của Quốc Tế Cộng Sản được Hồ Chí Minh tiếp nhận và phát huy một cách sáng tạo trong thực tiễn của cách mạng Việt Nam nữa là “Độc Tài Vô Sản” mà Hồ Chí Minh và cộng sản Việt Nam đã lừa bịp cả dân tộc bằng uyển ngữ “Chuyên Chính Vô Sản”, tức là bần cùng hóa toàn dân, tức là quốc hữu hóa tất cả cơ sở vật chất, tài sản của nhân dân. Biến tài sản, nhà cửa, ruộng vườn, ao đầm, nhà máy, xí nghiệp của người dân thành tài sản của nhà nước, của chế độ.

Phi giai cấp hóa toàn xã hội, tức là xóa bỏ hoàn toàn mọi tầng lớp quý tộc, thượng lưu, trung lưu, trí thức và kể cả các chức sắc tôn giáo trong xã hội bằng cách tịch thu tài sản của họ rồi hạ phóng, tức là đưa vào các trại cải tạo để tẩy não và hành hạ họ cho đến chết, rồi xây dựng một xã hội mới với những con người mới hoàn toàn vô sản, không có ý thức tư hữu bất cứ một loại tài sản nào, mà chỉ biết làm động để cấp nộp thành quả lao động lên cho “đảng và bác”. Ở Miền Bắc, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt nam đã thực hiện rất thành công chỉ thì này thành một chính sách lớn của đảng và nhà nước thông qua cuộc cải cách ruộng đất, đấu tố phú nông địa chủ, tịch thu nhà cửa ruộng đất, hành quyết hơn 300.000 nông dân và tập trung giam giữ, cải tạo 700.000 người khác.

Cũng với chính sách “Độc Tài Vô Sản”, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đã hết sực thành công trong việc tiêu diệt tầng lớp trí thức tư sản ở các đô thị Miền bắc thông qua vụ án Nhân Văn Giai Phẫm từ năm 1955 đến 1958 mà đao phủ trực tiếp của vụ án này đã nhận định rằng:

Lật bộ áo “Nhân Văn – Giai Phẩm” thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, trốt kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm…”… mà những người liên quan, gia sản bị tịch thu, bản thân bị tập trung cải tạo, bị hạ phóng.

Và sau ngày cưỡng chiếm miền Nam 30 tháng 4 năm 1975, “Bạo Lực” và Độc Tài Vô Sản” lại tiếp tục được những thuộc hạ của Hồ Chí Minh vận dụng hết sức thành công trước hết là bằng cách hành quyết những tiếng nói đối lập, tập trung giam giữ và cải tạo các sỹ quan, hạ sỹ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam quy kết là Ngụy Quân, Ngụy Quyền cùng với các viên chức hành chánh của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và các chủ xưởng của các công ty xí nghiệp và lãnh đạo các tổ chức xã hội, các tôn giáo, các đảng phái mà không ít người đã vĩnh viễn gởi lại nắm xương tàn tại các nhà tù cải tạo đó, nhiều nhà máy, công ty, xí nghiệp, nhiều phương tiện sản xuất thuộc sở hữu tư nhân, chỉ sau một đêm bổng biến thành sở hữu của nhà nước, mà sau này được cổ phần hóa thành sở hữu của các cán bộ lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước. Nhiều chủ cả, với tài sản tích cóp suốt cả đời người chỉ sau một đêm bỗng trở nên trắng tay, trở nên người vô gia cư, gai đình vợ con họ bỗng thành những nông dân bất đắc ở những vùng kinh tế mới.

Cũng với chính sách “Độc Tài Vô Sản” đó, nhiều chiến dịch cải tạo tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp nhiều lần đổi tiền đã được thực hiện từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 để biến toàn dân miền Nam thành những người vô sản, những người có nhiều tiền của ngoài việc bị tịch thu gia sản, còn bị hành quyết hoặc bị đưa đi tập trung cải tạo để tẫy não, để họ không còn tư tưởng sở hữu tư nhân, tức là không còn là thành phần bóc lột trong xã hội nữa, để họ phải biết “lao động là vinh quang” phải biết quần quật suốt đời làm lụng để cung phụng cho xã hội, cho đảng và nhà nước, như đàn ong thợ kiến thợ trong xã hội loài ong, loài kiến, chỉ có kiến đực, kiến chúa mới được hưởng thụ, còn kiến thợ thì phải làm lụng, phải lao động.

Và phải biết rằng lãnh đạo đảng và nhà nước chính là ong chúa ong đực, còn cả xã hội Việt Nam, cả 90 triệu thần dân Việt Nam đều phải là ong thợ, kiến thợ hết. Đó là lý do để mọi người thấy dễ hiểu rằng tại sao 16 tấn vàng trong quỷ dự trữ Quốc Gia của Việt Nam Cộng Hòa được lưu giữ tại Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam ở số 17 Bến Chương Dương, Sài Gòn, bỗng dưng trở thành tài sản riêng tư của Lê Duẩn và một số thuộc hạ của y trong bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam.

Cũng với chính sách “Độc Tài Vô Sản” ngay cả khi các nước XHCN Đông Âu đã hoàn toàn sụp đổ, đảng Cộng Sản Việt Nam đưa ra chính sách đổi mới như là một giải pháp nhằm xoa dịu người dân trong nước, bởi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ, lo sợ một cuộc cách mạng cam, cách mạng nhung cũng có thể xãy ra như đã xãy ra tại thành trì Xã Hội Chủ Nghĩa ở Liên Bang Sô Viết và ở các nước cộng sản khác ở Đông Âu, với chính sách đổi mới này, nhà nước cộng sản Việt Nam thừa nhận tính ưu việt của nền kinh tế thị trường, công nhận quyền tư hữu về phương tiện sản xuất, về nhà máy xí nghiệp và các doanh nghiệp, từ đó bắt đầu cổ phần hóa các công ty xí nghiệp và các doanh nghiệp mà trước đây nhà nước đã tịch biên của các nhà tư bản tư doanh và quốc hữu hóa.

Điều đáng lưu ý là các cổ đông chủ yếu là cán bộ đảng viên cao cấp của đảng và nhà nước cũng như thân bằng quyến thuộc của họ. Điều đáng lưu ý là lúc này đảng và nhà nước Việt Nam không quy các địa chủ, phú nông, các chủ doanh nghiệp, các nhà tài phiệt là những kẻ bóc lột là kẻ thù của dân tộc nữa, bởi thành phần này hiện nay tập trung chủ yếu vào lãnh đạo đảng và nhà nước, tập trung chủ yếu vào các đảng viên cao cấp của đảng cộng sản. Hố ngăn cách giữa đời sống thị dân và thôn dân càng ngày càng lớn, khoảng cách giữa người giàu người nghèo trong xã hội càng ngày càng được khoét sâu, các lãnh đạo đảng và nhà nước, lãnh đạo các cục, các bộ có tài sản lên đến hàng ngàn tỷ đồng, hàng chục tỷ Mỹ Kim ký gởi ở các ngân hàng quốc tế, trong khi dân nghèo khắp các tỉnh thành trong cả nước cứ tiếp tục đói ăn quanh năm.

Số lượng người nghèo, người vô gia cư, người ăn xin, người bán trôn nuôi miệng lại cứ thế tiếp tục tăng lên từng ngày. Cứ thế, số dân oan khiếu kiện cũng ngày càng gia tăng, bởi ruộng vườn nhà cửa bị quy hoạch bị giải tỏa để xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, các khu đô thị cao cấp mà chủ đầu tư khai thác là các quan chức của chính phủ hay con cháu của họ.

“Bạo Lực Cách Mạng” và “Độc Tài Vô Sản” lại được áp dụng, lại phát huy tác dụng, dân oan khiếu kiện lại bị bắt bớ, bị tù đày với tội danh gây rối trật tự công cộng, các cá nhân, tổ chức bảo vệ những người thấp cổ bé họng, giúp họ đấu tranh cho công lý cũng bị bắt bớ tra tấn, giam cầm với các tội danh tuyên truyền chống phá nhà nước hay âm mưu lật đổ chính quyền. Nhiều tiếng nói yêu nước, đòi hỏi cải cách xã hội dân sự, cách cải dân chủ và yêu cầu nhà cầm quyền tôn trọng các quyền tự do căn bản và quyền làm người của mọi công dân cũng bị đàn áp và khủng bố man rợ: Thêm nhiều nhà tù nhỏ lại được xây dựng để giam cầm tất cả những người dám lên tiếng bảo vệ quyền sống, quyền làm người của dân Việt trong khi cả đất nước Việt Nam đang bị biến thành một nhà tù lớn, đang giam cầm, đang bịt mắt bưng miệng cả toàn dân.

“Bạo Lực Cách Mạng” và “Độc Tài Vô Sản” cũng được áp dụng đối với cả những người ưu tư cho sự tồn vong của tổ quốc. Trước cơn quốc biến, trước họa ngoại xâm, những người yêu nước lên tiếng phản kháng sự cướp đất đai, biển đảo của giặc ngoại xâm cũng đều bị bắt giam và các nhà tù nhỏ. Những người xót thương cho đồng bào đồng chủng đang bị “tàu lạ” của ngoại bang trấn cướp, bắn giết trên biển đông mà lên tiếng phản đối, đả đảo, cũng bị đảng và nhà nước cộng sản tống giam vào các nhà tù nhỏ. Gần đây nhất, những bản án nặng nề mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam tuyên phạt các nhà báo tự do như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Blogger Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn hay cho các sinh viên Công Giáo tại thành phố Vinh là một tội ác mới của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam trong việc trấn áp những người yêu nước và khủng bố những người dân thấp cổ bé họng, trong một nổ lực nhằm duy trì quyền cai trị đất nước trong tay những người cộng sản.

Ngót một thế kỷ rồi, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam nắm quyền cai trị đất nước, đã biến Việt Nam thành một đất nước đói nghèo lạc hậu, biến dân tộc Việt Nam thành một dân tộc nhu nhược đớn hèn, mông muội bởi chính sách ngu dân và bần cùng hóa giống nòi, bởi chính sách “Độc Tài Vô Sản”. Đối với Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam chắc chắn trúc Nam sơn không ghi hết tội, nước Đông hải không rửa sạch mùi tanh hôi. Một ngày không xa nữa, những kẻ tội đồ của dân tộc sẽ phải trả lời trước lịch sử của giống nòi Lạc Việt, trước muôn dân về những tội ác mà chúng đã trót gây ra cho đất nước cho dân tộc. Tổng gồm các bản án mà Hồ Chí Minh và tập đoàn cộng sản đã kết cho những người yêu nước hôm qua, hôm nay, sẽ là một bản án cho chính các lãnh đạo của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam, những tội đồ của dân tộc, vào một ngày không xa nữa.

Nguyễn Thu Trâm