Chính phủ Cộng Sản Việt Nam điều hành nền kinh tế: Từ ‘cọp’ thành ‘mèo’

Posted on October 2, 2012

0



Trong một bài phân tích dựa trên những thí dụ nổi bật chứng minh cho các chính sách sai lầm chỉ để làm đầy túi cho đám quan lại tham nhũng, tạp chí Newsweek số ra ngày 1 tháng 10, 2012 trình bày một số những lý do đã làm cho Việt Nam từ triển vọng thành cọp Á Châu lại biến thành một con mèo nhỏ đầy khuyết tật.

Vịnh Vân Phong thuộc tỉnh Khánh Hòa, một dự án cảng biển quốc tế với vốn đầu tư lên nhiều tỉ đô la nhưng thất bại của tổng công ty tàu biển Vinalines. Những chiếc trụ xi măng trơ trọi phơi sương phơi nắng trong nước biển là biểu tượng của chiến lược sai lầm của đám quan quyền tham nhũng “có dự án là có cơ hội chấm mút” bất kể hậu quả cho đất nước. (Hình: AP)

Theo bài viết này, “Ðể cứu một nền kinh tế có nhiều vấn đề, những người làm chính sách tại Việt Nam cần phải thực hiện các kế hoạch cải cách thật sự sâu rộng và đúng nghĩa.”

“Tuy nhiên, điều này có làm hay không hoàn toàn tùy thuộc vào cái đầu của những kẻ nắm giữ quyền lực, mà người ta tin họ không dễ dàng từ bỏ các đặc quyền đặc lợi.”

Bài phân tích mở đầu bằng cuộc thăm viếng Hà Nội hai năm trước của bà Christine Gregoire thống đốc tiểu bang Washington đứng mời khách hàng món khoai tây chiên tại tiệm thức ăn nhanh KFC ở Hà Nội.

Mục đích chính của bà không phải đi cổ võ khoai tây chiên mà đi cắt băng khánh thành cảng nước sâu Cái Mép-Thị Vải thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Cảng biển này, tốn phí xây dựng và chuẩn bị suốt 6 năm lên tới $160 triệu USD, liên doanh giữa công ty Carrix’s Marine Unit trụ sở ở Seattle và Cảng Sài Gòn, một đơn vị thành viên của Tổng Công Ty Vận Tải Biển Việt Nam (tức Vinalines).

Từ khi khánh thành đến nay, cảng Cái Mép chìm sâu vào thua lỗ.

Theo bài viết của báo Giao Thông Vận Tải ngày 1 tháng 10 năm 2012, “Hầu hết các cảng container khu vực Cái Mép-Thị Vải đều thua lỗ ít cũng 6-7 triệu USD, nhiều tới 20-30 triệu USD”. Một trong những lý do là thiếu trang bị hạ tầng bên cạnh những lý do khác.

Công ty mẹ Vinalines thì đầy vấn đề mà những kẻ cầm đầu đã bị bắt giữ gần đây với cáo buộc tham nhũng và “cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng…”

Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) giới đầu tư ngoại quốc đua nhau đổ tiền vào đây, tưởng nước này một sớm một chiều sẽ trở thành một thứ hổ con ở Á Châu.

Thống kê năm 2007 cho thấy tổng số đầu tư ngoại quốc đổ vào Việt Nam nhiều bằng tổng số đầu tư vào các nước Indonesia, Thái Lan, Phi Luật Tân và một số nước trong vùng. Nhưng chế độ Hà Nội không kịp tiêu hóa số lượng đầu tư quá lớn là một bài học mà giới kinh tế gia gọi là tính toán tài chính sai lạc.

“Việt Nam là trường hợp cổ điển về một nước nhỏ được thúc đẩy quá bạo”. Ruchir Sharma, phân tích gia về thị trường mới nổi của công ty Margan Stanley Investment Management ở New York, nhận định.

“Những kẻ cầm quyền hoặc chưa sẵn sàng hoặc không đủ khả năng tiếp nhận một lượng lớn tư bản ngoại quốc đổ tới trong thập niên qua.”

Tiền đầu tư đổ vào những dự án hạ tầng có vẻ hữu dụng như Cái Mép, các đường lộ và cầu từ Bắc chí Nam. Nhưng tiền cũng được đổ vào các dự án xây dựng cao ốc trong các thành phố. Nhiều đất nông nghiệp biến thành các khu công nghệ.

Tất cả các chương trình và công trình dồn dập, nay có rất nhiều tòa cao ốc bỏ hoang, các khu công nghệ chỉ có khoảng 810 ha là được sử dụng trên tổng số 3,645 ha “quy hoạch” xây dựng. Nông dân thì kiện cáo triền miên vì bị đẩy vào vòng đói khổ do đất đai sản xuất bị nhà nước tước đoạt rồi đền bù bằng những số tiền nhỏ. Họ ăn hết trong thời gian ngắn và không biết làm gì để sống.

Khi nền kinh tế thế giới chạy chậm lại, đầu tư ngoại quốc giảm dần từ năm 2008, các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, thay thế tư bản ngoại quốc, bơm tiền thúc đẩy tăng trưởng.

Phần lớn những đồng tiền này chạy vào các tập đoàn và tổng công ty quốc doanh gồm khoảng 100 công ty mà số nợ hiện lên đến $50 tỉ USD, bằng một phần ba tổng sản lượng quốc gia (GDP).

Thua lỗ triền miên, nợ khổng lồ

Một số đại gia quốc doanh này thua lỗ triền miên vì tham nhũng và vì đầu tư bừa bãi nhờ vào “tiền chùa” mượn nợ dễ dàng nhân danh nhà nước. Có dự án là có cơ hội chấm mút.

Việc bắt giữ Nguyễn Ðức Kiên, một trong những cổ đông lớn của một số ngân hàng thương mại, Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ngân hàng ACB và thêm một số ông khác gồm cả cựu Bộ Trưởng Trần Xuân Giá mới đây chứng tỏ hệ thống tài chính ngân hàng ở Việt Nam nhiều lỗ hổng.

Một bản phúc trình của Ủy Ban Kinh Tế Quốc Hội CSVN hồi đầu tháng 9, 2012 ước lượng phải cần số tiền đến $12 tỉ USD để giải quyết cái núi nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại trong khi dự trữ ngoại hồi của Việt Nam chỉ có khoảng $14 tỉ USD. Ðây là điều Hà Nội không thể tự giải quyết được nếu không tìm nguồn tín dụng nào đó từ bên ngoài. Nếu cứ in bừa bãi tiền thì sẽ dẫn đến lạm phát cao. Chế độ Hà Nội đã phải đối phó với lạm phát một cách khó khăn và cũng không hoàn toàn thành công.

Một trong những cách giải quyết mà Hà Nội nhắm tới là cố lôi kéo đầu tư ngoại quốc quay trở lại. Tuy nhiên, người ta chẳng mấy hào hứng cắn mồi. Tập đoàn đóng tàu Vinashin vay $600 triệu USD rồi ỳ ra không trả nợ và nhà nước tránh né trách nhiệm hậu thuẫn là một trong những thí dụ điển hình để họ suy nghĩ cẩn thận.

Thêm nữa, luật lệ tròng tréo và mù mờ ở Việt Nam gây khó khăn cho giới đầu tư ngoại quốc không ít. Ðó là chưa kể tham nhũng vòi vĩnh hối lộ rất phổ biến.

Sự thiếu khả năng tự tài trợ để giải quyết khó khăn và giới đầu tư ngoại quốc tránh né làm cho Hà Nội có ít giải pháp đối phó. Trong đó, không loại trừ khả năng phải bơm tiền ứng cứu trước khi hệ thống tài chính sụp đổ.

Ở tình thế như vậy, Hoa Thịnh Ðốn có thể giúp Hà Nội dàn xếp một món vay từ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) nhưng nếu chuyện này xảy ra, bài phân tích của Newsweek cho rằng “có thể đặt nền móng cho các tàu hải quân Mỹ quay lại cảng Cam Ranh”.

Dù sao, khi có tin Hà Nội cần sự trợ giúp tài chính của IMF, Ngân Hàng Nhà Nước đã vội vã cải chính là họ không cần.

Nếu tiền đến từ nguồn nào đó bên ngoài, nó phải có những điều kiện. Cải cách sâu rộng và triệt để, gồm cả việc giải tán đám quốc doanh “lời giả lỗ thật” và phải áp dụng chặt chẽ luật lệ minh bạch là những đòi hỏi để có tín dụng.

Nhưng những kẻ cầm quyền ở Hà Nội có chịu cải cách thật sự hay không lại là chuyện không dễ xảy ra, một chuyện đã bị các định chế tài trợ quốc tế áp lực từ khi có chương trình “đổi mới” đến nay vẫn chỉ thấy những cải cách nửa vời.

Cải cách thật sự có thể dẫn đến mất quyền lực, mất cơ hội tham nhũng. Cũng vì vậy mà Việt Nam từ triển vọng trở thành cọp lại chỉ thành một thứ mèo con bệnh hoạn.

Người Việt

Từ Con Hổ thành Con Mèo: Kinh tế Việt Nam đã lạc lối như thế nào

Rob Cox/Newsweek
Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ

Tuần này, gần đúng hai năm trước, Christine Gregoire, Thống đốc tiểu bang Washington của Mỹ đã ở Việt Nam để phát French Fries làm từ khoai tây trồng trong tiểu bang mình tại một cửa hàng Kentucky Fried Chicken tại thành phố Hồ Chí Minh. Gregoire, cùng với đại diện của hơn 50 công ty từ quê nhà, có mặt ở Việt Nam để nỗ lực cỗ vũ doanh thương cho người đối thủ cũ về quân sự của Mỹ. Tuy nhiên, điểm dừng chân quan trọng nhất trên hành trình của Gregoire có lẽ là buổi lễ cắt băng khánh thành trạm cảng nước sâu tại Cái Mép.

Dạo đó mọi thứ trông tràn trề hy vọng. Nhưng hiện nay, cuộc liên doanh ấy, cũng như rất nhiều công cuộc làm ăn khác ở Việt Nam, đã bị cản trở bởi các vụ bê bối và thủ tục quan liêu. Đấy là một câu chuyện buồn nhưng lại chẳng phải là điều không bình thường. Đất nước này từng trông thấy đã đi đúng đường để đạt được vị trí như một nền kinh tế con hổ ở châu Á, một phiên bản nhỏ hơn của người láng giềng khổng lồ Trung Quốc phía bắc. Quốc gia này tự hào có một dân số đông, trẻ trung, tỷ lệ biết chữ rất cao, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nông nghiệp tự cung tự cấp, một dải bờ biển dài sáng ngang với California hoặc Thái Lan, và một vị trí chiến lược trong bối cảnh các tuyến đường thương mại trong khu vực Thái Bình Dương. Thế mà, Việt Nam hiện đang ngày càng nhìn giống như một kẻ bế tắc vô dụng- và là một ví dụ cho các nước vừa nổi lên như Miến Điện hiểu chính xác được việc không tìm cách mở cửa kinh tế sẽ có hậu quả ra sao.

Cơ sở Cái Mép ở Bà Rịa – Vũng Tàu,nằm trên bờ biển phía nam khoảng 50 dặm từ thành phố Hồ Chí MInh, thủ đô thương mại của Việt Nam – có vẻ lý tưởng. Đấy là liên doanh giữa tập đoàn khai thác cảng Marine SSA Carrix tại Seattle Mỹ và Saigon Port, một bộ phận của National Shipping Lines , công ty vận tải biển nhà nước Việt Nam, được biết đến với tên Vinalines. Sau sáu năm được SSA chuẩn bị, hải cảng trị giá 160 triệu đã được Thống đốc Gregoire xức dầu thánh, hứa hẹn sẽ bù được vào khoảng trống rất lớn cho hạ tầng cơ sở của Việt Nam. Tuy nhiên, về sau này, dự án đã khốn khổ vì cú song cước quen thuộc với nhiều nhà đầu tư nước ngoài: cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu cùng với nạn tham nhũng trong đất nước này.

Số lượng tàu chở hàng ghé cảng và hai liên doanh nước ngoài khác do Vinalines điều hành đã giảm xuống một nửa trong quý thứ hai giữa bối cảnh của cuộc chiến dành giá cả giữa các nhà khai thác cảng khác đang gặp khó khăn với công suất chưa sử dụng hết. Và công ty Vinalines chìm dưới một lượng nợ quá lớn cùng một vụ bê bối về tham ô khiến đưa đến việc bắt giữ sáu giám đốc điều hành của nó trong tháng Bảy. Sau ba tháng bị truy lùng bởi Interpol, chủ tịch Dương Chí Dũng, người từng đứng đầu ngành quản lý công ty hàng hải này, đã bị bắt giữ ở nước ngoài và bị dẫn độ về Việt Nam vào tháng trước.

Tóm lại, Việt Nam đã đi từ việc không còn là đứa con cưng của đầu tư toàn cầu đến việc quản lý yếu kém. Quá nhiều tiền bạc đã đổ vào đất nước này trong thập kỷ qua, đặc biệt là sau khi nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào tháng Giêng năm 2007. Theo Ngân hàng thế giới, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào năm đó đã vượt qua số lượng tiền đô la đi đến Indonesia, Philippines, Thái Lan và các phần còn lại của khu vực hợp lại. Các tổ chức cộng sản còn yếu kém của đất nước không hấp thụ nổi tất cả các nguồn tiền ấy, dẫn đến một ví dụ trong sách giáo khoa mà các nhà kinh tế học gọi đặt đồng vốn sai chỗ.

“Việt Nam mang lại một trường hợp cổ điển của một nước nhỏ mang gánh một lực đẩy quá lớn”, theo Ruchir Sharma, tác giả cuốn Breakout Nations, lãnh đạo Morgan Stanley Investments ở New York cho biết. “Các nhà lãnh đạo của đất nước này không được chuẩn bị và cũng không có thẩm quyền để xử lý các dòng khởi động rất lớn của vốn đầu tư nước ngoài trong thập kỷ qua.”

Thoạt tiên, lượng tiền mặt đi vào các công trình xây dựng các cơ sở hạ tầng có vẻ hữu ích, chẳng hạn như cảng Cái Mép, các đường giao thông, cầu bắc ngang sông Hồng, sông Mekong và các đường cao tốc – mặc dù có rất ít dấu hiệu cho thấy có sự nâng cấp kể từ khi Mỹ rút đi từ năm 1973. Sau đó, lượng tiền vốn chảy vào các tòa nhà chung cư, bao gồm cả các khu nhà ở sang trọng. Nhiều công trình trong số này, đặc biệt là xung quanh thành phố Hồ Chí Minh, bỏ trống không người ở hoặc chưa thực hiện xong. Và đã có các khu công nghiệp được dùng để đón tiếp tất cả những nhà sản xuất nước ngoài, được xây dựng ở vùng ngoại ô của thành phố bằng cách thay các cánh đồng lúa và trang trại trồng bưởi của người nông dân. Thật vậy, riêng trong tỉnh Cửu Long đã có 20 công viên như thế trải dài khoảng 3.645 ha được xây dựng trên đất nông nghiệp trước đây. Tuy nhiên, theo một báo cáo từ các hãng tin Việt Nam chính thức, tính đến tháng Bảy, chỉ có 810 ha của các nhà máy công trường ấy được nước ngoài thuê mướn.

Tình trạng đầu tư quá mức này sẽ tạo ra một dư vị khó chịu của chính nó. Nhưng khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm sứt mẻ thương mại thế giới và làm chậm nguồn vốn đầu tư nước ngoài chảy vào đầu năm 2008, các ngân hàng của Việt Nam, bị chính phủ thúc giục mãnh liệt đã can thiệp vào để giữ cho lượng tiền vốn tiếp tục lưu thông. Theo tính toán của HSBC, trong sáu năm qua tín dụng đã tăng gấp bốn lần. Tệ hơn nữa, phần lớn số tiền này lại chảy vào các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả như Vinalines, dẫn đạo bởi các hệ thống cấu kết chân rết chính trị và các thành phần được hưởng lợi từ các kết nối tốt với một hệ thống đảng hư hỏng. Hãng thông tấn Reiters tính toán răng 100 công ty doanh nghiệp nhà nước lớn nhất hiện nay mắc nợ vào khoảng 50 tỷ USD, hoặc quá một phần ba GDP của nước này. Nếu một số các tập đoàn này sụp đổ – mà hầu như là sự thật sẽ đến chứ không phải cường điệu – có thể gây nên một cuộc khủng hoảng ngân hàng rất lớn.

Cuộc bắt giữ Nguyễn Đức Kiên, một trong những doanh nhân giàu nhất của đất nước, tiếp tục cho thấy hệ thống tài chính kém cỏi của Việt Nam. Kiên đã bị bắt giữ vì bị cáo buộc gian lận và quản lý kinh tế kém phát sinh từ những nỗ lực nhằm vực dậy ngân hàng Á Châu mà ông tạo dựng nên. Tin tức cho thấy đã có lượng người gửi tiền xếp hàng đến ngân hàng rút tiền ra, cổ phiếu giảm mạnh và gây ra một đột biến trong giá vàng bán lẻ, nơi trú ẩn truyền thống của người Việt Nam muốn dự trữ tiền.

Các khó khăn về ngân hàng của Việt Nam không chỉ giới hạn trong Ngân hàng Thương mại Á Châu, mà người sáng lập từng có mối quan hệ chặt chẽ với Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã gây ra suy đoán rằng Đảng Cộng sản đang dồn nỗ lực để trấn áp nạn tham nhũng trong chính phủ. Thống đốc Ngân hàng trung ương Nguyễn Văn Bình đã gây chấn động trên cả nước vào tháng Bảy khi ông cảnh báo rằng những khoản nợ xấu đã chiếm gần 9% tất cả các khoản vay – mâu thuẫn với số liệu chính thức từng đưa ra một vài tháng trước đó vốn cho biết các khoản nợ xấu chỉ lên tới 4%. Tuy nhiên, giới ngân hàng ngoại quốc cho biết con số thực tế có thể cao hơn nhiều.

Vì vậy, các ngân hàng cần được tiêm chích một liều vốn. Ngày 4 tháng 9, Ủy ban Kinh tế Quốc hội ước tính rằng khoảng $ 12 tỷ USD sẽ cần đến cho liều tiêm chủng ấy – nhưng đó có lẽ chỉ là lượng mở đầu. Với dự trữ ngoại tế quốc tế chỉ có khoảng 14 tỷ USD, theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), điều ấy thực không dễ dàng thực hiện . Chính phủ có thể chạy máy in tiền, nhưng giải phái ấy sẽ đánh vào tiền đồng của đất nước và đổ nhiên liệu vào nạn lạm phát mà chính quyền từng nỗ .lực với các thành công hỗn hợp để chế ngự.

Có một cách khác để cải thiện khó khăn là thu hút vốn đầu tư nước ngoài trở lại Việt Nam. Tuy nhiên, những người nước ngoài từng một thời nhiệt tình hiện đang rụt rè khi biết rằng mình đã bị con hổ ăn thịt. Năm nay đất nước này chỉ xoay sở chào mời được một loại trái phiếu quốc tế – một hợp đồng trị giá 250 triệu USD cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương của Viêt Nam, VietinBank. Sự kiện đó xảy ra vào tháng trước khi mọi điều trở nên tồi tệ như hiện nay, và ngay cả như vậy các ngân hàng đã chỉ tạo được một nửa số lượng trái phiếu mà họ dự kiến. Đấy là nỗ lực đầu tiên nhằm gây dựng vốn sau khi Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu Việt Nam Vinashin, đổ nợ với một khoản vay trị giá 600 triệu USD.

Tất cả những điều này, có thể được lập luận là xuất phát từ các nền tảng kinh tế kém cỏi. Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài bây giờ cũng ranh mãnh và có lý do khiến khiến không tin tưởng vào chính quyền. Ví dụ như, trong cuộc phá sản của Vinashin, Hà Nội đã không giải quyết đúng các khoản nợ của những gì rõ ràng là của một doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát, khiến gây ra các vụ kiện của giới chủ sở hữu trái phiếu bao gồm cả công ty đầu tư Elliott Associates tại New York.

Và nếu tất cả những chuyện đó tựa như nanh vuốt của quỹ bảo hộ (hedge fund) Mỹ, còn có những tình huống khác cho thấy mối nghi ngờ về cam kết với luật pháp của Việt Nam. Một trong những tình huống ấy, Tập đoàn Dệt may Quốc tế (ITG), thuộc sở hữu của ông trùm cổ phần tư nhân của Mỹ Wilbur Ross, đang chiến đấu với Phong Phú, công ty đối tác của mình trong một liên doanh may quần áo được hình thành từ sáu năm trước tại Đà Nẵng. Phong Phú được kiểm soát bởi Vinatex, Tập đoàn Dệt May Nhà nước Việt Nam. Cuộc tranh chấp về các cam kết tài chính, lẽ ra phải được giải quyết thông qua trọng tài tại Singapore. Tuy nhiên, các thành phần chính phủ thông cảm với Vinatex đã gây áp lực các tòa án Việt Nam phải giải quyết những vấn đề giữa hai công ty. Việc tham gia của tòa án Việt Nam đã mâu thuẫn trực tiếp với thoả thuận của các bên để được phân xử ở Singpore.

Sự kết hợp giữa nguồn lực tài chính trong nước bị khan hiếm và thái độ gần như tẩy chay của các nhà đầu tư quốc tế khiến Việt Nam không còn bao nhiêu lựa chọn. Sư tình cho thấy không thể loại trừ một gói cứu trợ hay tương tự. Dù Trung Quốc có nguồn vốn nhưng thật khó để tưởng tượng người Việt Nam có thể đầu hàng dù một chút mảy may chủ quyền của mình cho kẻ thù lịch sử. Hoa Kỳ, vốn đang nhích gần lại Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác như một bức tường thành nhằm chống lại sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực, dù giàu có nhưng cũng có vấn đề tài chính của riêng mình. Tuy nhiên, Washington có thể dễ dàng hỗ trợ trong việc hình thành một gói tài trợ của IMF. Một cuộc dàn xếp như thế thậm chí có thể đặt nền tảng cho việc các tàu hải quân Mỹ quay trở lại các hải cảng như vịnh Cam Ranh của Việt Nam .

Dù bằng cách nào, cuộc vỡ cơn mộng thành Hổ hiện tại cho thấy rằng bất cứ khoản tiền nào chảy vào Việt Nam cũng nên đi theo một sự ràng buộc. Cải cách sâu sắc, bao gồm tư nhân hóa các doanh nghiệp quốc doanh ì ạch của đất nước và sự tuân thủ hơn các quy định của pháp luật sẽ phải được yêu cầu đến. Cả hai sẽ làm khó chịu giới cầm quyền, vốn đang chạy những chiếc Porsche và Bentley tranh đua với xe kéo với xe đạp trên các đường phố tắc nghẽn của Hà Nội cũ. Người Việt Nam với lòng tự hào chính đáng sẽ không muốn nhường nhịn nhiều đến ảnh hưởng cũa những tổ chức tương tự như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Nhưng nếu họ có thể tìm được cách để thay đổi mọi thứ cho tốt hơn một cách thận trọng, họ vẫn chưa mang lại được một ví dụ tích cực hơn so với Miến Điện và các nền kinh tế mới nổi khác.

Nguồn: The Newsweek