Tìm một minh quân

Posted on December 26, 2012

0



Việt Nam thiếu vắng lãnh đạo đối lập

Tôi luôn nghĩ: Phong trào Dân chủ Việt Nam hiện nay đang thiếu một nhà lãnh đạo. Nhưng có ý kiến lại cho rằng: “Một người lãnh đạo sẽ không sớm thì muộn lại đưa Việt Nam vào chế độ độc tài”. Một số khác thì quả quyết: PT Dân chủ cần sự ủng hộ của quần chúng, chứ không cần một người lãnh đạo. Sau những diễn biến Dân chủ hóa ở Miến Điện, chính một trong số những người đã từng bác bỏ quan điểm của tôi, lại ca ngợi bà Aung San Suu Kyi như một “lãnh tụ có tâm, có tầm”.

Điều kiện ở Việt Nam hiện chưa phù hợp để có một lãnh tụ đối lập?

Điều kiện ở Việt Nam hiện chưa phù hợp để có một lãnh tụ đối lập?

Một phủ nhận mâu thuẫn

Làm sao chúng ta có thể một mặt, phủ nhận tầm quan trọng của một người lãnh đạo PT dân sự đòi Dân chủ ở Việt Nam, vừa hồ hởi tung hô vai trò của một “người hùng” ở nước khác? Sự phủ nhận đầy mâu thuẫn ấy, chỉ là cách để chúng ta biện minh cho những khó khăn, yếu kém khó vượt qua của mình, cũng là cách thể hiện sự thiếu hiểu biết trong so sánh tình hình nước ta với nước khác. Sự lo sợ về một chế độ độc tài hậu Cộng Sản không phải là lý do chính đáng (chưa nói đến sự khác biệt rất lớn giữa lãnh đạo và lãnh tụ). Khi chúng ta ca ngợi không tiếc lời bà Suu Kyi, chúng ta có nghĩ bà sẽ trở nên độc tài? Thiết nghĩ, Độc tài hay không, không phải do sự hiện diện của người lãnh đạo mà thành, nó là kết quả của nhiều nguyên nhân: sự yếu kém về ý thức Tự do và khát vọng Dân chủ của người dân, sự yếu kém của Xã hội Dân sự, tính chất của trào lưu chính trị trong khu vực và việc có hay không sự can thiệp của một quốc gia độc tài lớn hơn…

Khi chúng ta đề cao vai trò của lãnh đạo đối lập MĐ như là một người sáng suốt, “giữ được cân bằng để vừa đấu tranh kiên trì, vừa đối thoại để tạo lối thoát cho chính quyền độc tài”; chúng ta đã cố tình bỏ qua vai trò trọng tài của người Mỹ. Có thể người Mỹ không giúp được gì trong việc xây dựng Dân chủ (công việc cần nhiều nội lực), nhưng không thể bác bỏ vai trò trọng tài của họ trong cuộc chuyển hóa này. Vai trò ấy đặc biệt quan trọng để đảm bảo hai bên Độc tài- Dân chủ có đủ cơ sở để tin nhau, để đi đến đối thoại. Nếu không có người Mỹ, không ai dám đảm bảo bà Suu Kyi sẽ không bị thua thiệt khi tiến hành đối thoại. Hãy đặt trường hợp Việt Nam, bạn muốn đối thoại với người cộng sản, sớm muộn bạn sẽ nhận ra bạn bị họ dắt mũi. Hay bạn có thể tưởng tượng, kết quả ở MĐ sẽ thế nào nếu Trọng tài không phải là Hoa Kỳ mà là Trung Quốc?

PT đấu tranh có lãnh đạo không những giúp gắn kết các cá nhân, các nhóm hoạt động tạo thành một tập hợp đủ mạnh, đối trọng với chính quyền độc tài; cổ vũ thành phần tiến bộ trong chế độ độc tài sớm phản tỉnh để gia nhập trào lưu tiến bộ; mà còn giữ cho chính trường hậu độc tài không bị thao túng bởi các thế lực chính trị cơ hội. VN chưa có được may mắn đó nên khó có thể chuyển hóa không đổ vỡ. Nhưng vì sao chúng ta chưa có được điều tốt đẹp mà người MĐ đã có?

Vì sao thiếu vắng một người lãnh đạo?

Độc tài Cộng Sản là một dạng độc tài tinh vi và có hệ thống hơn hẳn dạng “gia đình trị” và quân phiệt. Họ có một mô hình cai trị sắt máu nhưng mị dân đã được kiểm chứng “tính hiệu quả” trên một diện rộng quốc tế và trong một thời gian dài. Với hệ thống mật vụ đặc trưng của mọi chế độ Cộng Sản, chính quyềnVN có thể kiểm soát tất cả hoạt động và quan hệ trong xã hội. Sự len lỏi và khống chế toàn bộ xã hội của hệ thống an ninh làm biến dạng mọi mối quan hệ thông thường. Sợ hãi và thiếu niềm tin lẫn nhau làm cho các cá nhân tồn tại rời rạc, thiếu hẳn những gắn kết cộng đồng, đặc biệt là trong những vấn đề liên quan đến chính trị. Người ta không thể làm việc với nhau, chia sẻ những giá trị và ý nguyện trong các vấn đề chung một cách hiểu quả nếu không phân biệt được người đang làm việc với mình là một người bạn tâm đắc hay là một “anten”. Và sẽ là thiếu sót nếu không nói đến mô hình cai trị “đỉnh cao trí tuệ” của CS trong cách họ đưa tất cả các hội đoàn dân sự vào hệ thống chính trị để chúng trở nên công cụ đắc lực theo dõi và kiểm soát xã hội. Không một tổ chức nào có thể phát khởi lên trong một môi trường bị đầu độc hoàn toàn như thế. Mà dù có xuất hiện thì cũng khó tồn tại trong một thời gian đủ dài vì các âm mưu gián điệp sẽ phá vỡ mọi kế hoạch và chương trình hoạt động của tổ chức đó. Không có sự kết hợp vững chắc và sự phát triển lâu dài của một tổ chức hay nhiều tổ chức hợp lại với nhau thì nhu cầu hiện diện một nhà lãnh đạo chung cho cả phong trào sẽ không được đặt ra.

Tôi tự hỏi Đảng NLD của bà Suu Kyi làm sao để quy tụ được hàng ngàn người trước khi các nhà hoạt động ấy bị bắt? Bà đã đọc diễn văn trước hàng ngàn người ủng hộ trước khi cuộc đàn áp đẫm máu diễn ra. Điều này làm tôi liên tưởng đến cảnh một nhà đấu tranh uy tín ở Việt Nam không thể bước ra khỏi nhà để tham gia một cuộc xuống đường yêu nước. Chế độ độc tài Miến Điện vẫn còn thua xa CSVN về sự đàn áp tinh vi. CSVN không bao giờ để cho một cuộc tập hợp đông đảo xung quanh một nhân vật có uy tín như vậy xảy ra, vì thế họ không có nhu cầu phải giải tán đám đông bằng súng đạn. Cách làm này vừa hiệu quả, vừa ít gây phẫn nộ trong nước cũng như quốc tế.

Có thể có thêm một vài nguyên nhân khác như: Thứ nhất, lịch sử chia cắt và những tổn thương sâu sắc sau “cuộc chiến ý thức hệ” đã chia rẽ toàn khối người Việt thành hai nhóm lớn. Một bên coi cộng sản là tội ác chống nhân loại (điều này có bằng chứng), một bên cho rằng, dù có sai lầm hiện tại, nhưng CSVN vẫn có chính nghĩa khi nắm quyền cai trị sau những cuộc “đấu tranh giành độc lập”. Đơn giản, họ có những “tâm tình” khác nhau đối với sự thật về người Cộng Sản. Cho dù sự thật khốn nạn về người Cộng Sản được phơi bày thì những thành kiến cũng ngăn cản người ta công nhận nó. Hai thái độ khác biệt đó khiến chúng ta khó tìm được sự đồng thuận để đứng cùng nhau trong một tập hợp có phạm vi cả nước, để rồi có nhu cầu đưa lên một người lãnh đạo. Thứ hai, ý chí và nguyện vọng tự do của người dân Việt nam còn rất yếu. Người lãnh đạo nào có thể quy tụ được những con người thờ ơ với vận mệnh của chính mình? Người lãnh đạo nào, dù can đảm và xuất sắc đến đâu, có thể có được sự quan tâm và ngưỡng phục chấn động thế giới nếu ông (bà) ta là một cá nhân hoàn toàn đơn độc?

Những so sánh cần thiết

Chúng ta than thở rằng VN không có một lãnh đạo đủ uy tín, tài đức và sự dũng cảm như Daw Suu. Nhưng có khi nào chúng ta tự hỏi: bà đã xuất hiện như một vận may của MĐ để quyết định cơ hội dân chủ hóa, hay chính những người dân Miến Điện dũng cảm, khao khát tự do dân chủ đã quy tụ xung quanh bà, tạo nên điều kiện thuận lợi và uy tín cho bà?

Về sự dũng cảm, Việt Nam không thiếu những con người dũng cảm đã dấn thân và hy sinh 10, 20, thậm chí 30 năm trong tù. Tôi không muốn dùng những lời ca ngợi sáo rỗng cho bất cứ cá nhân nào, nhưng sẽ thiếu sót nếu chúng ta quên những người đã đấu tranh từ những ngày đầu sau năm 1975. Bác sĩ Nguyễn Đan Quế là một trong những người như thế, ông vẫn bám trụ ở Việt Nam, vẫn đồng hành với những người đấu tranh trong nước mấy mươi năm nay.

Bà Suu Kyi có bằng cấp khoa bảng, có dũng khí, yêu nước và ôn hòa; bác sĩ Quế không thiếu những tố chất này. Vậy sao bà có sự ủng hộ của quần chúng và uy tín lớn trên thế giới – điều mà bác sĩ Quế chưa có được? Xin hỏi: làm sao một người lãnh đạo có thể tranh thủ được sự ủng hộ của một khối người sợ hãi và cam chịu? Làm sao một nhà đấu tranh có thể quy tụ được quần chúng khi không thể nào tiếp cận được với họ? Làm sao nhà đấu tranh ấy trở nên một lãnh đạo dân sự gây được tiếng vang nếu không có một tổ chức lớn mạnh, đấu tranh kiên trì đứng sau lưng ông (bà) ta? Đặt ra câu hỏi như thế, chúng ta mới thấy rằng chính bản thân bà Suu Kyi không thể tự tạo ra một mãnh lực kỳ diệu để thu hút quần chúng nếu người dân không chủ động bước ra khỏi sợ hãi để đến với bà; và chính bà cũng sẽ không gây được sự chú ý quốc tế nếu đảng NLD không hề tồn tại hoặc tồn tại trên danh nghĩa (vì bị chính quyền MĐ dập tắt từ trứng nước).

Còn nếu chúng ta nói về xuất thân, bà Suu Kyi tất nhiên có lợi thế có một không hai. Nhưng lợi thế ấy e rằng sẽ chẳng phát huy tác dụng ở một đất nước đầy sợ hãi như Việt Nam. Chưa nói đến chuyện: với sự chia rẽ ý thức hệ từ quá khứ đến nay, một người anh hùng dân tộc thực sự rất nhiều khả năng bị một số lớn người phủ nhận, do cách đánh giá khác nhau về lịch sử. Bằng chứng là những người CS từng coi Phan Chu Trinh là “nhà cải cách cải lương”. Một người như cha bà Suu Kyi mà ở VN biết đâu sẽ bị gọi là Việt gian? Vả lại, khi coi trọng xuất thân, chúng ta đang gián tiếp thừa nhận mình cần một nhà lãnh đạo xuất thân trâm anh? Chúng ta muốn con cái một người lãnh đạo, một anh hùng dân tộc lại tiếp tục lãnh đạo? Tâm lý đó không thích hợp với những người thực sự khao khát tự do, thực sự muốn quyền làm chủ quốc gia thuộc về người dân.

Một cuộc thay đổi ôn hòa với sự hiện diện của nhà lãnh đạo đối lập, sớm muộn sẽ đưa những nhà độc tài có tội ra trước vành móng ngựa. Nhưng lãnh đạo đối lập có khả năng và uy tín lớn để hướng sức mạnh quần chúng vào dựng xây nền DC, kiềm giữ sự phẫn nộ của họ để không phí sức lực vào những trả thù cá nhân. Bằng không, những cựu lãnh đạo độc tài sẽ trở thành mục tiêu của sự báo thù, vì những bất công và tội ác đã đưa oán hận lên đến cực điểm. Tất nhiên, họ xứng đáng phải trả giá, nhưng vì sự ổn vững của nền Dân chủ, vì sự tập trung sức lực để xây dựng nền DC non yếu, vì sự đảm bảo không xảy ra tình trạng vô chính phủ và sự tác oai tác quái của các thế lực chính trị cơ hội, chúng ta cần mọi thứ được giải quyết công khai, công bằng và bằng pháp luật.

Nhưng điều đó là mong ước khá mơ hồ ở VN. Sự thiếu vắng một người lãnh đạo hiện nay không chỉ gây khó khăn cho sự phát triển PTDC mà còn là một lực cản lớn cho nỗ lực chuyển hóa Dân chủ không đổ vỡ.  Những người cộng sản đã tính rất kỹ để dập tắt PT đối lập bằng mọi cách mọi giá, không cho nổi lên bất cứ một lãnh đạo nào có khả năng đe dọa vai trò  lãnh đạo của họ. Nhưng khi “hữu sự”, già quá hóa non. Họ sẽ phải trá giá vì những toan tính “cáo già” của họ

Huỳnh Thục Vy

Buôn Hồ, ngày 24 tháng 12 năm 2012

Đứng chung một thuyền có là ảo tưởng?

Thời sự Việt Nam gần đây cho thấy nhà nước cộng sản quả thật đang bối rối và bế tắc trong việc tìm ra cho mình một sinh lộ. Những động thái vá víu vội vã như: ‘phê, tự phê’ từ cấp trung ương đến địa phương; kêu gọi ổn định đoàn kết nội bộ; sau đó là những đợt ra quân tuyên truyền và đe dọa về sổ hưu, về sự trả thù của thế lực thù địch khi dành lại chính quyền… Cuộc tuyên truyền lan đến cả các trường đại học, cao đẳng, các công sở thôn làng như một chiến dịch quốc gia nhằm níu kéo những người đã và đang phục vụ cho chính quyền cộng sản. Mục đích cũng để đối phó với sức mạnh nói lên sự thật của truyền thông lề trái, lề dân đang ngày càng khẳng định sức mạnh của mình, cũng như sức mạnh và lòng kiên cường đấu tranh của các nhà dân chủ trong nước.
425979_362094197157549_100000709166165_1158898_525342438_n-600x521
ĐCSVN thật sự đã chết đứng như lời ông Nguyễn Gia Kiểng đã viết ‘Đảng cộng sản Việt Nam đã chết’, và phía sau cái xác chưa chôn là một tập đoàn mafia đỏ đang cố gắng lợi dụng từng giây phút để tích góp của cải và dọn đường cho cuộc trốn chạy. Đây chính là thời cơ thuận lợi cho nhân dân Việt Nam dành lại quyền làm chủ đất nước. Chỉ cần một sự kết hợp nhuần nhuyễn đoàn kết tất cả mọi người, mọi tổ chức trong và ngoài nước để cùng làm một bước tiến đột phá, thành công sẽ đến trong nay mai.

Đồng lòng và đồng thuyền.

Toàn dân Việt đang quằn quại rên siết dưới sự cai trị bạo ngược tàn ác của tập đoàn mafia đỏ, một tập thể sẵn sàng bán đứng đất nước cho ngoại bang để được tiếp tục cai trị và làm giàu trên xương máu của dân tộc. Mọi người con dân Việt Nam đều đã đồng lòng mong muốn đập tan xiềng xích do chế độ này cột bó trói buộc, ngay cả những người đã nhiều năm hay suốt cuộc đời phục vụ cho ĐCSVN.

Từ nhiều năm nay, không ít người đã kiên cường đấu tranh cho quyền con người, cho một VN dân chủ dù biết rằng trước mắt là tù đày đánh đập. Những hành động can đảm của họ đã thức tỉnh rất nhiều người thuộc nhiều giới khác nhau, tuy thế khách quan nhìn nhận sự nguy hiểm của họ với chế độ chưa đủ để làm lung lay tập đoàn cộng sản. Ngược lại nhà nước cộng sản đang lo sợ cho tương lai khi sự phẫn uất lan rộng và nhanh cùng với sự đoàn kết một lòng của dân Việt trong và ngoài nước sẽ trở thành một sức mạnh dời sông lấp biển và chắc chắn chế độ cộng sản sẽ bị xóa sổ. Điều nhà nước cộng sản đang lo sợ chính là điều dân Việt Nam còn thiếu. Mọi người đã đồng lòng nhưng chưa cùng đồng thuyền.

Trong nước có những suy nghĩ cho rằng sứ mệnh cứu nguy đất nước trước sự độc tài tàn ác của ĐCSVN đang đưa dân tộc vào suy tàn và mất nước là của những nhà đấu tranh trong nước bằng chính những gì mình đang có. Họ có đủ tình và lý để trở thành một lãnh tụ hay một mẫu mực tiêu biểu cho mọi người. Họ đã nằm gai nếm mật, hy sinh chịu đựng mất mát và đau thương vì công khai đấu tranh với chính quyền cộng sản.

Ngoài luồng suy nghĩ trên, sức mạnh của những phong trào đấu tranh trong nước chưa đoàn kết và tập trung để trở thành một tổ chức có kế hoạch và chiến lược. Mỗi người, mỗi nhóm, mỗi phong trào tự làm theo ý của mình nhiều khi hoàn toàn cách biệt và độc lập với những nhóm khác. Vấn đề này nhìn chung là một kết quả tốt đẹp vì nền tảng của những cuộc đấu tranh bắt nguồn từ những hội đoàn, tổ chức riêng rẽ trong một xã hội dân chủ, nhưng nhìn về lâu dài và phải đối phó với sự tàn bạo của chính quyền cộng sản được trang bị vũ khí đến tận răng, sức mạnh của cuộc đấu tranh sẽ bị chia mỏng, yếu đuối trước sức mạnh đàn áp của chính quyền đưa đến kết quả là hy sinh quá lớn và nhiều khi uổng phí. Những nhà đấu tranh trong nước đã anh dũng hát khúc dạo đầu cho công cuộc nổi dậy của toàn dân, nhưng phần chính của bản anh hùng ca này phải được mọi người cùng tấu xướng trong cũng như ngoài nước. Nếu không sẽ còn rất lâu và rất lâu cuộc đấu tranh vẫn dừng lại ở khúc nhạc dạo đầu.

Bên ngoài, các tổ chức chính trị đều có cùng một lý tưởng tranh đấu cho dân chủ Việt Nam. Nhưng nhiều khi người ta có cảm tưởng như họ đấu tranh cho ‘cương lĩnh’ và tổ chức của mình qua những hành động và lời nói xỉa xói, bới móc, chê trách của một số người đối với các phe nhóm khác, hay tốn phí thì giờ cho những tranh luận xa vời, hoặc lá cờ nào của phe đối lập là chính ngôn, cũng như không ít lần miệt thị những tổ chức khác cùng lý tưởng nhưng không cùng quan điểm. Tuy thế, không thể phủ nhận sự dấn thân nhiệt tâm cao thượng của những người trong các tổ chức này cho một Việt Nam dân chủ. Họ không nằm gai nếm mật, không sợ công an nhà nước truy nã, làm khó, bao vây kinh tế nhưng họ đã dành nhiều thì giờ thay vì để làm kiếm thêm tiền hay lo lắng cho gia đình, mọi thì giờ đều dành cho công cuộc đấu tranh với những kỳ họp định kỳ, những phát động chiến dịch giúp đỡ người bị nạn trong nước.

Đất nước đang cần một sự đồng thuyền đoàn kết của tất cả con dân Việt Nam, của tất cả các tổ chức đang đấu tranh cho dân chủ trong và ngoài nước.

Khi cùng thuyền, sự sống và chết của từng cá nhân sẽ là của những người khác.
Khi cùng thuyền sức, mạnh sẽ gia tăng vượt bực để con thuyền tiến nhanh đến đích.
Khi cùng thuyền, mọi người sẽ đấu tranh có tổ chức và mục tiêu rõ ràng cùng với chiến lược và chiến thuật được điều hành hoạch định bởi những người cầm lái.

Khi đồng thuyền, sức mạnh của những người đấu tranh trong nước sẽ được nhân lớn với sự đoàn kết đồng hành một lòng của người Việt ở nước ngoài, một sức mạnh thuận lợi để đi đến thành công.

Toàn dân đã đồng lòng, khi nào chúng ta sẽ cùng xuống đứng chung một thuyền dơ cao tay đập tan chế độ cộng sản tại VN?

Một đề nghị.

Dân tộc Việt Nam không thể sống bằng sự an ủi và hy vọng qua những phát biểu mang đầy tính cách ngoại giao của các nước trên thế giới. Sự quan tâm, quan ngại của họ về tình hình người Việt bị đàn áp vì đòi dân chủ, bị tước đoạt quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và quyền làm chủ đất nước hay bị kết án oan ức là điều rất tốt và thuận lợi cho công cuộc đấu tranh, nhưng họ sẽ không thể trực tiếp thay dân ta đập tan chế độ. Trách nhiệm đó của toàn dân Việt Nam, mỗi người chúng ta có trách nhiệm với đất nước của mình.

Người viết xin mạnh dạn đề nghị một phương cách khởi đầu để tất cả chúng ta cùng đồng lòng và đồng thuyền đấu tranh cho đất nước Việt Nam được tự do thoát ách cai trị độc tài của chế độ cộng sản:

1. Mỗi tổ chức đấu tranh cho dân chủ Việt Nam ở nước ngoài trên khắp thế giới không phân biệt lớn hay nhỏ đề cử 5 người vào tổ chức chung, tên gọi của tổ chức này do thành viên của mình quyết định.

2. Tổ chức chung sẽ mời gọi một cách bí mật những nhà đấu tranh tại Việt Nam tham gia, tên tuổi của họ sẽ được giữ kín cho đến thời điểm thuận lợi để được công khai.

3. Tổ chức chung sẽ tổ chức cho các đại biểu tự ứng cử vào ban lãnh đạo có dịp thuyết trình về quan điểm, phương cách và chiến lược của mình cho công cuộc đấu tranh chung cùng với sự chất vấn góp ý của toàn thể. Sau đó tổ chức chung sẽ tiến hành bầu phiếu kín chọn một số người vào ban lãnh đạo. Ban lãnh đạo sau khi được bầu sẽ chọn một cách bí mật những người đang đấu tranh ở VN đưa vào danh sách ban lãnh đạo. Những cá nhân trong nước được chọn phải được biết và họ có quyền chấp thuận hay phản đối.

4. Tổ chức chung sẽ soạn thảo cương lĩnh và sẽ công khai thông báo sự hình thành tổ chức của mình trên mọi phương tiện truyền thông quốc tế.

5. Tổ chức chung sẽ thông báo cơ quan ngôn luận chính thức của mình.

6. Công đoạn khởi đầu cần có một người có uy tín hay được nhiều người ủng hộ để mời gọi những tổ chức khác tham gia.

Người viết đề nghị ông Nguyễn Gia Kiểng, người lãnh đạo Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Bạn đọc có quyền đề nghị người mình tín nhiệm.

Vấn đề chọn người đứng đầu trong giai đoạn khai mào sẽ dễ dàng hơn khi chúng ta có được ít nhất 5 người. Nhóm này sẽ gặp nhau để chọn ra người tạm thời điều hành thành lập tổ chức chung, nhiệm vụ của người đứng đầu đến đó là hết, nhường chỗ lại cho người được ban lãnh đạo tổ chức chung bầu lên. Đây là phần khởi đầu. Những gì còn lại người viết xin dành cho ban lãnh đạo tổ chức chung hoạch định.

Nhiều người sẽ cho rằng đề nghị của người viết là hoang tưởng và buồn cười dám múa rìu trước những nhà thông thái, những học giả chuyên môn, những chính trị gia danh tiếng. Nhưng sự thật rõ ràng là: nếu chúng ta không dành lấy thời cơ thuận lợi khi kinh tế Việt Nam đang tuột dốc, khi lòng người dân Việt đang phẫn uất, khi nội bộ đảng cộng sản đang rối loạn, khi đất nước đang bị ngoại xâm, khi cộng đồng quốc tế đang ủng hộ để đánh sập chế độ cộng sản độc tài… thì chúng ta sẽ phải chật vật khó khăn gian nan hơn khi đảng cộng sản củng cố được thế lực, khi sự hao mòn những nhà đấu tranh trong nước vốn đã ít sẽ đến giai đoạn còn ít hơn, hay tất cả đã vào tù ngục. Đây cũng là giai đoạn để các tổ chức quên đi cái riêng của mình để hòa chung vào sứ mệnh cứu nguy dân tộc.

Bài viết này bỏ ngỏ không có kết luận. Xin mọi người góp ý.

Bắc Trung Nam

Tại Sao Nên Xem “Bên Thắng Cuộc” ?

Hồi Tưởng 30 Tháng 4 năm 1975

Tối 29, tôi nằm cạnh khẩu carbine lắng nghe tiếng súng từ xa vọng lại. Cha tôi một đoàn viên Nhân Dân Tự Vệ được giao khẩu súng này và cho tôi sử dụng. Tôi thầm nghĩ nếu Việt cộng tấn công Sài Gòn tôi sẽ nổ đến viên đạn cuối cùng.

Sáng 30, tiếng của Tổng Thống Dương Văn Minh Tuyên Bố bàn giao chính quyền. Trong nhà, mẹ tôi cẩn thận cuốn nhỏ lá cờ vàng dấu kỹ dưới đáy giương quần áo. Ngòai ngõ mặc cho lời kêu gọi buông súng một đội quân hỗn hợp, dẫn đầu là một sỹ quan Dù vẫn tiếp tục tuần tra bảo vệ cư dân.

Tối 30, mở truyền hình xem tin tức, người xướng ngôn viên với khuôn mặt, cử chỉ và giọng đọc đằng đằng sát khí phát đi thông báo của “chính quyền cách mạng”. Hôm sau khuôn mặt này biến mất, những khuôn mặt mới bắt đầu xuất hiện.

Sáng 1, tôi trà trộn vào những đòan người tiếp xúc với đòan quân Bắc Việt vào “Giải Phóng” miền Nam.
Mồng 2, tôi trở lại ngôi trường Petrus Trương Vĩnh Ký bạn bè kháo nhau Võ văn Kiệt lấy trường tôi làm Tổng Hành Dinh. Về nhà tôi nói với cha tôi, tôi sẽ tiếp tục chiến đấu. Cha tôi cho biết tôi đã lớn có quyền quyết định cho chính mình.

Từ đó tôi chưa bao giờ xem mình là người thua trận và cũng chỉ xem những người bên kia như những “kẻ chiếm đóng”. Muốn lấy lại quốc gia cần phải hiểu giặc. Tôi tự phát triển phương cách để đọc sách báo cộng sản. Có bài họ viết như thế nhưng mình phải nghĩ ngược lại. Họ viết như thế này để che dấu điều gì ?  Họ viết như vầy nhưng để thông tin chuyện chi ? Tôi nhanh chóng trở một “bình luận gia” chính trị “nói có sách mách có chứng”.

Tôi yêu Sài Gòn nơi tôi lớn khôn với hơn 7 năm sống chung với “lũ”. Tôi thấy lại hình ảnh Sài Gòn đầy ắp trong quyển sách “Bên Thắng Cuộc”. Tôi đếm được 494 lần Sài Gòn được nhắc đến trong khi chỉ 118 lần tên của một người đã chết được dùng.Lạ thật tại sao Huy Đức lại luôn nhắc đến Sài Gòn trong tác phẩm của mình ? Sài Gòn vẫn sống trong tôi, có phải cũng sống trong lòng Huy Đức ?

Ngay khi xem một vài chương giới thiệu quyển sách tôi đã góp ý Huy Đức như sau:Quyển sách đã và sẽ tạo nhiều tranh luận, Huy Đức ráng thu thập mọi ý kiến từ mọi phía, để rút kinh nghiệm cho quyển II. Riêng mình nhận xét quyển sách sẽ có ảnh hưởng sâu rộng tại Việt Nam.” Cái tựa đề ngạo nghễ “Bên Thắng Cuộc”, cái lý lịch sỹ quan quân đội cộng sản, việc trích những bài báo tuyên truyền cộng sản tự nó đã tạo nên những phê phán bình luận.

Đã có khá nhiều nhận xét về “Bên Thắng Cuộc”, riêng tôi rất quan tâm đến lịch sử cận đại. Tôi đã phổ biến nhiều bài viết về lịch sử, về các nhân vật lịch sử như Hòang Đế Bảo Đại, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đức Thầy Hùynh Phú Sổ và Hồ Chí Minh, vì thế tôi sẽ bình luận “Bên Thắng Cuộc” từ góc cạnh này.

Sai Lầm “Bên Thắng Cuộc”

Đầu tiên Huy Đức đã để lại khá nhiều lỗi lầm dù nhỏ nhưng rất dễ nhận ra và rất dễ để kiểm chứng. Lấy thí dụ, khi viết về vượt biên trại Terengganu à ở Mã Lai không phải ở Thái Lan hay tên trại Sungai Besi Mã Lai không phải là Sungeipesi như trong sách đã viết. Địa danh mà sai như vậy tự nó đã giảm giá trị của quyển sách.

Thứ đến Huy Đức đã sống và trưởng thành trong tuyên truyền cộng sản nên không thể nhận ra những sai lầm trong mớ thông tin Huy Đức đã tổng hợp. Lấy thí dụ, Huy Đức trích dẫn như sau: ‘Tháng 7-1946, Hồ Chí Minh tới Fonteinebleau. Khi những người Việt Nam trong Đảng Cộng sản Pháp giới thiệu những đảng viên người Khmer với phái đoàn Việt Nam và đề nghị họ “đi gặp Bác Hồ”, Thiounn, người về sau là một bộ trưởng của Pol Pot, nói: “Chúng tôi trả lời, ông ta không phải là bác của chúng tôi. Họ lại bảo, chúng ta là anh em, các bạn nên thể hiện sự tôn trọng, nhưng chúng tôi cũng từ chối”.’

Vào tháng 7-1946, mặc dầu khi ấy Hồ chí Minh chỉ hơn Huy Đức và tôi vài tuổi, Hồ chí Minh đã tự tạo danh từ “Cụ Hồ” cho mình. Đến những năm đầu 1950, khi “Cụ Hồ” được triều kiến “Ông Mao”, “Ông Stalin”, để tỏ lòng sùng bái hai ”Ông” kia, “Cụ Hồ” tự mình xuống chức “Bác Hồ”. Thậm chí câu chuyện “đi gặp Bác Hồ” ở trên có thể chỉ là câu chuyện bịa, rồi được đưa vào sách của Ben Kiernan, 1996, trang 10 rồi Huy Đức nói có sách mách có chứng trong “Bên Thắng Cuộc”.

Lời lên tiếng của Thiếu tá Tiểu Đoàn phó Tiểu Đoàn 7, Thủy Quân Lục Chiến, Lê Quang Liễn là một dẫn chứng về việc ngụy tạo thông tin:

Thật ra toàn bộ anh em Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) đã bị bắt, nếu anh em chúng tôi ra hàng thì đã được hưởng qui chế đãi ngộ hàng binh như Phạm Văn Đính và một số đồng bọn thuộc Trung Đoàn 56. Vả lại, đơn vị chúng tôi lúc đó thuộc quyền của Bộ Tư Lịnh Tiền Phương Quân Đoàn I. Ở đây, vị Tư lịnh TQLC không có trách nhiệm nào hết. Người chịu trách nhiệm là Trung Tướng Lâm Quang Thi mới đúng nghĩa hơn. Khi viết toàn bộ ra hàng là điều cố tình hạ nhục anh em chúng tôi khi thất thế !!!

“Nếu ông Huy Đức biết rõ thêm về tôi là người tù cuối cùng của Lữ Đoàn 147 TQLC ra khỏi trại tù ngày 12 tháng 2 năm 1988 sau gần 13 năm tù ngục với 4 năm 7 tháng 24 ngày bị “kiên giam” còng tay, chân, bị đánh gảy xương sườn vì những chống đối tập thể trong Trại tù Bình Điền, Thừa Thiên. Thì phần trích dẫn từ bài viết của tên nhà báo Phan Xuân Huy là thiếu trách nhiệm.

“Tôi biết Phan Xuân Huy là thành phần đối lập cơ hội với chế độ VNCH trước năm 1975 mà tôi tận trung phục vụ. Có lẽ trong những ngày tháng đầu sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Phan Xuân Huy-cũng như một số người nhẹ dạ – vì muốn tìm chỗ đứng an toàn trong lòng chế độ mới bằng những bài viết, những câu nói , với những nhận thức “sâu sắc của mình” về cái hay, cái đẹp của chế độ XHCN.. Một nhà báo chân chính phải viết cho sự thật, vì lương tâm thì đừng bao giờ gán, chụp cho những người vắng mặt những gì vì lợi ích cho bản thân, phe nhóm. Tôi gửi đến tác giả Huy Đức những nhận xét của tôi về phần trích dẫn trong sách và mong được hoàn chỉnh sự chính xác cũng như trách nhiệm của người viết…”

Huy Đức đã xin lỗi, cám ơn và hứa sẽ bổ sung khi viết lại. Chỗ láu cá của tuyên truyền cộng sản là tờ Tin Sáng (hay Tia Sáng ?) phỏng vấn bà “LQL” (tên ông Lê Quang Liễn đựơc viết tắt). Nếu vì một lý do gì đó ông Lê Quang Liễn không lên tiếng như thế thì sự bịa đặt lại được Huy Đức ghi chép như một sự kiện lịch sử.. Viết sử không phải là như thế.

Trong quyển “Bên Thắng Cuộc”, phần “Con đường Bác đi” Huy Đức đã trích dẫn tòan bộ huyền thọai về Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Năm do Hòang Tùng dàn dựng.Nhờ một chút may mắn tôi đã phát hiện trong tập tài liệu Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất của tác giả C.B. do báo Nhân Dân xuất bản năm 1955, trang 27 và 28, có bài “Địa chủ ác ghê”. Bài này nguyên thủy được đăng trên báo Nhân Dân ngày 21 tháng 7 năm 1953. Tác giả C.B. (Của Bác ?) chính là một bút hiệu của Hồ Chí Minh.

Qua bút hiệu C.B. chính Hồ chí Minh đã đấu tố bà Nguyễn thị Năm, đấu tố hai con của bà Năm và đấu tố những người bênh vực bà. Vụ án bà Nguyễn thị Năm đã gây chấn động lòng người vì thế mới có huyền thọai do Hòang Tùng dàn dựng. Xin mời đọc bài “Vai trò của Hồ Chí Minh trong Cải cách ruộng đất” đăng trên (http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9078&rb=0401) để nắm rõ sự việc.

Gần đây có hai bức thư của Hồ Chí Minh gởi Stalinđược phát hiện lưu trữ tại Cục Lưu trữ Quốc gia Nga. Nội dung các bức thư là xin được xem xét và cấp chỉ dẫn cho Chương trình Cải cách Ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam. Tôi đã viết bài khác :”Huyền thoại và sự thực: Hồ Chí Minh trong Cải cách Ruộng đất” đăng trên (http://www.danchimviet.info/03/09/2010/huy%E1%BB%81n-tho%E1%BA%A1i-va-s%E1%BB%B1-th%E1%BB%B1c-h%E1%BB%93-chi-minh-trong-c%E1%BA%A3i-cach-ru%E1%BB%99ng-d%E1%BA%A5t/) Đáng tiếc “Bên Thắng Cuộc” chưa để mắt tới hai bài viết này.

Huy Đức công khai nhìn nhận các bài báo cộng sản là sản phẩm tuyên truyền. Người cộng sản trong đầu lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tuyên truyền vì thế các các bài phỏng vấn cũng không tránh khỏi chỉ là sản phẩm tuyên truyền. Gần đây rất nhiều tài liệu, bài viết, hồi ký có thể phá đổ không ít các sản phẩm tuyên truyền được tổng hợp trong tác phẩm “Bên Thắng Cuộc”.

Tôi chỉ đưa ra một vài dẫn chứng cho thấy tổng hợp của bịa đặt, bịa đặt, huyền thọai, bịa đặt, huyền thọai … từ các sản phẩm tuyên truyền cộng sản không phải là sách sử.

Giáo sư Sử học David Marr

Năm 1990, bà Luật sư Ngô Bá Thành, dân biểu hai chế độ, có đến thuyết trình tại Viện Đại Học Quốc Gia Úc Đại Lợi. Buổi thuyết trình được Giáo sư Sử học David Marr chủ tọa. Bà Thành dẻo miệng ca ngợi ông Marr. Sau khi đặt câu hỏi với bà Thành, tôi quay qua ông Marr tuyên bố: “Sử chúng tôi sẽ do chúng tôi viết chứ không phải là các ông”. Ông Marr trả lời đại khái như sau “Tôi viết, rồi viết lại, rồi người khác sẽ viết lại…

Tôi rất thông cảm những người nghiên cứu về sử Việt cận đại như ông Marr. Tài liệu của cộng sản vừa thiếu, lại đầy những bịa đặt và huyền thọai. Không phải là họ không biết nhưng không sống với cộng sản khó nhận ra sự thực đằng sau các sản phẩm tuyên truyền.. Tiếc một điều khi học giả Tây Phương sử dụng nó, người mình lại xem nó khách quan, trung thực và chuyên môn, rồi tin theo như tin kinh điển. Bởi thế cộng sản mới mượn tay các học giả Tây Phương để chứng thực các huyền thọai do cộng sản tạo ra. Nếu đảng Cộng sản còn thống trị thì có viết khách quan cách mấy cũng vẫn chỉ là tuyên truyền cho cộng sản.

Nói thế không phải là phủ nhận công lao của họ. Tôi vẫn thầm cảm ơn ông Marr vì nếu không có ông thu thập được tập tài liệu Phát động quần chúng trong đó có bài Hồ chí Minh đấu tố bà Nguyễn Thị Năm thì không có cơ duyên tôi phát hiện nó để phá vỡ một huyền thọai.

Tôi vẫn cảm ơn ông nguyễn Minh Cần, ông Hòang Tùng, ông Bùi Tín, ông Vũ Thư Hiên, ông Đoàn Duy Thành,… đã viết về bà Nguyễn Thị Năm, tên bà đã in vào đầu tôi, để đến khi thấy tên Nguyễn Thị Năm trên “Địa chủ ác ghê” tôi đã nhận ngay đây là một bằng chứng tội ác của Hồ Chí Minh. Việc phá vỡ huyền thọai sẽ giúp chúng ta viết lại sử người mình.

Khi tôi tuyên bố “Sử chúng tôi sẽ do chúng tôi viết” tôi còn một ý nữa.. Tôi tự tin sẽ có ngày đồng bào tôi đứng lên giành lại chủ quyền dân tộc, mở một trang sử mới, viết lại trang sử cũ.

Nói thế để thấy công việc  Huy Đức đang làm “đi tìm sự thật” là một công việc vô cùng khó khăn.

Vở Bi Hài Kịch “Bên Thắng Cuộc”

Với tôi tác phẩm “Bên Thắng Cuộc” chỉ là một vở bi hài kịch. Các diễn viên nổi bật là giới cầm quyền cộng sản Việt Nam. Họ theo “Con đường Bác đi” con đường bi đát Xã Hội Chủ Nghĩa, một con đường chỉ có trong trí tưởng tượng của ông Mác, ông Lênin, ông Stalin, ông Mao,… Rồi ông Hồ và giới cầm quyền cứ theo đó mà đi. Nó bi thương ở chỗ khi họ thấy sai thì họ cho sửa, họ sửa rồi lại vẫn tiếp tục sai, họ càng sửa lại càng sai, cứ thế càng ngày đất nước càng lâm vào bế tắc.

Huy Đức có một nhận xét đáng chú ý: “…thực sự may mắn cho người dân Campuchia khi những người được Hà Nội đưa lên nắm quyền ở Phnom Penh, đặc biệt là Hun Sen, đã không nghe theo Hà Nội một cách mù quáng. Khi đứng trước thời cuộc mới, họ đã biết quyết định dựa trên quyền lợi của dân tộc mình… Ngày 18-10-1991, khi Việt Nam không còn can thiệp được vào các quyết định của Phnom Penh, Campuchia đã sửa đổi hiến pháp theo hướng từ bỏ chủ nghĩa xã hội: chấp nhận kinh tế thị trường tự do và hệ thống chính trị đa đảng. Tên nước, quốc kỳ, quốc ca, ngày quốc khánh thời Sihanouk được đưa ra dùng trở lại. Hai chữ “cách mạng” trong tên gọi Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, đảng mà Việt Nam giúp dựng lên, đã được bỏ đi…

Nó là một hài kịch ở chỗ giới lãnh đạo cộng sản luôn tự hào là họ đã tự giành được “độc lập”, là đất nước luôn luôn “độc lập”, nhưng cái đầu của họ, tư tưởng của họ vướng mắc 4 chữ “Xã Hội Chủ Nghã” mà chính họ cũng không hiểu “Xã Hội Chủ Nghiã” là giống chi chi.

Dự Đóan Quyển II

Nhân vật chính của vở bi hài kịch là Võ Văn Kiệt. Tên ông xuất hiện nhiều nhất 175 lần. Ông xuất hiện ngay đầu tác phẩm, bên trong tác phẩm và rồi lại xuất hiện nhiều lần trong Phụ Lục II trước khi kết thúc quyển I. Tôi vẫn thường đọc các bài viết của Huy Đức nên liên tưởng đến bài Bẫy Việt Vị của Thủ Tướng”. Bài viết cho biết “hậu duệ” Nguyễn Tấn Dũng là kết quả tuần lễ du hành Hàn Quốc của Đỗ Mười và Võ văn Kiệt. Bởi thế bản chất của “hậu duệ” Nguyễn Tấn Dũng vừa cực đoan như Đỗ Mười vừa táo bạo chấp nhận cải cách như Võ văn Kiệt. Nội dung Quyển II đã được Huy Đức cho biết trước.

Có người cho rằng Huy Đức đi giữa 2 lằn đạn. Tôi nghĩ khác Huy Đức đang đi tìm sự thật, anh đang đi giữa lòng dân tộc để tìm một lối ra.

Là một thành viên Khối 8406, Khối chúng tôi chủ trương đi tìm sự thật vì khi sự thật được phơi bày là lúc chế độ cộng sản sẽ bị giải thể để Việt Nam có tự do có dân chủ. Tôi mong được đọc bản tu sửa quyển I và chờ đợi để được bình luận quyển II.

Tại Sao Nên Đọc “Bên Thắng Cuộc” ?

Nếu ai xem Huy Đức như một tên Việt cộng, nên xem “Bên Thắng Cuộc” để biết người biết ta, biết mà kịp thời lên tiếng.

Nếu ai xem Huy Đức là một tên phản động, nên xem “Bên Thắng Cuộc” vì nó là suy nghĩ của đại đa số quần chúng Việt Nam, biết để tránh bị bánh xe lịch sử nghiền nát.

Nếu ai đang đấu tranh cho tự do dân chủ phải xem “Bên Thắng Cuộc” để quyết tâm “Sử chúng ta sẽ do chúng ta viết”, mở một trang sử mới, viết lại trang sử cũ.

Nếu ai chỉ xem mình là người bình thường rất cần xem “Bên Thắng Cuộc” để thấy chính mình trong vở bi hài kịch “Bên Thắng Cuộc” để cùng đứng lên giành lại tự do.

Xuân năm nay chưa phải là xuân tự do. Xuân tới khi sự thật đã phơi bày sẽ là xuân tự do cho dân tộc. Hãy mở cửa lòng đón nhận Huy Đức người đi tìm sự thật.

Chúc Mừng Năm Mới

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

26/12/2012

Cộng sản Việt Nam không thể cưỡng lại đà thoái trào

Tại Hội nghị công an toàn quốc lần thứ 68 ở Hà Nội vào ngày 17 tháng 12 năm 2012, ông Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ thị cho lực lượng công an các cấp là “dứt khoát không để nhen nhóm hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong nội địa.” Phát biểu của ông Dũng đã không chỉ nói lên sự tiếp tục cố thủ trong lô cốt độc tài độc đảng, mà còn cho thấy tư duy của giới lãnh đạo Hà Nội có ít nhiều nao núng trước sức ép của xu thế dân chủ hóa toàn cầu hiện nay. Đó là xu thế xuất hiện của những tập hợp quần chúng, đoàn thể chính trị nhằm cùng hợp tác với nhau giải quyết các nhu cầu của đời sống xã hội nằm ngoài sự cho phép hay kiểm soát của chính quyền.

Từ việc coi các đảng phái chính trị là phản động, có âm mưu lật đổ chế độ, CSVN đang chuyển sang thế ngăn chặn để không cho xuất hiện công khai những lực lượng chính trị đối lập; rõ ràng là CSVN biết rằng sớm muộn gì họ cũng phải đối diện với những thay đổi này vì các áp lực sau đây của xã hội.

1/ Nhu Cầu Phản Biện

Áp lực này bắt đầu nổ lớn trong năm 2012 với sự nhập cuộc mạnh mẽ của các trang mạng xã hội loan tải về những vụ án “cưỡng chiếm đất đai” của người dân một cách côn đồ và phi nhân từ chính quyền địa phương ở Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, Đông Triều v…v… Áp lực này càng gia tăng sức ép lên thượng tầng lãnh đạo CSVN khi một số đảng viên và cán bộ địa phương bày tỏ công khai sự bất mãn việc Trung ương đảng đã không có bất cứ biện pháp kỷ luật nào đối với những cán bộ lãnh đạo bị suy thoái về đạo đức, lối sống mà Trung ương đảng đã tập trung bàn thảo trong 3 kỳ hội nghị trung ương lần thứ 4, thứ 5 và thứ 6 kéo dài từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 10 năm 2012, dưới cái gọi là “phê và tự phê”.

Trước đây các phản biện của người dân hay của những đảng viên đảng CSVN thường mang tính đơn lẻ, biểu hiện qua hình thức kiến nghị, hay một vài cuộc tọa kháng trước các văn phòng chính quyền để cầu mong sự giải quyết của cán bộ. Trong năm 2012, người dân đã lập từng phái đoàn công khai đối chất và đặt từng vấn đề với đại diện chính quyền cũng như nói rõ rằng họ không còn tin vào các chính sách của đảng CSVN. Đây là loại áp lực sẽ dẫn đến các phản ứng “tức nước vỡ bờ” của người dân mà Hà Nội đã chứng kiến qua làn sóng nổi dậy tại Tunisia, Ai Cập vào đầu năm 2011.

2/ Nhu Cầu Bày Tỏ Lập Trường Yêu Nước

Sự hung hăng và côn đồ của Bắc Kinh trên Biển Đông cùng với sự hèn nhát và giải thích lấp liếm của lãnh đạo CSVN về cách ứng xử đối với Trung Quốc đã khiến cho những người Việt yêu nước không thể im lặng. Nhưng chính những ứng xử mâu thuẫn và phi lý của lãnh đạo CSVN mới là nguyên nhân chính tạo ra làn sóng chống Bắc Kinh lẫn chống lãnh đạo Hà Nội lan rộng ở trong và ngoài đảng hiện nay. Một mặt thì lãnh đạo CSVN xác quyết sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển đảo, xác nhận Hoàng sa – Trường sa là của Việt Nam; nhưng mặt khác, họ lại tổ chức những hội nghị đề cao cái gọi là “đời đời nhớ ơn Trung Quốc”, và cho lực lượng công an đàn áp thô bạo người dân tham dự các cuộc biểu tình phản đối những vi phạm của Trung Quốc trong thềm lục địa Việt Nam.

Lãnh đạo CSVN biết rất rõ là họ đang bị Bắc Kinh lợi dụng để từng bước khống chế biển Đông; nhưng họ cũng biết là nếu không dựa vào Trung Quốc, đặc biệt là những khoản tiền vay mượn, để cứu lấy nền kinh tế đang bị suy thoái trầm trọng từ năm 2008 cho đến nay, thì sẽ gặp khó khăn nên phải im lặng trước những lấn lướt của Bắc Kinh. Điều lo ngại của CSVN là những ứng xử mâu thuẫn của họ về Trung Quốc càng làm gia tăng làn sóng chống đối và trở thành tụ điểm để nối kết những người yêu nước ở trong và ngoài đảng. Đây là một loại áp lực không chỉ làm phân hóa nội bộ đảng CSVN mà còn có thể phát triển thành những lực lượng chính trị chống Trung Quốc mà Hà Nội khó có thể đàn áp.

3/ Nhu Cầu Hiện Hữu Của Xã Hội Dân Sự

Sau hơn ba thập niên áp dụng kinh tế thị trường và mở cửa vận động đầu tư từ nước ngoài, nền kinh tế Việt Nam nói chung đã mang lại cho người dân một cuôc sống vật chất khá hơn dưới thời bao cấp. Ngoài ra, qua những giao tiếp với thân nhân sống ở nước ngoài và qua những giao tiếp làm việc với các công ty quốc tế tại Việt Nam, nhiều gia đình người Việt ở trong nước bắt đầu thấy rằng họ không thể tiếp tục lối sống vô cảm, mackeno, mà phải có những trách nhiệm liên đới với nhau. Tinh thần liên đới này đã mở ra những cơ hội hợp tác giữa nhiều cá nhân cùng quan tâm, cùng sở trường hay sở thích, và đã nhen nhóm cho ra đời nhiều tập hợp quần chúng.

Theo một nghiên cứu mới nhất của tổ chức Đời sống và Xã hội tại các quốc gia chưa phát triển của Liên Hiệp Quốc vào cuối năm 2011, Việt Nam hiện có non 5 ngàn đoàn thể quần chúng xuất hiện dưới nhiều lãnh vực văn học nghệ thuật, tôn giáo, thể thao và xã hội nằm ngoài chính quyền. Những tập hợp này là nền tảng của xã hội dân sự, quy tụ nhiều cá nhân, giúp nhau xây dựng một cuộc sống tự chủ và chống lại những hiện tượng o ép, khống chế của nhà nước. Đây là loại áp lực mang đặc tính tiệm tiến, nhưng thường tạo ra những chấn động đột biến khi số đông được quy tụ.

4/ Nhu Cầu Phát Triển Của Mạng Xã Hội

Năm 2006, Việt Nam có khoảng 7 triệu người sử dụng internet với một vài trang nhà nằm trong sự kiểm soát chặt chẽ của Bộ thông tin và truyền thông CSVN. Chỉ sáu năm sau, vào năm 2012, Việt Nam có đến 37 triệu người sử dụng internet; số người tham gia vào trang mạng xã hội như Facebook có đến 8,5 triệu người và Multiply có non 5 triệu người. Công ty Google dự kiến là số người sử dụng internet tại Việt Nam vào năm 2015 sẽ lên 50 triệu và các trang mạng xã hội đang hình thành một cộng đồng Việt Nam mới – trên mạng ảo – chuyển tải nhanh chóng mọi tin tức, mọi biến động kể cả những dữ kiện “thâm cung bí sử” của chế độ vào từng gia đình người Việt trong cùng một thời điểm.

Truyền thông là một trong ba chân vạc quan trọng (bạo lực công an, giáo dục ngu dân bưng bít thông tin) mà mọi chế độ độc tài đều tìm cách nắm chặt để duy trì quyền lực độc tôn. Khi ông Dũng chỉ thị cho bộ máy công an phải “có phương án chuyên đề đấu tranh quyết liệt hiệu quả với chiến tranh thông tin, truyền thông, tăng cường công tác bảo vệ bí mật quốc gia và chống tình báo, gián điệp” cho thấy là Hà Nội thật sự lo sợ mạng xã hội đang nối kết người dân, giúp họ tách ra khỏi vòng ảnh hưởng của chế độ. Đây là loại áp lực đang bào mòn uy tín của lãnh đạo đảng và nhà nước, đồng thời từng bước làm ruỗng nát các trụ cột chống đỡ chế độ độc tài hiện nay.

Bên cạnh những áp lực mới của xã hội nói trên, đảng Cộng sản Việt Nam hiện đang trực diện 4 nguy cơ mà ông Nguyễn Phú Trọng cho là sinh tử, gắn liền với sự tồn vong của đảng trong thời gian tới. Đó là các nguy cơ:

1/ Lập trường giai cấp và tư tưởng chuyên chính bị lung lay;
2/ Cán bộ lãnh đạo thiếu khả năng thích ứng;
3/ Tham nhũng và nạn mua quan bán chức tràn lan;
4/ Quần chúng mất dần niềm tin vào đảng và nhà nước.

Từ những nguy cơ này đã sản sinh ra hai hiện tượng mà kết quả của Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương đảng CSVN hồi tháng 10 năm 2012 vừa qua đã cho dư luận nhìn thấy hai nghịch lý:

Thứ nhất là lãnh đạo quá yếu trong khi phe nhóm quá mạnh. Việc ông Nguyễn Phú Trọng xin Trung ương đảng kỷ luật Bộ chính trị và “đồng chí X” về những yếu kém lãnh đạo cho thấy là quyền lực của Tổng bí thư, Chủ tịch nước hay Thủ tướng không còn mạnh như dưới thời Lê Duẩn hay Đỗ Mười. Trong khi đó phe nhóm của “đồng chí X” ở trung ương quá mạnh đã khiến cuộc truất phế của Bộ chính trị bất thành.

Nghịch lý này bắt đầu nhen nhóm khuynh hướng đổ tội lẫn nhau giữa phe đảng và phe chính phủ khi quy trách nhiệm về việc phá sản một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty và tình trạng nợ xấu chồng chất tại các ngân hàng. Phe đảng thì cho rằng phe chính quyền quản trị lỏng lẻo, kiểm tra lơ là, yếu kém. Phe chính phủ thì cho là họ thực thi theo đúng các Nghị quyết của đảng không làm gì sai. Hiện tượng đổ lỗi, quy trách nhiệm lẫn nhau giữa một số lãnh đạo cao cấp sẽ gia tăng khi mà người ta chưa tìm ra phép lạ nào chấn chỉnh cho nền kinh tế được tốt đẹp hơn hiện nay.

Thứ hai là quyền lực của đảng suy yếu trong khi các nhóm lợi ích lớn mạnh. Trước đây các phe nhóm trong thượng tầng lãnh đạo thường tranh giành thế chủ đạo chính trị để giữ các vị trí quyền lực và ban phát những lợi ích kinh tế cho nhau; thì nay, các nhóm lợi ích đứng đầu những tập đoàn kinh doanh sẵn sàng tung tiền và phương tiện để lôi cuốn những cán bộ lãnh đạo đã về hưu hay những phe nhóm nhỏ tạo ra một cực quyền lực khác, ảnh hưởng lên những quyết định của đảng hay cố tình làm trì trệ việc thực thi những chính sách gây bất lợi cho họ.

Nhóm lợi ích là sản phẩm tồi tệ của “kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nó hiện là “âm binh” đang quật lại những “phù thủy” từng vạch ra hướng chiến lược “tiến đến nền công nghiệp tiên tiến năm 2020” qua việc gom hàng ngàn tỷ đồng để sản sinh ra những tập đoàn kinh tế, những công ty cổ phần và những ngân hàng thương mại từ năm 2005 đến nay. Tổng số tiền nợ tính đến cuối tháng 11 năm 2011 của CSVN dựa theo báo cáo của Bộ tài Chánh (khoản nợ của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty) và của Văn phòng chính phủ (khoản nợ công) cho quốc hội vào tháng 11 năm 2012 vừa qua lên đến 120 tỷ Mỹ kim. Nhiều nhà phân tích cho rằng có ít nhất từ 20 đến 30 tỷ Mỹ Kim đã chạy vào túi riêng của lãnh đạo và các nhóm lợi ích.

Với ngần ấy vấn đề mà đảng CSVN đang đối diện cùng với tình hình suy thoái kinh tế chưa tìm ra phép lạ chấn chỉnh, Hà Nội chỉ còn có hai chọn lựa để tồn tại:

– Tiếp tục bám vào Trung Quốc để được vay mượn tài chánh, duy trì nền kinh tế què quặt. Những phát biểu gần đây của Nguyễn Thế Kỷ, phó trưởng ban tuyên giáo và nhất là của đại tá Trần Đăng Thanh về việc phải “mang ơn Trung Quốc” đủ thấy não trạng của lãnh đạo Hà Nội là chịu nhục và mất biển đảo chứ không để mất đảng.

– Đàn áp phong trào dân chủ để ngăn chận đối lập chính trị. Việc CSVN núp đàng sau điều 79 (âm mưu lật đổ chế độ) và điều 88 (tuyên truyền chống phá nhà nước) của Luật Hình Sự để quy chụp và kết án nặng nề những người yêu nước cho thấy dã tâm của chế độ trong mục tiêu duy trì quyền lực độc tôn. Sự đàn áp ngày càng gia tăng đã không những không làm chùn ý chí đấu tranh của người Việt Nam, mà trái lại còn châm thêm dầu vào lửa phẫn nộ của quần chúng với làn sóng chống đối chế độ tiếp tục dâng cao và được quốc tế hỗ trợ.

Hai chọn lựa này của đảng CSVN không khác gì con thiêu thân khi đẩy người dân vào thế “tức nước vỡ bờ”. Sự ngạo mạn và ngoan cố đã khiến lãnh đạo đảng CSVN không nhìn ra được những bài học lịch sử mới nhất trên thế giới và lâu đời nhất của lịch sử dân tộc.

Lý Thái Hùng
24/12/2012