Túi nợ, núi nợ và…hai ‘của nợ’

Posted on December 28, 2012

0



Nợ, nợ của nhà nước, nợ của quốc gia, nợ của các tập đoàn và tổng công ty quốc doanh, nợ của Ngân hàng Nhà nước, của hế thống ngân hàng tư, nợ các nước cho ta vay đến kỳ phải trả, nợ xấu và nợ không…đang là đề tài bàn luận sôi nổi trên báo chí, giữa các nhà kinh tế trong và ngoài nước, trong phiên họp Quốc hội vừa qua.

Tổng Bí thư đảng CS Nguyễn Phú Trọng nói rõ rằng có hai vấn nạn mang tầm vóc quốc gia, đó là quốc nạn tham nhũng và món nợ quốc gia nặng nề chồng chất đang đe dọa sự tồn vong của chế độ. Tất nhiên Bộ Chính trị cố tình quên tai họa bành trướng, lẽ ra phải là nguy cơ nghiêm trọng nhất của quốc gia.

Có nhà kinh tế am hiểu tình hình dự đoán trong năm 2013 nợ quốc gia ở Việt Nam sẽ trở thành một quả bom nổ chậm, chưa biết bùng nổ lúc nào – cũng có thể ngay trong năm 2013, như nhà kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa ở California phỏng đoán. Chuyên gia về thống kê của Liên Hiệp Quốc Vũ Quang Việt cho rằng thống kê nợ quốc gia của Việt Nam chưa đầy đủ, không đáng tin cậy vì trên thực tế, cuối cùng, chính ngân sách nhà nước sẽ phải nai lưng ra gánh chịu những món nợ của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty quốc doanh. Đây sẽ không phải là một đống nợ chồng chất lên nhau, mà là một núi nợ khổng lồ, có thể đè gẫy vai, sụm lưng một nền kinh tế còn ốm yếu.

Một chuyên gia kinh tế khác, Tiến sỹ Trần Vinh Dự, cũng có cách nhìn rõ ràng, đầy đủ, khi cho rằng sau các bữa tiệc kinh tế mấy năm trước, nay là thời kỳ quét dọn rác rưởi lưu cữu, trong đó rác rưởi khủng khiếp nhất là các khoản nợ, mà trong các món nợ thì khủng khiếp nhất là các khoản nợ xấu – hay còn gọi là nợ thối, nợ bướu, vì không có cách nào trả nổi, cứ theo thời gian lãi mẹ đẻ lãi con lãi cháu, thì nợ đầm đìa sẽ bùng nổ, không một ngân sách nào kham nổi.

Trong khi đó Tiến sỹ Lê Đăng Doanh cho rằng các khoản nợ quốc doanh ngày càng phình to nhanh chóng trong khi chưa có một giải pháp nào để giảm nợ, dãn nợ tỏ ra hữu hiệu. Sau khi chính phủ không đưa ra được một giải pháp nào có hiệu quả tại phiên họp Quốc hội vừa rồi, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh báo động là «không thể trường diễn mãi tấn bi hài kịch quá đắt giá này». Lần đầu tiên chính phủ và Ngân hàng Nhà nước phải công nhận rằng nợ công hiện đã đạt đến 55,2 % GDP (giá trị tổng sản phẩm quốc gia) năm 2011 – và nếu cộng vào các khoản nợ của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty quốc doanh thì món nợ ấy đã bằng hơn 100% GDP. Một số nước khác cũng mắc một số nợ cao tương tự, nhưng họ có dự trữ và tiềm năng để thanh toán, trong khi nước ta thì dự trữ quốc gia quá mỏng, do nạn lãng phí khủng khiếp và số tài sản của quốc gia rơi vào túi của đảng CS, vào túi đảng viên có chức có quyền do nạn tham nhũng là không sao ước lượng nổi.

Thật ra vấn đề thảo luận liên miên về nợ, về những con số chính xác, minh bạch, công khai của các khoản nợ là rất khó; nợ đáo hạn, quá hạn là bao nhiêu, nợ nhà nước là ở mức nào, cách hoãn nợ, đảo nợ, khất nợ, dãn nợ ra sao… sẽ mãi mãi là mớ bòng bong rối tung rối mù nếu không có giải pháp cơ bản, có hệ thống, từ nền tảng chính trị của chế độ đến nền tảng sở hữu của nền kinh tế – tài chính.

Nói cách khác, không thể nào giải quyết được tận gốc gói nợ khổng lồ hay núi nợ quốc gia khủng khiếp hiện tại nếu không có gan cắt bỏ cái «của nợ ý thức hệ»: chủ nghĩa Mác- Lênin. Chính cái ý thức hệ lạc hậu này đã đẻ ra một đảng chi tiêu vô tội vạ, không có ai kiểm soát, thanh tra, xử phạt khi cần, không chịu cho ai thay thế khi đã tỏ ra bất lực thối nát.

Về kinh tế, nếu cứ duy trì mãi cái «của nợ sở hữu kinh tế», coi sở hữu quốc doanh là chủ đạo của nền kinh tế, cho phép Ngân hàng Nhà nước một mình bao biện hết ngành tài chính – tiền tệ của đất nước, thì không bao giờ có thể giảm nợ, chưa nói đến chuyện thoát nợ.

Các nhà kinh tế lão luyện đến từ Đức, Anh, Pháp, Nhật, Hoa Kỳ…đều cho rằng nhược điểm lớn nhất ở Việt Nam về kinh tế là thiếu một cái nền tự do kinh doanh của tư nhân, tạo nên hàng triệu đơn vị kinh tế cá thể ở khắp mọi nơi, từ thành thị đến thôn quê, trên cơ sở đó mà hình thành những đơn vị kinh tế – tài chính tập trung hùng mạnh của cả tư doanh và quốc doanh cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng. Những công ty tập trung dùng các đơn vị tư doanh làm chân rết cộng tác, hợp tác với nhau một cách hài hòa theo hợp đồng, theo luật định.

Ở Việt Nam, khi phần lớn các tập đoàn quốc doanh, các tổng công ty quốc doanh nối gót nhau phá sản, thì đồng thời hơn 50 vạn đơn vị kinh tế vừa và nhỏ, phần lớn của tư nhân, cũng phá sản theo, là hình ảnh đầy đủ nhất của sự bế tắc về kinh tế, bắt nguồn từ bế tắc về lý luận, do cái «của nợ ý thức hệ Mác – Lênin » và cái «của nợ về kinh tế quốc doanh là chủ đạo» gây nên.

Vào những ngày cuối năm này, hãng Bloomberg loan tin cho biết năm nay Việt Nam đạt tỷ lệ phát triển thấp nhất trong 13 năm qua, kể từ năm 1999, chỉ bằng 5,03 %.
Tại phiên họp Quốc hôi vừa qua, chính phủ cho biết nợ xấu của quốc gia đã đạt mức kỷ lục là 200 ngàn tỷ đồng; nếu cộng cả nợ xấu của các cơ sở quốc doanh mà nhà nước trên thực tế phải gánh vác là 200 ngàn tỷ đồng + 200 ngàn tỷ đồng = 400 ngàn tỷ đồng. Vẫn chưa hết. Theo chủ tịch Quốc hội, người từng giữ chức bộ trưởng tài chính, rồi phó thủ tướng đặc trách về kinh tế – tài chính, thì tất cả các món nợ xấu cộng lại, đặc biệt là nợ xấu của hệ thống ngân hàng nữa thì là 400 ngàn tỷ + 400 ngàn tỷ nữa là = 800 ngàn tỷ, nếu tính cả các khoản nợ xấu lưu cữu đã đến hạn thì hiện nay quả núi nợ của Việt Nam là vừa tròn 1 triệu ngàn tỷ đồng (con số 1 tiếp theo là 15 con số 0).

Một triệu ngàn tỷ đồng quả thật là một quả núi lớn, cao và nặng. Tính theo hối suất hiện nay, một triệu ngàn tỷ đồng tương đương với 50 tỷ đôla Mỹ. Tuy nhiên đây vẫn được coi là con số thấp hơn thực tế khá nhiều.

Trong cảnh nợ nần như chúa chổm như thế, khả năng đảo nợ, hoãn nỡ của Việt Nam là cực kỳ hạn chế, sân chơi không còn rộng, vay mượn đang bí thế, trong khi dự doán về năm 2013 là rất bi quan.

Chỉ có một lối thoát duy nhất: Đó là phải có một quyết định lịch sử, quả đoán, mạnh mẽ, đoạn tuyệt ngay với cái «của nợ kinh khủng nhất đã phá sản triệt để là chủ nghĩa Mác – Lênin về ý thức hệ», từ bỏ ngay tiếp theo cái «của nợ phương châm kinh tế lấy quốc doanh làm chủ đạo», từ đó mà thực hiện tự do kinh doanh một cách rộng rãi.

Đó là biện pháp mầu nhiệm duy nhất để phục hưng nền chính trị đa nguyên và nền kinh tế tự do đa thành phần.

Vào những ngày cuối năm, những tin rất đáng lo ngại xuất hiện tới tấp. Nhiều công ty nước ngoài có vốn đầu tư trực tiếp (FDI) đóng cửa bỏ chạy lấy người, tiêu biểu là công ty Sylver Star của Hàn Quốc chuyên ngành dệt may, cùng với hơn 10 công ty FDI khác trên địa bàn Sài Gòn, Chợ Lớn, Bình Dương, không còn có mặt ở Việt Nam nữa. Đúng vào dịp Giáng Sinh tàu Cái Lân 4 thuộc công ty Vinashinlines có 22 thủy thủ Việt Nam bị giữ lại ở cảng Kolkata, Ấn Độ, do mắc nợ quá hạn không trả. Rồi sẽ có nhiều tàu nữa đi ra nước ngoài có thể bị giữ để xiết nợ.

Túi nợ, đống nợ, nợ chồng nợ chất, biến thành núi nợ khổng lồ là hậu quả tất yếu của đường lối chính trị và phương châm kinh tế được lãnh đạo đảng CS Việt Nam kiên định, khi mà thành quả phát triển chui phần lớn vào túi các phe nhóm lợi ích cá nhân nắm quyền cao chức trọng. Xem ra không có giải pháp nào khả dĩ, ngoài cách thực hiện ngay ý chí của toàn dân, đó là ném ngay vào sọt rác hai «của nợ» về ý thức hệ và phương châm kinh tế đã gieo rắc bao tai họa cho đất nước và dân tộc trong hơn nửa thế kỷ qua.

Bùi Tín

2012 – một năm khó khăn của kinh tế Việt Nam

Năm 2012 khép lại, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng ở mức 5,03%, được xem là mức thấp nhất trong 13 năm trở lại đây.

RFAMột công trình xây dựng nhà cao tầng ở Hà Nội ngày 22/12/2012.

RFA
Một công trình xây dựng nhà cao tầng ở Hà Nội ngày 22/12/2012. 

Bên cạnh đó là ngổn ngang những thách thức như đầu tư trực tiếp nước ngoài sụt giảm, bất động sản đóng băng, tình trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng cao ngất, kéo theo là sự phá sản của hàng chục ngàn doanh nghiệp lớn nhỏ. Tốc độ tăng trưởng GDP toàn năm 2012 dừng ở mức 5,03% thấp hơn nhiều mức 6.5% mà Chính phủ dự tính ban đầu, là mức tăng thấp nhất kể từ năm 1999. Con số trên của Tổng Cục Thống Kê công bố hôm 24/12, khiến giới chuyên gia cả trong nước và quốc tế đều tỏ ra quan ngại về tình hình kinh tế Việt Nam.

Tăng trưởng không bền vững

Bài viết trên trang nhất tờ Bloomberg, một tờ báo tài chính uy tín của Hoa Kỳ ra ngày 25/12 chỉ ra một số nguyên nhân chính dẫn đến hiện trạng kinh tế Việt Nam, trong đó, tác giả nêu bật lý do là bởi khối ngân hàng hạn chế cho vay, khiến nhu cầu nội địa gặp bất lợi. Bài báo trích ý kiến của một chuyên gia quản lý quỹ đầu tư ở nước ngoài nhận xét “chỉ nhờ tăng trưởng tín dụng ồ ạt mà Việt Nam mới có được tốc độ tăng trưởng như thời gian qua.” Điều này như một ngầm ý ám chỉ sự tăng trưởng của Việt Nam không bền vững, chủ yếu dựa trên tín dụng cho vay mà không có một cơ sở chắc chắn.

Nợ xấu là một loại cam thối, thế thì Nhà nước mua loại cam thối đó với giá nào. Đây là vấn đề có thể tạo ra biết bao tiêu cực.Bùi Kiến Thành

Trong khi đó, mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tệ (IMF) cho biết hai định chế này sẽ có một bản báo cáo về tình hình ngân hàng, khung pháp lý và hạ tầng tài chánh của các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam. Theo đó, WB cho rằng tài chính của Việt Nam có dấu hiệu của sự tuột dốc khá rõ ràng và việc tái cơ cấu tỏ ra chậm chạp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam chậm lại là do năng suất sụt giảm đi kèm với sự thiếu hiệu quả của hệ thống doanh nghiệp Nhà nước, khối ngân hàng và đầu tư công.

Điều này được minh chứng rõ nét bằng việc hãng lượng giá tín dụng Moody hạ chỉ số tín dụng của Việt Nam hồi tháng 9, với kết luận “có những yếu kém rõ rệt trong hệ thống ngân hàng.” Được biết hiện tại tổng số nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam là vào khoảng 400.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 8% tổng số dư nợ trong hệ thống ngân hàng. Tổng giám đốc Ngân hàng Standard Chartered tại Việt Nam cho biết nợ xấu có thể khiến Việt Nam mất 7 tỉ đô la, xấp xỉ 5% của toàn bộ GDP Việt Nam.

Ngan-hang-Techcombank-250.jpg
Bên ngoài một chi nhánh ngân hàng Techcombank ở Hà Nội trưa ngày 24/12/2012. RFA photo.
Nhận xét về các khoản nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành đưa ra nhận xét của mình:“Nợ xấu là một loại cam thối, thế thì Nhà nước mua loại cam thối đó với giá nào. Đây là vấn đề có thể tạo ra biết bao tiêu cực, nguyên tắc là không thể dùng tiền của nhân dân để mua nợ xấu của ngân hàng, mà để cho nhân dân phải gánh chịu những lỗi lầm của các ngân hàng được, không thể chấp nhận được. Bất kỳ ngân hàng cũng như một doanh nghiệp nào nếu làm ăn thua lỗ mất khả năng thanh toán thì phải giải quyết theo vấn đề phá sản…”

Những “nghĩa địa chôn tiền”

Một trong những lý do dẫn đến những núi nợ xấu khổng lồ tại Việt Nam, tích tụ trong khoảng 3-4 năm trở lại đây chính là sự đóng băng của thị trường bất động sản, khi khu vực này vay tín dụng quá nhiều từ giới ngân hàng và giờ thì trở thành những “nghĩa địa chôn tiền”. Với nhiều số liệu thống kê khác nhau, số nợ liên quan đến bất động sản hiện tại ở Việt Nam là xấp xỉ 1 triệu tỷ đồng, trong đó hơn 10% là nợ xấu.

Điểm lo ngại đối với thị trường bất động sản Việt Nam nằm ở chỗ những sản phẩm cao cấp, đắt tiền là những sản phẩm đóng băng, trong khi lượng nhà ở hướng tới người dân có thu nhập thấp hoặc có diện tích vừa phải thì vẫn có thể tiêu thụ được nhưng lại không được chú ý xây dựng.

Đặc biệt là đầu tư nước ngoài đóng góp đến 55% xuất khẩu cho năm nay, do đó, nếu đầu tư nước ngoài giảm đi cũng sẽ đe dọa đến việc tăng trưởng trong xuất khẩu.TS Lê Đăng Doanh

Theo phân tích của T.S Vũ Đình Ánh, chuyên gia kinh tế Việt Nam thì từ năm 2005 đến nay, lĩnh vực bất động sản và xây dựng luôn chiếm từ 8-9% GDP và chúng có tính lan tỏa mạnh mẽ đối với nhiều vực lĩnh vực khác của nền kinh tế. Vì thế, khi một mắt xích bị khựng lại thì cả cỗ máy kinh tế bị đình trệ kéo theo là điều khó tránh khỏi.

Trong bức tranh kinh tế 2012, bên cạnh những mảng màu tối về nợ xấu và bất động sản, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng được đánh giá là không mấy tích cực. Theo số liệu mới được Bố Kế hoạch đầu tư công bố hồi đầu tuần cho thấy số lượng đăng ký đầu tư vào Việt Nam trong năm 2012 chỉ ở mức 12,7 tỷ USD, giảm hơn 15% so với năm ngoái, trong đó lượng vốn được giải ngân cũng giảm gần 5%. Lý giải về nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, T.S Lê Đăng Doanh giải thích:

“Tình hình đầu tư nước ngoài, những cam kết mới trong đầu tư nước ngoài giảm sút rõ rệt, trong khi đó, đầu tư nước ngoài đang chảy rất mạnh vào Myanmar, Indonesia. Tôi cũng lưu ý là số vốn thực hiện trong các dự án đầu tư nước ngoài vẫn đảm bảo như các năm trước đây vì Việt Nam đang còn một số dự án nhất định đang được thực hiện.

Song những dự án đó không được tăng lên bằng những cam kết mới thì nó sẽ dần dần cạn và điều đó đẩy Việt Nam vào một thế bất lợi. Bởi tính cho đến nay, đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 25-26% tổng lượng đầu tư xã hội và nếu lượng đầu tư đó giảm đi, thì tốc độ tăng trưởng của Việt Nam cũng sẽ giảm đi.

Đặc biệt là đầu tư nước ngoài đóng góp đến 55% xuất khẩu cho năm nay, do đó, nếu đầu tư nước ngoài giảm đi cũng sẽ đe dọa đến việc tăng trưởng trong xuất khẩu của Việt Nam sẽ chậm lại.”

 

nha250.jpg
Tòa nhà căn hộ cao cấp ở Hà Nội, ảnh chụp hôm 14-08-2011. RFA photo.
Ngoài ra, T.S Lê Đăng Doanh giải thích thêm lượng vốn chảy vào Myanmar và Indonesia nhiều là do những quốc gia này, trong khi cải cách kinh tế đã có những cải cách đáng kể về hệ thống chính trị, đã đảm bảo tự do về mặt báo chí, có tiếng nói của các lực lượng có thể kiểm soát được quyền lực của Nhà nước và họ đã thành công.Tuy nhiên, có lẽ yếu tố cơ bản vì sao nền kinh tế Việt Nam phát triển chậm lại chính là do năng suất chất lượng hay trình độ tay nghề của Việt Nam chưa cao, đi kèm với đó là sự thiếu hiệu quả của hệ thống doanh nghiệp Nhà nước đang bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Thẳng thắn nhìn nhận về những nhược điểm vẫn tồn tại trong một nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi, PGS, TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nhận xét:

“Nếu muốn tăng trưởng nhanh mà nguồn lực không tốt, rồi cứ đầu tư thật nhiều, đến lúc không hoàn thành thì vừa làm chậm, đồng thời cũng tạo sơ hở trong việc quản lý. Bây giờ là phải làm như thế nào để cân đối giữa nỗ lực tăng trưởng nhanh, đầu tư mạnh nhưng phải phù hợp về tính khả thi, về các điều kiện nguồn lực phải bảo đảm. Năng lực quản trị ở tầng vi mô, khâu này là khâu do Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường chưa lâu, rồi cạnh tranh cũng chưa phát triển, cho nên năng lực quản trị ở các doanh nghiệp, các dự án chưa thực sự tốt.”

2012 được xem là một năm khó khăn với kinh tế Việt Nam, nhưng nó cũng đánh dấu một số thành công nhất định trong chính sách điều tiết vĩ mô. Trước hết là lạm phát được đánh giá là khống chế hiệu quả, mặc dù, trong năm sắp tới mục tiêu ưu tiên của Chính phủ vẫn tiếp tục là kiềm chế lạm phát. Lĩnh vực thứ hai là thặng dư thương mại, Việt Nam đã có cán cân thương mại dương 284 triệu đô la và đây là con số dương Việt Nam đạt được sau đúng 20 năm. Ngoài ra, các chỉ tiêu như dự trữ ngoại hối cũng được cải thiện đáng kể và tiền đồng Việt Nam cũng từng bước ổn định, dù rằng năm sắp tới 2013 vẫn được xem là rất khó khăn đối với kinh tế Việt Nam như lời nhận định của T.S Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách Tiền Tệ Tài chính quốc gia.

Những nhân tố bên ngoài như cuộc khủng hoảng tài chính Châu Âu sắp qua đi, nền kinh tế tại Hoa Kỳ cũng có dấu hiệu cải thiện, dù chưa có gì đảm bảo sẽ có mức tăng trưởng mạnh mẽ, nhưng kỳ vọng rằng Việt Nam năm tới sẽ có những thay đổi tích cực hơn.

Theo dòng thời sự: