Hiệp Định Paris 1973: 40 năm nhìn lại


40 năm hiệp định Paris: Vinh và Nhục

Bước vào tháng 1 năm 2013, Sau 40 năm ký kết HĐ/Paris (27/1/1973) – Nếu có phép lạ – Thời gian và bánh xe lịch sử quay lại tại chính thời điểm ấy (1972 – 1973).

Khi Hoàng Sa,Trường Sa còn nguyên vẹn chủ quyền do quân lực miền Nam (QLVNCH) bảo vệ chu đáo, Biển Đông dưới sự phối hợp tuần tra bao quát của hải quân Mỹ và VN, hơn 100.000 ngàn quân dân và cơ sở hạ tầng phía Bắc biên giới VN “chưa” bị quân xâm lược TQ giết hại tàn phá, cột mốc đường biên “chưa” bị TQ di dời cướp đoạt hàng ngàn km2, hơn 50.000 quân QĐNDVN “chưa” thương vong vô nghĩa ở biên giới Tây Nam và Campuchia, gần 400.000 sĩ quan, công chức tinh hoa của miền Nam “chưa” bị tù đày giết hại trong trại các trại cải tạo, hơn 1 triệu đồng bào “chưa” vượt biển trốn chạy tìm tự do (1/3 lấy biển làm mộ phần) quan trọng hơn hết là quân đội Hoa Kỳ “chưa” rút đi vẫn hiện diện tại miền Nam VN như một lực cản vững chắc trước mối đe doạ của Cộng Sản TQ xuống biển Đông và toàn vùng Đông Nam Á và CSVN vẫn “chưa” phải “lực bất tòng tâm” nan giải hạ mình như hèn mạt, bằng mặt nhưng không bằng lòng để đối phó với tham vọng bành trướng của “đồng chí bạn vàng” TQ nhắm vào lãnh thổ chủ quyền biển đảo của Việt Nam như hiện nay.

Đây! Quân bài “Bịp” bà Nguyễn thị Bình của MTGPMN/VN

Thì liệu, một nhóm người, ít thôi, trong cái gọi là Bộ Chính Trị/đảng CSVN, trước cộng đồng thế giới văn minh nhân loại, và nhân dân mình, họ có đủ can đảm đặt bút ký lại một lần nữa vào một văn bản: “Chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” mà chính họ “lọc lừa” trong Hiệp Định Paris vào ngày 27/1/1973 – để gây ra những hậu quả bi thảm, nhản tiền to lớn (nói trên) với chính đồng bào nhân dân và tổ quốc mình ngày hôm nay!?

Khi mà tính đến hiện tại, các thành viên quốc tế can dự trong cuộc, và nhân sự 4 bên tham chiến (còn sống) cũng như gần 90 triệu người dân Việt Nam đã chứng kiến và chứng minh, tính ra được giá trị đích thực từ Hiệp Định ấy đem đến những mỉa mai, chua chát, như liệt kê nói trên, mà những người CS VN ngày nay – Không biết họ nghĩ sao? Lại gắn cho cái bảng hiệu “Hiệp Định Paris thắng lợi, thành công”??. Không biết họ có “thiểu năng về trí tuệ” trong thế giới quan??

Bằng “quang minh chính trực” chúng ta – Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, kiểm điểm xem, sau 40 năm “thắng lợi” đánh đổi bằng máu xương, nước mắt, ngu ngốc và lọc lừa ấy mang về cho Tổ Quốc Việt Nam ngày hôm nay là những gì? so với cộng đồng khu vực láng giềng và thế giới. Để CSVN gọi đó là Thắng lợi?

Nhân loại, quí nhất là sự sống,sinh mạng của con người. Trước tiên chúng ta thử kiểm điểm “sự sống” mà qua Hiệp Định ấy những người lãnh đạo CS Bắc Việt đã nâng niu hay hủy diệt nó như thế nào, với những chiến hữu, đồng chí, đồng loại anh em cùng chủng tộc của họ! Trước và sau khi Hiệp Định Paris được chính họ ký kết!.

Xuân hè 1972, để có một chút đất gọi là “lãnh thổ” dung thân, làm thanh thế cho Mặt trận giải phóng Miền Nam tại hội đàm Paris, CS Bắc Việt đã “nướng” 10.000 con em miền Bắc (tử trận) để mong đánh chiếm một phần tỉnh Quảng Trị địa đầu giới tuyến của miền Nam,VNCH, nhưng đã hoài công, đau thương nhất là nơi Cổ Thành Quảng Trị, một trung đoàn CS Bắc Việt 3000 quân ( TĐ 27 Triệu Hải) được lệnh của lãnh đạo CS Bắc Việt, cố bám Cổ Thành bằng mọi giá, trong chảo lữa Trị Thiên, cốt chỉ để phục vụ duy nhất cho chủ trương “vừa đánh vừa đàm”. Sau 81 ngày, trung đoàn 3000 quân chỉ còn lại chưa tới 10 người (Wikipedia). Đây là điển hình cho hành vi độc tài sắt máu vì “cuồng vọng” của tập đoàn lãnh đạo CSVN, phung phí máu xương của nhân dân, dân tộc một cách “khủng khiếp”.

40 năm, chúng ta – Có rầt nhiều công dân trẻ Việt Nam trưởng thành sau 1975, Nam Bắc không phân biệt chính kiến, nên xem kỷ lại phần này, để nhận diện sự tuyên truyền, dối trá phi đạo lý như một thứ bệnh “ung thư” mãn tính của CSVN mà ông Trung Tướng Trần Độ/Phó chính uỷ quân Giải Phóng /PCT/Quốc Hội/CHXHCN/VN nhận xét: “Hệ thống tuyên truyền của đảng CSVN toàn những cái lưỡi “gổ” chuyên nói lấy được, nói láo mà không biết ngượn mồm, nói láo như phường “vô học” (Hồi ký Rồng Rắn).

Như mọi người đều biết Hiệp Định Paris có tên gọi là hiệp định “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình” ở Việt Nam do 4 bên tham chiến: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa, CS Bắc Việt và Mặt trận giải phóng Miền Nam cùng thỏa thuận ký kết trước cộng đồng quốc tế tại Paris (nước Pháp). Nội dung có 9 chương,qui định:

Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được công nhận bởi Hiệp Định Geneva..
Ngừng bắn trên toàn Việt Nam sẽ bắt đầu từ 27tháng 1 năm 1973: với tất cả các đơn vị quân sự ở nguyên vị trí. Mọi tranh chấp về quyền kiểm soát lãnh thổ sẽ được giải quyết bởi uỷ ban quân sự liên hợp giữa hai lực lượng của Việt Nam Cộng hòa và Chính Phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN. Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ và đồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ ra khỏi Việt Nam Cộng hòa. Các bên không được tăng cường binh lính, nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược hoặc vật liệu chiến tranh vào Nam Việt Nam, trong trường hợp để thay thế thì phải theo nguyên tắc một-đổi-một. Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục can thiệp quân sự vào “các vấn đề nội bộ” của Nam Việt Nam.

Tất cả tù binh chiến tranh của các bên sẽ được trao trả không điều kiện trong vòng 60 ngày. Các tù nhân chính trị sẽ được trả tự do sau đó theo thoả thuận chi tiết của các phía Việt Nam.

Miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát. Các bên tạo điều kiện cho dân chúng sinh sống đi lại tự do giữa hai vùng. Nhân dân Nam Việt Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua “tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế” – Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị…

Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình. Để giám sát việc thực hiện hiệp định, một ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế và phái đoàn quân sự liên hợp bốn bên (gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hoa Kỳ, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà) sẽ được thành lập.

Lào và Campuchia giữ vị trí trung lập và tự chủ, không cho nước ngoài được phép giữ các căn cứ quân sự trong lãnh thổ của hai nước này. Hoa Kỳ có nghĩa vụ sẽ giúp đỡ việc tái thiết sau chiến tranh, đặc biệt là ở miền Bắc Việt Nam và trên toàn Đông Dương, để hàn gắn các thiệt hại do chiến tranh. Tất cả các bên đồng ý thi hành hiệp định. Và hiệp định được sự bảo trợ của quốc tế thông qua việc các quốc gia ký nghị định thư quốc tế về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt nam.

Tuy nhiên, khi căn cứ vào Hiệp Định, Mỹ rút hết quân ra khỏi miền Nam VN thì CSVN đổi cái chiêu bài “chống Đế quốc Mỹ xâm lược” thay thế bằng lời hịch ba quân của Lê Duẫn: “chúng ta vào Nam nổ súng là “đánh cho Trung Cộng và Liên Xô” và cái tên gọi hiệp định “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình” ngay tức khắt CS Bắc Việt cũng đổi thành “tăng cường tấn công chiếm lấy miền Nam” như công khai với cộng đồng quốc tế xác nhận một sự “lọc lừa” trắng trợn, trái với điều khoản thứ 4 và 5 trong Hiệp Định Paris:

Đây! Sứ giả hòa bình của CSVN – điều khoản thứ 5 HĐ Paris

Điều khoản 4) – Miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát. Các bên tạo điều kiện cho dân chúng sinh sống đi lại tự do giữa hai vùng. Nhân dân Nam Việt Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua “tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế”

Điều khoản 5) – Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình.

Từ cái Hiệp Định Paris “bịp bợm,lọc lừa” ấy để quân Mỹ rút về nước – CP miền Nam không còn sự hổ trợ – 30/4/1975 – CS Bắc Việt bằng súng đạn của Nga Tàu chiếm được toàn Miền Nam, thực hiện ngay các chính sách độc tài tàn bạo vô đạo lý nhất trong 4000 năm sử Việt, tàn cuộc chiến, vẫn rắp tâm thù hằn ngay với chính đồng bào cùng huyết thống chủng tộc với mình.

Họ – CSVN – lạnh lùng quay mặt với chính điều khoản mà họ ngẩn mặt đặt bút ký trước cộng đồng công luận quốc tế: Điều khoản thứ 3 của HĐ Paris:

Tất cả tù binh chiến tranh của các bên sẽ được trao trả không điều kiện trong vòng 60 ngày. Các tù nhân chính trị sẽ được trả tự do sau đó theo thoả thuận chi tiết của các phía Việt Nam.

Đây! điều khoản thứ 3 HĐ Paris – CSVN tuân thủ với tù binh!

CS Bắc Việt thi hành ngay sự tàn bạo: (Hình như Các chế độ CSVN “giết người” không phải do tư thù mà đó là sách lược và thi hành có hệ thống rặp khuôn đầy bạo lực của CS quốc tế từ cái gọi là Bộ Chính Trị đảng CSVN – Một cái Bộ mà từ khi xuất hiện, bản chất của nó đã là “không dị ứng với máu người” mà “đấu tố tàn sát trong CCRĐ” (1953-1956) là điển hình)

Những người thuộc chế độ miền Nam. “Với người còn sống” – CS Bắc Việt tập trung tù đày giết hại 1/3 trong gần nữa triệu các sĩ quan công chức miền Nam (nói trên) “Với người đã chết” cho quân đội canh giữ như giam cầm (không cho thân nhân chăm sóc mộ phần) hàng chục ngàn nắm xương tàn binh sĩ miền Nam trong nghĩa trang quân đội suốt 20 năm từ 1975-1995 (Những người lính ấy chưa bao giờ đặt chân ra phía Bắc gây nợ máu xương với đồng bào mình? như CS Bắc Việt vượt tuyến vào Nam) một hành vi thù hằn hạ cấp, mất nhân cách, phi đạo lý, ngay cả với những ngôi mộ vô tri?? một hành vi “bỉ ổi” chưa bao giờ có tiền lệ của một dân tộc trọng nhân ái lễ nghĩa như VN (năm 1995 cựu CT/Nước Nguyễn Minh Triết công du Hoa Kỳ có nhắn gửi cho bà con Việt kiều: “Bây giờ nhà nước ta cho phép bà con về nước tự do săn sóc tu bổ mộ phần thân nhân”??).

Để “thủ tiêu” sự thịnh vượng của xã hội miền Nam cho bớt tương phản với nghèo nàn lạc hậu của XHCN miền Bắc. Nhà nước và đảng CS Bắc Việt mở chiến dịch gọi là “Cải tạo Công Thương Nghiệp” tiêu huỷ một nền sản xuất công nghiệp tư bản dân tộc non trẻ đang phát triển năng động của miền Nam, tịch thu, trưng thu, máy móc tư liệu SX “giam” vào kho, thực hiện 2 lần “đổi tiền” như cướp bóc, vét hết tài sản từ nhân dân, xã hội, miền Nam – Nông nghiệp lúa gạo đồng bằng miền Nam bị bóp nghẹt vào tập thể hoá, toàn dân bên bờ vực “đói khát” (1976-1978) hàng triệu đồng bào kinh hoàng vượt biển trốn đi (nói trên).

Di luỵ của HĐ Paris 1973 – Đồng bào miền Nam vượt biển tìm tự do

Tóm lại – 40 năm, sau cái Hiệp Định “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình” mà các chóp bu CS Bắc Việt và MTGP/MN “bịp bợm-lừa lọc” tại Paris ngoài những di lụy thiệt hại nặng nề cho tổ quốc dân tộc đang phải gánh chịu nói trên mà đôi khi dân tộc chúng ta lại phải tiếp tục tốn hao xương máu nhưng cũng không thể một sớm một chiều khắc phục hậu quả được với kẻ thù truyền kiếp Tàu Cộng phương Bắc mà CSVN như là kẻ tiếp tay bỏ ra xương máu đẩy quân Mỹ đi tạo điều kiện cho Trung Quốc rảnh tay, ngược lại đè nặng áp lực lên chính CSVN hôm nay vì quyền lợi quốc gia, thì hiện tại một quốc gia CHXHCN/VN gần 90 triệu người được lãnh đạo bởi một nhóm người Cộng Sản, ít thôi, độc tài toàn trị lại tiếp tục “Bịp Bợm” với nhân dân đồng bào “Nhắm mắt ăn mày dĩ vãng” HĐ Paris 1973 “thắng lợi”?.

Liệu họ,CSVN, có còn Liêm Sĩ để biết xấu hổ với thực tế này: Nhờ thắng lợi của Hiệp Định Paris từ 40 năm trước mà quốc gia CS/XHCN/VN hiện nay đạt được vị trí “hân hạnh” như thế này: (năm 2011)

CH/XHCN Việt Nam có tỷ lệ người dân nghèo cao gần đứng nhất khu vực Asean chỉ sau Campuchia.

Biểu đồ tỷ lệ người thu nhập thấp (dưới 2 đôla/ngày) trong dân số khu vực Châu Á. Nguồn: Brookings

Nghiên cứu mới của Brookings, tổ chức nghiên cứu có uy tín của Mỹ, cho thấy tỷ lệ người nghèo tại Việt Nam cao gần đứng nhất khu vực.

Thống kê của viện nghiên cứu trụ sở chính tại Washington DC cho thấy tỷ lệ người lao động thu nhập thấp (dưới 2 đôla/ngày) tại Việt Nam chiếm 18,2% dân số (16,1 triệu người) trong năm 2011.

Con số này được Brookings dự đoán sẽ giảm dần xuống 15,9% cho đến cuối năm 2012 và Việt Nam sẽ phải đợi đến năm 2020 mới không còn người thu nhập dưới 2 đôla/ngày.

Tuy nhiên tỷ lệ người lao động thu nhập 5 đôla/ngày trong năm 2011 chiếm đến 70,4% dân số Việt Nam (63,1 triệu người) và chỉ số này được dự đoán sẽ giảm dần xuống 67,1% đến hết năm 2012.

Brookings dự đoán cho đến hết năm 2030, Việt Nam mới có hy vọng hết người thu nhập thấp với mức 5 đôla/ngày.

Đây là sự chênh lệch khá xa với các nước khác trong khu vực như Malaysia, Thái Lan, với chỉ số người lao động thu nhập thấp ở mức 2 đôla/ngày chiếm dưới 1% dân số. Hiện tại, mức lương cơ bản tại Thái Lan là gần 9,75 đôla/ngày.

Theo sát Việt Nam là Trung Quốc dù thặng dư ngoại hối nhưng với dân số đông còn nghèo, tổng số người lao động thu nhập thấp ở mức 2 đôla/ngày chiếm 17% dân số.

40 năm – Hể hả, với ván bài “Lừa Bịp” quốc tế qua Hiệp Định Paris, những người lãnh đạo CSVN mỗi khi cần “Bịp Bợm” với nhân dân đồng bào mình hay tự hào dõm, vẫn cứ “nhắm mắt ăn mày dĩ vãng” lôi những lừa lọc, tráo trở và đạn bom ra khoe mẻ, mà không mở to con mắt ra để nhìn tăng trưởng kinh tế quốc dân quanh khu vực sau 40 năm: Thu nhập bình quân đầu người của CHXHCN/Việt Nam (Trên dưới 1200/năm) tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore. (www.nld.com.vn) – Khiêm tốn như Thái Lan thu nhập bình quân đầu người năm 2010 ở mức 9.232USD xét theo ngang giá sức mua, hơn VN nhiều lần (cafef.vn) – Đài Loan Thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 1972 là 522 USD năm 1989, đạt 7.512 USD. Năm 2010 GDP bình quân đầu người hơn 20.000 USD – Còn Singapore. Theo tờ Wall Street Journal, báo cáo từ Knight Frank và Citi Private Wealth ước tính, GDP bình quân đầu người của Singapore, ở mức 56.532 USD vào năm 2010 (VnEconomy) một con số thu nhập mà các chóp bu CSVN có chết đi, đầu thai sống lại vài lần cũng không thể thấy được tại CS/XHCN/VN.

Hàn Quốc Cuối thế kỷ 20, còn là quốc gia nghèo, nhưng trong 40 năm họ vương lên thành những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại.GDP bình quân đầu người của đất nước đã nhẩy vọt từ 100 USD vào năm 1963- 2500 Vào năm 1973 (Năm CSVN ký HĐ Paris) – lên mức kỉ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007. (Wikipedia) một con số thu nhập mà CHXHCN/VN không thể mơ thấy trong vòng 2 thế kỷ!?.

Hàn Quốc không khác Việt Nam là mấy, một quốc gia có định mệnh chia đôi cùng thời với Việt Nam – Nhưng họ không “Ngu xuẩn” cần Hiệp Định hay Thống Nhất bằng máu xương bom đạn với bất cứ giá nào như Cộng Sản Bắc Việt. Họ lấy thịnh vượng cho dân tộc quốc gia là ưu tiên hàng đầu – Thống nhất đất nước là cần nhưng vào một thời điểm thích hợp ở tương lai trong hòa bình! Vì vậy dự trử ngoại tệ cho nền kinh tế Hàn Quốc 410 tỷ USD – Việt Nam 20 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người: Hàn 25.000 USD – Việt Nam 1.200 USD.

Ngày nay, năm 2013 – Sau 40 năm nhờ “Thắng Lợi” của Hiệp Định Paris 1973 “giải phóng” miền Nam, mà giai cấp công nhân “CHXHCN/đảng ta” được được vinh hạnh chen nhau học tiếng Hàn và xếp hàng van vái lạy trời may mắn được sang Hàn Quốc, nữ thì làm: “Osin Vợ hờ cho trăm họ xứ Kim Chi”, Nam thì làm công việc “nặng nhọc nguy hiểm” ngoài trời mà dân bản xứ Hàn Quốc chê, một quốc gia như Việt Nam, chia đôi, nhưng không hao tốn thời gian, máu xương vì chưa cần tới sự “Thống Nhất” bằng mọi giá!??. Lãnh đạo quốc gia, nước nào cũng giống nhau – Khác chăng là tri thức cá nhân – “Khôn nhà và dại chợ” đó là cái dại của ông HCM và đảng CSVN, nỗi bất hạnh của dân tộc Việt Nam chúng ta hôm nay.

Đã vậy. Hướng tới kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris (27/01/1973 – 27/01/2013), ngày 27/12, Trung tâm Lưu trữ quốc gia 3 đã khai mạc triển lãm “Hội nghị Paris – Tài liệu lưu trữ nhìn từ hai phía” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Và tổ chức rùm beng nhiều nơi khác sắp tới đây như khoa trương một sự thành công thắng lợi của “Bịp Bợm” (Tạp chí Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch)

Khi mà từ nguyên nhân sâu sa của “Hiệp Định Paris” nó dẫn đến xung đột để đất trời biển đảo cương thổ của tiền nhân hao hụt, hàng trăm ngàn, máu xương quân dân Biên giới Bắc và Tây Nam hao tốn oan uổng, di luỵ tai hại to lớn mang đến thách thức cho dân tộc bởi một tay “đồng chí bạn vàng TQ” của “đảng ta” (như nói ở phần trên) thì không phải một mà có mười cuộc triển lãm cũng chỉ tăng lên “Nỗi Nhục” gấp thêm 10 lần với cộng đồng nhân loại và công luận quốc tế am hiểu quá khứ so với hoàn cảnh mỉa mai hiện tại vì cuồng tín “ngu ngốc” của CSVN hiện nay mà thôi,

Bởi vì CSVN như con buôn “bất chính” trước mặt chợ đời “Hiệp Định Paris 1973” toan tính lọc lừa thiên hạ và ngay cả với miền Nam VN anh em ruột thịt trong nhà – Nhưng sau lưng lại bị kẻ cắp Trung Quốc “móc túi” cướp đoạt (đất trời biên giới, Biển đảo quê nhà) – Đi buôn không lãi còn “thâm vốn” đất đai cương thổ của cha ông, lại reo vui vỗ tay Triển Lãm ăn mừng. Đi cùng trời cuối đất chắc không thấy cái “đảng” hay “nhà nước” nào ngược đời “lấy cái Nhục làm cái Vinh” xấu hổ như vậy bao giờ. Việt Nam 4000 năm văn hiến, duy nhất chắc chỉ có một – CSVN!?.

Hoàng Thanh Trúc

40 năm nhìn lại Hiệp định Paris

Hiệp định Paris được chính thức ký kết ngày 21/1/1973

Vào ngày 21 tháng Giêng năm 1973, cách đây đúng 40 năm, Hiệp định Paris được chính thức ký kết, khoảng 8 năm kể từ khi Hoa Kỳ can thiệp một cách quy mô vào tình hình chiến sự tại Việt Nam. Vào giai đoạn ấy các bên tham chiến, kể cả Hoa Kỳ, đều muốn mưu tìm một lối thoát, một giải pháp hòa bình để chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, sau gần 5 năm thương thuyết, cái gọi là hòa ước Paris nhằm chấm dứt chiến tranh, cho phép người Mỹ rút về nước trong danh dự, đã không mang lại hòa bình cho miền Nam hay danh dự cho người Mỹ, bởi vì Hiệp định Paris ngay sau đó bị vi phạm, và sau này được coi như điểm khởi đầu của tiến trình dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ miền Nam Việt Nam vào năm 1975. Câu Chuyện Việt Nam do Hoài Hương phụ trách, tuần này xin gửi đến quý vị ý kiến của một số cựu giới chức miền Nam có dính líu trực tiếp tới các cuộc hòa đàm ở Paris, kể cả cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Washington Bùi Diễm, và Cục trưởng Cục Thông tin Quốc ngoại của Việt Nam Cộng hòa, kiêm Tổng Giám đốc Việt Tấn Xã, ông Nguyễn Ngọc Bích.

[audio:http://namviet.net/blog/audio/40years-paris-1973-treaty.mp3%5D

VOA: Thưa ông, cách đây đúng 40 năm, Hiệp định Paris được ký kết bất chấp sự chống đối mạnh mẽ của chính phủ miền Nam, và một số nghi ngại về phía Hoa Kỳ thời đó dưới quyền Tổng Thống Nixon. Thưa xin ông cho biết quan điểm của người miền Nam về hiệp định mà nhiều người cho là rất bất lợi cho Việt Nam Cộng hòa?

Ông Bùi Diễm: “Hiệp định Ba Lê, theo quan điểm của người miền Nam, là một hiệp định không lấy gì làm lợi cho miền Nam bởi vì sau cuộc điều đình ở Ba Lê năm 1973 thì những đơn vị gọi là đơn vị tác chiến của Hà Nội vẫn được phép ở lại miền Nam, đó là một điều hết sức khó khăn cho miền Nam. Trong một bản tường trình cho Tổng thống Thiệu năm 1970, tôi có nói rõ là theo nhận định của tôi sau khi theo dõi chính trường Hoa Kỳ, thì từ năm 70 trở đi, giỏi lắm thì cũng chỉ được 3 năm mà cùng lắm thì cũng chỉ được 5 năm, thành thử ra việc ký kết Hiệp định Ba Lê vào năm 73 thì tôi nghĩ người Mỹ không thể ở lâu hơn ở Việt Nam và cũng đã sửa soạn để ra khỏi Việt Nam không phải là năm 1973 mà từ trước đó nữa. Chỉ còn là họ ra khỏi Việt Nam bằng cách nào mà thôi.”

VOA: Thưa lúc đó ông là Đại sứ Việt Nam Cộng hòa ở Hoa Kỳ, xin ông mô tả lại tình hình trong thời kỳ trước khi ký Hiệp định Paris? Tình trạng chiến sự lúc đó như thế nào, nguy kịch ra sao?

Ông Bùi Diễm: “Tháng Năm năm 1968, tôi còn nhớ là tôi cứ hàng tuần phải đi từ Hoa Thịnh Đốn mà sang Ba Lê để theo dõi thì cuộc điều đình đó từ năm 68 tới năm 73 thì cũng đã 5 năm rồi, tình trạng của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ thực ra thì không hoàn toàn thất vọng, bởi vì chúng ta nhớ trước 73 thì xảy ra Tết Mậu Thân 68, những người cộng sản đã thất bại hoàn toàn. Họ nói họ muốn đẩy mạnh sự nổi dậy của người miền Nam chống lại chính quyền miền Nam, thì việc đó đã không thành, mà đứng về phương diện quân sự thì họ cũng tổn thất khá nặng. Nhưng vì Tết Mậu Thân nó gây một ảnh hưởng tâm lý ở trong chính giới Hoa Kỳ, làm cho người ta bắt đầu sốt ruột. Thành thử từ 68 tới 73, còn có Mùa Hè Đỏ Lửa mà mùa hè đỏ lửa thì miền Nam đã chống giữ một cách hết sức mãnh liệt trước cuộc tấn công của miền Bắc. Chúng ta lại lấy lại Quảng Trị. Trong cái gọi là cuộc tấn công năm 1972, người cộng sản cũng không đạt được những thắng lợi gọi là ghê gớm lắm.”

VOA: Người Mỹ đã hứa hẹn gì, đã áp lực chính phủ của Tổng thống Thiệu như thế nào để buộc chính phủ miền Nam đặt bút ký vào văn kiện đó?

Ông Bùi Diễm: “Có những cuộc gặp gỡ giữa cá nhân tôi với ông Kissinger hay các nhân viên cao cấp của Hoa Kỳ thì họ nói rõ rằng họ phải rời Việt Nam, nếu mình không ký thì họ sẽ chấm dứt sự giúp đỡ miền Nam Việt Nam, thành ra miền Nam rất là khó xử, ký thì biết là bị thiệt thòi bởi vì người Mỹ không đòi quân đội Bắc Việt rút ra khỏi lãnh thổ của miền Nam Việt Nam. Thành ra ký thì bị thiệt thòi như vậy, mà không ký thì vẫn thiệt thòi. Ký hiệp định Ba Lê thì ít ra cũng có đôi chút ánh sáng, người Mỹ hứa hẹn là sẽ phản ứng một cách hết sức mạnh mẽ nếu Bắc Việt vi phạm Hiệp định Ba Lê, đồng thời sẽ giúp Việt Nam chống đỡ những vụ tấn công từ miền Bắc. Người Mỹ đã không giữ lời hứa đó, vì vậy miền Nam mới bị đặt vào trường hợp năm 1975 là thiếu súng đạn, thiếu tất cả mọi thứ trong khi miền Bắc được tiếp tế bởi Liên Xô và Trung Cộng, thành thử đứng về phương diện quân sự, rõ ràng là rất chênh lệch.”

VOA: Thưa ông, là người đã từng làm việc với ông Kissinger thì xin ông cho biết ý kiến về vai trò của ông Kissinger trong thời gian dẫn tới các cuộc thương thuyết tại Paris, và ông nhận định như thế nào về con người, cũng như vai trò của ông Kissinger trong những gì xảy đến cho miền Nam vào năm 1975?

Ông Bùi Diễm: “Vâng, tôi gặp ông Kissinger từ khi còn làm việc ở Sàigòn, lúc đó ông chỉ là một Giáo sư đến thăm Việt Nam. Tôi có mời ông ấy đến ăn cơm ở nhà, rồi đến lúc ông ấy vào làm việc trong chính phủ Nixon, tôi lại có dịp tiếp xúc lại với ông ấy. Có thể nói ông Kissinger là một người có những định kiến về vấn đề ngoại giao. Cuối năm 1968, ông ấy đã có một bài báo viết về tương lai của Việt Nam qua một cuộc điều đình. Đến lúc ông ấy nhận trách nhiệm dưới chính phủ Nixon, ông đi đêm với những người cộng sản, đi liên lạc với các giới truyền thông tôi cũng nghe rằng ông ấy có những tiếp xúc bí mật với những người cộng sản thì tôi hỏi ông ấy thẳng thắn thì ông ấy trả lời tôi một cách hết sức là mập mờ… Sau khi nói chuyện với ông Kissinger, tôi đã điện về Sàigòn để Sàigòn biết và nếu cần thì phải hỏi cho rõ vấn đề này. Bây giờ nhận định về ông Kissinger, thì đứng về phương diện ngoại giao, ông có rất nhiều ý kiến để gọi là dàn xếp trên chính trường quốc tế, nhưng về những đối xử với miền Nam thì tôi phải thành thực nói rằng ông Kissinger không để ý gì tới cái số phận của người dân Việt Nam, và cái đó là điều mà tôi vẫn cho rằng ông ấy thiếu sót lớn trong việc điều khiển ngành ngoại giao của Hoa Kỳ. Điều đình trên trường quốc tế, mà chỉ nghĩ đến cách làm thăng bằng cán cân ở trên thế giới mà không màng gì tới quyền lợi, sự sống còn của những dân tộc mà Hoa Kỳ đã hứa sẽ giúp đỡ thì đó là cái điều mà người Việt Nam, và tất cả các nước nhỏ khác cũng phải nghĩ đến khi mà có sự giao thiệp, trông nhờ vào người Hoa Kỳ.

VOA: Hoa Kỳ bị mang tiếng là đã tháo chạy, đã bỏ rơi đồng minh, lót đường cho quân đội miền Bắc tiến chiếm miền Nam thì xin ông nhận định về bài học rút ra từ kinh nghiệm chiến tranh Việt Nam đối với các vị Tổng thống Mỹ sau năm 1975?

Ông Bùi Diễm: “Thưa những bài học về chiến tranh Việt Nam thì dĩ nhiên là người Việt Nam phải rút ra bài học qua kinh nghiệm thất trận của miền Nam Việt Nam, nhưng mà người Mỹ cũng phải rút ra những bài học đó vì Hoa Kỳ ngay lúc này cũng phải đối phó với những vấn đề đặt ra trên chính trường quốc tế, từ Iraq sang tới Afghanistan, rồi bây giờ các vấn đề Syria, thì tôi nghĩ rằng người Mỹ phải nghĩ lại cho kỹ về vấn đề can thiệp hay không can thiệp trên thế giới, và nếu can thiệp thì can thiệp dưới hình thức nào? Và những dân tộc khác, những nước nhỏ khác, khi mà phải nhờ vả đến Hoa Kỳ thì cũng phải nghĩ tới cái trường hợp ngộ nhỡ người Hoa Kỳ, vì quyền lợi của người ta, người ta rút ra một cách không thuận tiện cho tương lai của mình, thì những dân tộc nhỏ bé đó phải nghĩ tới trong trận chiến tranh Việt Nam, người Hoa Kỳ đã xử sự với người Việt Nam ra làm sao.”

Thưa quý vị, đó là ý kiến của ông Bùi Diễm, cựu Đại sứ Việt nam Cộng hòa tại Washington.

Ông Nguyễn Ngọc Bích, Chủ tịch Nghị hội Toàn quốc Người Việt tại Hoa Kỳ bây giờ, thời đó là Cục trưởng Cục Thông tin Quốc ngoại của VNCH kiêm Tổng Giám đốc Việt Tấn Xã. Ông có mặt trong phái đoàn ông Nguyễn Tiến Hưng, Tổng Trưởng Kế Hoạch VNCH, trong chuyến đi cuối cùng sang Hoa Kỳ vận động Washington tiếp tục viện trợ cho miền Nam. Mời quý vị nghe ý kiến của ông về hiệp định Paris trong câu chuyện với Hoài Hương sau đây:

VOA: Thưa ông, Hiệp định Paris người ta nói là “the beginning of the end”, tức là điểm khởi đầu dẫn tới sự cáo chung của miền Nam, xin cho biết ý kiến của ông?

Ông Nguyễn Ngọc Bích: “Nhìn lui thì mình thấy nó như vậy thế nhưng tình hình lúc bấy giờ thực sự nó phức tạp hơn nhiều. Đúng là người Mỹ họ cần rút lui ra khỏi Việt Nam và cái hiệp định đó đã mang lại cho phía Mỹ những điều kiện căn bản nhất mà họ muốn. Thứ nhất là đem quân về, thứ hai là lấy lại tù binh và những người Mỹ mất tích; phía Hà Nội thì họ thắng trong cuộc gọi là thương lượng với phía Mỹ bằng cách họ giữ được 150.000 quân ở miền Nam, nhưng mà ngược lại họ cũng phải nhượng bộ phía Mỹ. Một trong các điều kiện mà Hà Nội đòi hỏi là phải thay đổi ông Thiệu bằng một chính phủ khác, thì cái chuyện đó họ đã thất bại. Nếu chúng ta nói rằng Mỹ bỏ miền Nam lúc bấy giờ thì cũng đúng, nhưng mà họ cũng có kèm lại một số điều kiện để có thể giữ cho miền Nam tồn tại một thời gian lâu hơn. Chẳng hạn như Đài Loan, Mỹ họ bỏ Đài Loan cũng vào những năm 71-72 với cái thông cáo chung ở Thượng Hải, rồi Đài Loan bị đá văng ra khỏi Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, không còn giữ chân trong Liên Hiệp Quốc, không được quyền có tòa đại sứ Mỹ ở bên Đài Bắc, tức là điều kiện của họ còn tệ hại hơn các điều kiện của Hiệp định Paris đối với miền Nam. Thế mà cho đến ngày hôm nay, Đài Loan vẫn còn là một nước độc lập, thành ra tôi cho rằng các điều kiện mà Mỹ họ nhắm để lại cho miền Nam, không phải là để ‘chôn’ miền Nam.”

VOA: Dạ thưa lúc đó người Mỹ đã áp lực Việt Nam rất mạnh mẽ để buộc miền Nam ký văn kiện này, là người … có thể nói là có cái nhìn từ bên trong, thì thưa ông xin ông mô tả lại bầu không khí và cái tâm trạng của những người chứng kiến?

Ông Nguyễn Ngọc Bích: “Vâng, đương nhiên là mình biết mình bị ép. Ngay sau khi ông Nixon đi sang Bắc Kinh để gặp ông Mao Trạch Đông và ông Chu Ân Lai, thì không chỉ miền Nam mà cả miền Bắc lúc bấy giờ cũng rất sợ hãi, thấy Mỹ bắt tay được với Trung Cộng, thì rất là nguy hiểm. Do đó, chính ông Chu Ân Lai sau khi gặp ông Nixon, cũng phải đi một chuyến bí mật sang Hà Nội để mà tìm cách phủ dụ Hà Nội để Hà Nội yên tâm là họ không có bị bán đứng như họ lo ngại. Miền Nam cũng thế, bằng chứng là cuộc đấu tranh rất là mạnh mẽ chống lại một số điều kiện ở trong Hiệp định. Cái đó nó cũng nói lên là miền Nam cũng biết rằng mình trong một tình thế khó khăn, nhưng mà cũng cố gắng đấu tranh để mà bảo toàn phần nào cái lực lượng của mình. Nhưng mà phải biết rằng năm 1974, thì quân viện của Liên Xô với Bắc Kinh cho Hà Nội nó nhảy vọt lên, trong khi đó thì quân viện cho miền Nam thì liên tiếp 3 năm liền, nó cứ bị chém một nửa, rồi một nửa… sau cuối cùng 300 triệu cũng không có.”

VOA: Dạ nhưng mà sự thực là như thế này: chính phủ VNCH sụp đổ 2 năm sau khi Hiệp định Paris được ký kết. 40 năm là một khoảng cách tương đối đủ dài để chúng ta nhìn lại sự kiện một cách khách quan hơn, vậy thì theo nhận xét của ông thì những gì xảy ra một phần có thể quy lỗi cho những cái thiếu sót của lãnh đạo miền Nam, của chính quyền miền Nam?

Ông Nguyễn Ngọc Bích: “Dạ vâng, những thiếu sót của chính quyền miền Nam thì cũng khá nhiều, cái đó thì ai cũng trông ra chứ không phải là không. Nó cũng có vấn đề tham nhũng, nhưng tôi không nghĩ tham nhũng đã đưa miền Nam tới chỗ sụp đổ, tôi cho rằng thiếu sót của miền Nam căn bản là cái quyết định rút lui khỏi Vùng 2 chiến thuật một cách rất là vội vã trong khi lúc bấy giờ quân đội của mình nó chưa bị sứt mẻ bao nhiêu mà mình làm cho cuối cùng gần 200.000 quân, cả quân đội lẫn địa phương quân mà bị sụp đổ trong một thời gian rất ngắn. Đó là điều đã làm cho miền Nam, vốn đã ở trong thế vô cùng khó khăn, trở nên vô vọng.”

‘Câu chuyện Việt Nam’ do Hoài Hương phụ trách đến đây đã kết thúc, mời quý vị đón nghe chương trình này, được phát thanh vào lúc 10 giờ tối thứ Bảy mỗi tuần. Quý vị có thể đóng góp ý kiến, bình luận về đề tài hôm nay, đọc các tin mới nhất, xem phóng sự video, và trao đổi với các độc giả khác trên trang web của chúng tôi ở địa chỉ http://www.voatiengviet.com hoặc trên các trang web xã hội Facebook, Twitter và Yahoo 360 plus. Hoài Hương xin cám ơn sự theo dõi của quý vị và xin hẹn gặp lại quý vị trong chương trình tuần sau.

VOA

40 năm Hiệp định hòa bình Paris 1973 : dịp may bị bỏ qua

Ngày 27/01/2013 tới đây ghi dấu 40 năm Hiệp định Hòa bình Paris 1973. Hiệp định này được Hà Nội xem là “móc son chiến lược” dẫn đến cuộc tổng tấn công và chiến thắng quân sự vào tháng 04/1975. Mỹ ngưng can thiệp tại Đông nam Á, Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ nhưng giờ đây nhiều ý kiến trong và ngoài nước lo ngại hệ quả Hiệp định Paris tác động đến sinh mệnh của Việt Nam trước gọng kềm quân sự và chính trị của Bắc Kinh.

Ông Lê Đức Thọ, đại diện phái đoàn Việt Nam và ông Henry Kissinger, Cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ tại lễ ký hiệp định (DR)

“Hiêp Định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết vào ngày 27/01/1973. Sau bốn năm đàm phán lúc đầu công khai giữa bốn bên Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, về sau là mật đàm giữa hai ông Henry Kissinger và Lê Đức Thọ.
[audio:http://namviet.net/blog/audio/MAG_FOCUS_TUAN_A_VERIF_24_01_13.mp3%5D
Hiệp định này giúp cho Hoa Kỳ ngưng tham chiến tại Việt Nam, thu hồi tù binh. Hà Nội được duy trì các sư đoàn xâm nhập vào miền nam. Sài gòn và Chính phủ Lâm thời miền Nam Việt Nam được kêu gọi hòa giải dân tộc, tổ chức bầu cử, chấm dứt xung đột võ trang.

Tổng thống Mỹ Richard Nixon hứa sẽ viện trợ cho hai miền nam bắc 7 tỷ đô la để tái thiết nếu hòa ước được tôn trọng. Hai nhà mật đàm Henry Kisinger và Lê Đức Thọ được Ủy ban Nobel Hòa bình Na Uy trao giải thưởng 1973, nhưng ông Lê Đức Thọ từ chối.

Ngày 6 tháng 01 năm 1975, tỉnh Phước Long bị đánh chiếm nhưng Hoa Kỳ không phản ứng mà còn cắt viện trợ cho Sài Gòn. Vài hôm sau, Hà Nội tung chiến dịch « Hồ Chí Minh » đưa đến chiến thắng 30/04/1975.

40 năm sau, báo chí tại Việt Nam có dịp đưa lại những lập luận khẳng định Hòa ước Paris chỉ là « móc chiến lược » để tìm chiến thắng quân sự thay vì củng cố hòa bình tái thiết đất nước. Trả lời phỏng vấn của tờ Courrier du Vietnam, Đại sứ Việt nam bên cạnh Unesco, ông Dương Văn Quảng nhận định « Hiệp định Paris tạo điều kiện cần thiết về quân sự, chính trị và ngoại giao để tổng tấn công năm 1975 ».

Báo mạng ViêtNamNet mượn lời phân tích trên bán nguyệt san Mỹ Counter Punch chỉ trích tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu « sai lầm không nỗ lực làm cho Hiệp định có hiệu lực, chia quyền …với người Cộng sản dân tộc chủ nghĩa » nên phải lưu vong vào mùa xuân 1975.

Tuy nhiên ,các tài liệu của Mỹ được giải mật cho thấy Sài gòn bị đồng minh Hoa Kỳ « bức tử ». Bốn mươi năm nhìn lại, nhiều blogger người Việt như Hoàng Thanh Trúc trên blog « Dân làm báo » và Nguyễn Quốc Khải trên « Đàn chim Việt » đưa ra hai nhận xét : một là Hiệp định Paris đã đưa Việt Nam vào chế độ độc tài, sau khi chiến thắng đảng Cộng sản Việt Nam đã không thực thi dân chủ theo nguyện vọng của dân. Thứ hai, kẻ chủ động và chiến thắng không phải là Hà Nội mà có lẽ là Bắc Kinh.

Được RFI đặt câu hỏi, Luật sư Trần Thanh Hiệp, một trong những thành viên phái đoàn VNCH tham gia hoà đàm tại Paris, hiện đang sống tại Pháp, chia sẻ một số ý kiến của ông, trong phần phỏng vấn sau đây.

Luật sư Trần Thanh Hiệp :

« Tôi chỉ là luật sư hành nghề tự do tại Sài Gòn không thuộc thành phần của chính phủ cũng như ngoại giao đoàn… tôi tham gia hòa đàm cũng như một số đồng nghiệp như nữ luật sư Nguyễn Thị Vui, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy hoặc tại Paris như luật sư Nguyễn Đắc Khê…. Đều không phải là người của chính quyền. Chúng tôi được mời tham gia phái đoàn đàm phán vì được tín nhiệm là luật gia.

Về những mục tiêu của Hiệp định Paris 1973 :

Luật sư Trần Thanh Hiệp : « Đối với tôi, hiệp định chỉ có hai (loại) mục tiêu : một là những mục tiêu được công bố trước dư luận và hai là những mục tiêu thầm kín, dư luận không biết.. Đối với Hoa Thịnh Đốn, Hà Nội và Sài Gòn thì mục tiêu của Hiệp định Paris là tái lập hòa bình ở Việt Nam. Từ mục tiêu chúng có tính cách lý tưởng , mỗi phía đều theo đuổi mục tiêu riêng và cụ thể như Mỹ thì muốn an toàn rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Hà Nội trái lại, chỉ tìm cách giữ lại tại miền Nam những lực lượng quân sự đã xâm nhập. Riêng Việt Nam Cộng Hòa đã phải co cụm lại vì cần phải tự vệ trước ý đồ đánh chiếm của Hà Nội nên trọng tâm của Việt Nam Cộng Hòa không phải là lập lại hòa bình mà vẫn phải là củng cố khả năng tự vệ bằng quân lực và chính trị …. Tôi hy vọng lịch sử sẽ soi sáng những vùng tối trong tương lai…

Tổng thống VNCH sai lầm, không tôn trọng hiệp định, không chia quyền với thành phần ba và thành phần Cộng sản dân tộc chủ nghĩa để giử miền Nam mà chỉ dựa vào sức mạnh quân sự nên cuối cùng phải thua trận ?

Hiệp định Paris là liều « thuốc hiện hình » đã cho thấy ai là kẻ hiếu chiến… người Cộng sản hãnh diện họ là người lính tiền phong của xã hội chủ nghĩa đứng trên tuyến đầu chống tư bản chủ nghĩa….

Sáng kiến vận động phục hồi Hiệp định Paris 1973 của « Ủy ban lãnh đạo lâm thời VNCH » :

Luật sư Trần Thanh Hiệp : « Tôi có nghe thấy và đọc một số thông tin về sáng kiến làm sống lại Hiệp định Paris. Tôi không nắm rõ được tình hình nên không muốn khẳng định rằng hiện đã có kế hoạch nào để thực hiện hay không ? Nhưng, với tư cách là một người đã từng tham dự hòa đàm Paris, với kinh nghiệm chuyên môn về luật quốc tế , với kinh nghiệm bản thân từng chứng kiến mọi biến cố lịch sử trọng đại từ 1945 đến nay, tôi có thể nói ý nghĩ thầm kín của của tôi là Hiệp định Paris tuy nói là chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình tại Việt Nam nhưng dường như chỉ là một « cái xác không hồn », văn tự thì đề cao nhân nghĩa nhưng cách ứng xử của một trong những thành phần tham gia thì chỉ là một loạt tội ác…

Do vậy, đặt lại vấn đề làm sống lại Hiệp định Paris thì cũng không thể giải quyết gì được chuyện tương lai đất nước. Chi bằng cả nước dồn nỗ lực làm sống lại lý tưởng đoàn kết dân tộc, xây dựng dân chủ tự do, mang lại nhân phẩm cho mỗi con người Việt Nam mà Hiệp định Paris đã xưng tụng, thiết kế thực hiện nhưng hiệp định này đã bị dìm chết. Quốc tế và Cộng sản Hà Nội đã làm lỡ dịp may này ».

RFI

40 năm sau bà Nguyễn Thị Bình vẫn chưa nói thật

VRNs (25.01.2013) – Washington DC, USA – Sự thật dối mãi rồi cũng có ngày lộ ra như trường hợp Phái đòan của Chính phủ mang tên “Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” do Bà Nguyễn Thị Bình cầm đầu tại Hội nghị Paris cách nay 40 năm.

“Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam” đã được ký kết ngày 27/01/1973 bởi 4 bên ghi trong biên bản gồm: Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH,Nam Việt Nam), Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (miền Bắc) và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) , thành lập ngày 6/6/1969, tức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTGPMN).

NGỌN NGUỒN XÂM LĂNG

Thực chất Hội nghị dài 4 năm 8 tháng 16 ngày, bắt đầu từ 13/5/1968 đến 27/1/1973, không kể các phiên họp kín giữa Mỹ và Bắc Việt, chỉ nên coi đại diện cho 3 phe tham chiến gồm Mỹ, VNCH và phe Cộng sản Bắc và Nam bởi lẽ tổ chức MTGPMN do Đảng Lao Động Việt Nam, sau đổi thành đảng Cộng sản Việt Nam thành lập và chỉ huy từ chính trị đến quân sự từ quyết định của Đại hội tòan quốc lần thứ III ngày 10/9/1960.

Nghị quyết “về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới” được viết theo phương châm “xây dựng miền Bắc, chiếu cố miền Nam”, theo đó, chính quyền miền Bắc viết : “Để bảo đảm cho cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam giành được toàn thắng, đồng bào ta ở miền Nam cần ra sức xây dựng khối công nông binh liên hợp và thực hiện một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống Mỹ – Diệm lấy liên minh công nông làm cơ sở. Mặt trận này phải đoàn kết các giai cấp và các tầng lớp yêu nước, dân tộc đa số, các dân tộc thiểu số, các đảng phái yêu nước và các tôn giáo, và tất cả những người có khuynh hướng chống Mỹ – Diệm. Mục tiêu phấn đấu của mặt trận này là hòa bình, độc lập dân tộc, tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình thống nhất Tổ quốc. Công tác mặt trận phải nhằm đoàn kết tất cả những lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ bất cứ lực lượng nào có thể tranh thủ, trung lập những thế lực cần phải trung lập, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân vào phong trào đấu tranh chung chống Mỹ – Diệm nhằm giải phóng miền Nam, hòa bình thống nhất Tổ quốc.”

Trước khi chủ trương thành lập một Mặt trận mang danh nghĩa của “nhân dân miền Nam” để chống chính quyền VNCH thời Đệ I Cộng Hòa dưới quyền lãnh đạo của Tổng thống Ngô Đình Diệm, đảng Lao động Việt Nam ở miền Bắc thời ấy đã nói trắng ý đồ xâm lăng miền Nam từ năm 1959 khi đưa ra chủ trương phá hoại miền Nam qua Nghị quyết Trung ương “lần thứ 15 (mở rộng) về tăng cường đoàn kết, kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà” .

Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) họp tại Hà Nội từ ngày 12 đến ngày 22-1-1959 viết : “- ”Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

– Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới”.

Những người Cộng sản miền Bắc cũng không giấu giếm khi họ nói thêm rằng : “ Hội nghị Trung ương lần thứ 15 nhận định rằng hiện nay, cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau, nhằm phương hướng chung là giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội.” (Tài liệu của đảng CSVN)

CỘNG SẢN MIỀN NAM

Như vậy đảng CSVN và đám người Cộng sản miền Nam, trong đó có Bà Nguyễn Thị Bình, người đã được thu nạp vào đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1948 có còn chối cãi rằng họ “không phải là Cộng sản” không ?

Cùng được kết nạp vào đảng năm 1948 còn có Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch đầu tiên của Mặt trận Giải phóng miền Nam khi thành lập ngày 10/12/1960 và Kỹ sư Hùynh Tấn Phát, Phó Chủ tịch, Thủ tướng của Chính phủ CMLTCHMNVN đã gia nhập đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1947.

Theo tiểu sử công khai thì Bà Bình, tên thật là Nguyễn Châu Sa hay Nguyễn Thị Châu Sa, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1927 tại tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Tuy nhiên, nguyên quán của thân phụ bà là ông Nguyễn Đồng Hợi, lại ở Điện Bàn, Quảng Nam. Thân mẫu bà là bà Phan Thị Châu Lan (tục gọi là cô Mè, 1904-1944), là người con gái thứ hai của nhà chí sĩ Phan Chu Trinh.

Bà Bình tham gia hoạt động chống Pháp từ thời còn niên thiếu. Năm 1954, bà ra tù và tham gia phong trào hoà bình đòi thi hành Hiệp định Genève. Năm 1955, bà được đảng điều ra Bắc tập kết và được đào tạo thêm theo chương trình bồi dưỡng cán bộ đặc biệt.

Năm 1962, bà được điều trở lại miền Nam với cái tên mới là Nguyễn Thị Bình, giữ chức vụ Ủy viên Trung ương Mặt trận Giải phóng, hoạt động trong tổ đối ngoại, kiêm Phó tổng thư ký Hội Phụ nữ Giải phóng. Cuối năm 1968, bà được cử làm Trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Giải phóng sang Paris dự Hội nghị Paris về Việt Nam, đến đầu tháng 1 năm 1969, ông Trần Bửu Kiếm giữ chức vụ trưởng đoàn, còn bà được rút về nước để chuẩn bị cho việc thành lập Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sau đó đảng Cộng sản cử Bà làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho Chính phủ này để đảm nhận lại chức vụ Trưởng đoàn đàm phán của phe MTGPMN tại cuộc hòa đàm Ba Lê.

NHỮNG MẶT TRÁI

Trong cuộc phỏng vấn của báo điện tử đảng Cộng sản Việt Nam phổ biến ngày 23/01/2013, bà Bình nói : “Trong 4 đoàn, đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đại diện cho cuộc chiến đấu trực tiếp với Mỹ. Do đó theo tôi, chú ý của thế giới tập trung vào đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; và hơn nữa, như chúng ta biết, hai đoàn này là một, mục tiêu là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vì vậy, tất cả những đề nghị giải pháp đưa ra đều do Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ủng hộ. Vì thế, vị thế của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là rất quan trọng trong đàm phán Hiệp định Paris. Bên cạnh đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn có vị trí quan trọng, bởi là người trực tiếp chiến đấu, với đường lối độc lập hòa bình trung lập, nhấn mạnh đến đường lối hòa bình, mềm dẻo đối ngoại trong đàm phán.”

Bà Bình đã “phóng đại tô mầu” văng miệng cho vai trò “chiếc áo rộng hơn người mặc” của MTGPMN vì bà không mất tiền mua.

Tại sao ?

Bởi vì làm gì có điều được gọi là “đại diện cho cuộc chiến đấu trực tiếp với Mỹ “ của phe MTGPMN trên chiến trường miền Nam trong 20 năm chiến tranh gọi “chống Mỹ cứu nước” ?

Chắc Bà Bình quên mất hình ảnh chiếc xe tăng đi đầu húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/04/1975 ở Sài Gòn tuy có cắm cờ của “giải phóng” nhưng những lính trên xe là của miền Bắc đấy chứ ?

Rồi người lính cắm cờ MTGPMN trên nóc Dinh Độc Lập vào lúc 11 giờ 30 phút (30/04/1975), Bùi Quang Thận, đại đội trưởng Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn tăng thiết giáp 203, Quân đoàn 2 cũng là bộ đội Cộng sản miền Bắc quê ở Thái Bình phải không ?

Còn chuyện bà xác nhận “hai đòan này là một” là chuyện ai không biết ? Tuy hai khuôn mặt nhưng là một “cơ thể” của đảng đẻ ra. Có khác chăng bà là “phái nữ ” còn ông Bộ trưởng Ngọai giao Nguyễn Duy Trinh là “phái nam” !

Thế rồi bà Bình còn hô hóan lên rằng : “Nếu không có chiến thắng Mậu Thân 1968, không có những ngày chiến đấu ác liệt bảo vệ thành cổ Quảng Trị, không có chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, không có sự hỗ trợ chi viện của miền Bắc thì không có Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam. Và đương nhiên, nếu không có Hiệp định Paris năm 1973 thì sẽ không có Đại thắng mùa Xuân năm 1975.”

Tòan là những chuyện “bới đống tro tàn tìm máu đổ” và nhận công “hão”. Bà Bình nói “chiến thắng Mậu Thân 1968” là bà đã nhục mạ lên những xác người Việt Nam vô tội của miền Nam bị lính Cộng sản hai miền Nam-Bắc sát hại không gớm tay trong cuộc thảm sát ở Huế và ở khắp thành thị miền Nam của năm ấy mà bà không nhớ sao ?

Còn bao nhiêu xác người dân, trong số có không biết bao nhiêu con trẻ, phụ nữ và các cụ gìa đã bị lính Cộng sản rượt bắn tiêu diệt không thương tiếc trên đường chạy trốn để không bị bắt lại ở đường số 1 nối liền Quảng Trị với Thừa Thiên ?

Còn chuyện bà nhớ ơn miền Bắc đã “hỗ trợ chi viện” cho miền Nam “kháng chiến chống Mỹ” và “chống Ngụy” là đầu óc bà bắt buộc phải “có vấn đề” rồi !

Nếu miền Bắc của bà tử tế như họ nói từ xưa đến nay thì làm gì có những câu chuyện “lính Việt Cộng miền Nam” đã “chửi thề nguyền rủa” các đồng chí miền Bắc cướp công cách mạng của đồng bào miền Nam sau cuộc chiến ?

Quân “giải phóng” làm gì có xe tăng, đai pháo và hỏa tiễn. Chúng là của Trung Cộng và khối Liên Sô trao cho lính miền Bắc Cộng sản để đem vào Nam giết hại dân lành và phá họai xóm làng đấy thôi ?

Chẳng nhẽ bà đã quên câu chuyện “Câu lạc bộ truyền thống kháng chiến” của những Lão thành Cách mạng và Tướng tá người miền Nam bị “khóa miệng” từ tháng 3 năm 1989 bởi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, và một số người bị bắt giam hoặc bị qủan thúc như các ông Tạ Bá Tòng, Hồ Văn Hiếu, Ðỗ Trung Hiếu, Lê Ðình Mạnh ?

Những người “kháng chiến gian khổ gấp trăm lần hơn” bà Bình không “có công” với cách mạng như bà hay sao mà họ bị trù dập đau đớn như thế, hay chỉ vì họ đã bất đồng chính kiến và bất mãn trước chủ trương kỳ thị và những chính sách làm nghèo đói dân miền Nam của đảng miền Bắc sau ngày 30/4/1975 ?

Chắc hẳn bà cũng chưa quên những lời oán trách bị kỳ thị và bị “vắt chanh bỏ vỏ” của Bà Bác sỹ Dương Qùynh Hoa, Bộ trưởng Y tế của Chính phủ ma CMLTCHMNVN sau ngày “giải phóng” đấy chứ ?

Hay là bà Bình cũng quên nốt lời lên án các chỉ huy quân sự miền Bắc đã “chủ ý” đẩy “lính Việt Cộng” miền Nam vào chỗ thiêu thân trong trận tấn công Mậu Thân ?

Những người Cộng sản miền Nam được hưởng ân sủng như bà không nhiều. Nhưng bà cũng không nên quên rằng, dù bà cố nói sai đi thì lịch sử vẫn còn ghi đậm nét những phá họai đất đai và con người miền Nam của đảng Cộng sản Việt Nam trong hai cuộc chiến huynh đệ tương tàn.

Bởi lẽ nếu 30,000 quân lính miền Bắc không lén lút ở lại trong Nam sau Hiệp định Geneve 1954 để nuôi dưỡng chiến tranh xâm lược và nếu ngót 200,000 bộ đội chính quy miền Bắc không được “ở nguyên vị trí” trong Nam do nhượng bộ vì quyền lợi thiển cận phải tái đắc cử của Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon trước khi ký Hiệp định Paris năm 1973, nhờ đó mà Bắc Việt có thể dấy lên cuộc chiến mới phá họai hòa bình để giết hại đồng bào thì làm gì có chuyện được gọi là “Đại thắng mủa xuân 1975” , hay bị rơi vào hòan cảnh “một triệu người vui” thì cũng có “một triệu người buồn” như Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói ?

Thế rồi người dân cũng chưa thấy bà Bình có lời bênh vực nào cho những người biểu tình chống Trung Cộng đang xâm chiến biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông khi họ bị công an đàn áp dã man từ Sài Gòn ra Hà Nội ?

Cũng chưa nghe bà than phiền gì về chuyện hàng chục nghìn người dân miền Nam đã bỏ xác trên Biển Đông khi vượt biển tìm tự do sau ngày “các đồng chí” của bà chiếm Sài Gòn ?

Bà cũng im hơi lặng tiếng sau chiến dịch đảng cướp sạch tài sản của giới thương gia Sài Gòn và phá họai nền kinh tế phồn thịnh của miền Nam trong chiến dịch diệt tư sản năm 1977 khiến cả nước phải mất hàng chục năm mới ngóc đầu lên được !

Những tệ nạn xã hội, văn hóa suy đồi, luân thường đạo lý đảo ngược, truyền thống dân tộc băng họai trong xã hội ngày nay và nạn tham nhũng đang đe dọa sự sống còn của cả nước có do Mỹ-Ngụy để lại không hay bởi “các đồng chí Cộng sản của bà” gây ra ?

Có phải đó là những “thành qủa vĩ đại” của cách mạng không hay là những thảm họa của cái gọi là “Đại thắng mùa Xuân năm 1975” ?

Rồi bà Bình hãy ngẫm lại xem chủ trương “hòa hợp, hòa giải dân tộc” do Bà rêu rao ở Hội đàm Paris 40 năm trước đã thực hành ra sao ở trong Nam kể từ 30/04/1975, hay lòng người Nam-Bắc từ đó đến nay đã chia rẽ và hận thù nhau hơn bao giờ hết ?

Ấy là chưa kể gần như tòan vẹn trên 3 triệu cây số vuông Biển Đông đã nằm trong tay kiểm soát của Trung Cộng.

Rồi bà phải trả lời như thế nào với một số Trí thức Sài Gòn từng là người của MTGPMN hay cảm tình viên trong thời chiến đã bị trù dập, bị khống chế và bị đe dọa, khủng bố trong mấy năm gần đây chỉ vì muốn biểu tình chống xâm lăng của Trung Cộng ở Biển Đông ?

Chẳng lẽ bà không biết đến những người như Giáo sư Tương Lai, cựu Dân biều VNCH Hồ Ngọc Nhuận, Bác sỹ Hùynh Tấn Mẫm, Luật sư Lê Hiếu Đằng v.v…?

Tại sao họ đã quay lưng lại với đảng và nhà nước của bà thì bà phải hiểu chứ ?

Những sự thật phũ phàng này không ghi trong “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam” nhưng đang nhảy múa trước mắt mọi người.

Chẳng nhẽ bà Bình không thấy hay Bà biết mà không dám nói ?

Phạm Trần

Hiệp Định Paris 1973: Vì sao cần phải nhắc lại?

Một ngày trọng đại sắp sửa trôi qua mà tôi sợ các cơ quan truyền thông của người Việt ở hải ngoại, không trừ cả một đài điền thế cho tiếng nói tự do của VN là Đài RFA, sẽ để cho nó lẳng lặng trôi qua vì lý do đó là chuyện cũ, chuyện 40 năm qua rồi, không còn mấy ai nhớ đến nó và do đó, cho nó qua luôn.

AFP photo
Người đứng đầu phái đoàn miền Nam Việt Nam, Ngoại trưởng Trần Văn Lắm (giữa) ký hiệp định Paris hôm 2/3/1973 tại Paris.

Lối suy nghĩ này thật khôi hài bởi người Việt chúng ta thường tự hào là chúng ta thường yêu và nhớ lịch sử nước nhà. Chúng ta nhớ chuyện bà Trưng, bà Triệu, hãnh diện chuyện nhà Trần ba lần đánh bại quân Nguyên, nhớ Lý Thường-kiệt với trận đại-thắng quân Tống trên sông Như-nguyệt, hát “Nước non Lam-sơn,” biết ơn Quang Trung đại-phá quân nhà Thanh… song chuyện gần chúng ta hơn thì tự nhiên chúng ta mắc bệnh Alzheimer.

Không những thế, càng gần thì hình như chúng ta càng hiểu lầm vấn đề, đổi trắng thay đen… như trong nước các nghĩa trang “liệt sĩ Trung Cộng” thì chình ình ở trong các tỉnh biên giới, nơi quân TC sang xâm lược và tàn phá nước ta vào năm 1979. Chưa hết, gần đây ở ngay thủ-đô Hà Nội của nước VN Cộng-hòa XHCN còn có lễ “biết ơn” quân đội nhân dân TC dạy dỗ, huấn luyện cho hàng trăm hàng ngàn sĩ quan (lên đến những hàng cao cấp nhất) trong “quân đội nhân-dân” Việt-nam!!!

Chúng ta thường chê người Mỹ là chóng quên, không có ý thức lịch sử sâu đậm như chúng ta. Thế thì sao trận Nhật đánh Trân-châu-cảng (Pearl Harbor) thì đến 81 năm sau, vào ngày 7 tháng 12 vừa rồi, người ta vẫn kỷ niệm?

Đã đến lúc chúng ta phải xét lại vấn đề

Đã đến lúc chúng ta phải nhìn lại vấn đề. Một Hiệp định Hòa bình Paris mà không đem lại “hòa-bình” mà không thành vấn-đề sao? Một hiệp định hòa bình mà hai người chủ chốt thương thuyết nó sau được giải thưởng Nobel Hòa bình để giờ đây câu chuyện đó còn là nỗi nhục cho ủy ban (ở Na-uy) tuyển chọn giải đó vào năm 1973 mà không đáng nói sao? Một hiệp định hòa bình mà dẫn đến sự hiện diện của khoảng 3 triệu rưởi người Việt ở hải-ngoại ngày hôm nay mà ta không cần biết chi-tiết nó nói gì và nó có bị vi-phạm hay không sao? Và nếu có thì ai vi-phạm? Vi-phạm thế nào?

Do đó mà tôi biết ơn ông Nguyễn Quốc Khải đã mở màn cho việc xét lại Hiệp-định Paris cách đây 40 năm với bài “Sự thật phũ phàng về Hiệp định Paris 1973” gởi cho RFA ngày 17/12 cách đây gần một tháng dù như có nhiều điều trong đó tôi không đồng ý với cách đọc của ông (tôi đã trả lời, cũng trên RFA, bằng một bài viết vào ngày hôm sau).

Từ đó, ông Khải và tôi đã có một số bài trao đổi qua lại, nói chung là khá nghiêm chỉnh bởi chúng tôi chủ yếu chỉ dựa vào những dữ kiện lịch sử, tránh được những sự cãi vã không cần thiết hay đi vào đả kích cá nhân.

Người Cộng sản Hà Nội muốn quên

Dựa vào những dữ kiện mà cả tôi lẫn ông Nguyễn Quốc Khải đưa ra thì Hiệp định Hòa bình Paris 1973 chỉ là một quả lừa vĩ đại của Hà Nội nhằm đá Mỹ ra khỏi VN và sau đó thôn tính miền Nam (bất kể Chương V của Hiệp định đã nói thật rõ ràng, rõ như ban ngày: trong việc “thống nhất đất nước hai miền, không bên nào được thôn tính bên nào”).

Tôi coi đó là một sự vi phạm trắng trợn mà ta phải nhắc nhở, không cho Hà Nội và dư luận thế giới (kể cả nước Mỹ) quên về chuyện này.

Tóm lại, Hà Nội càng muốn quên thì ta càng cần phải nhắc, nhắc cho đến không ai quên được những việc làm ô nhục của Hà Nội dù như kết quả của sự phản bội đó đến nay, 40 năm sau, vẫn chưa đổi thay được bao nhiêu.

Năm nay khác?

Nếu trong những năm qua, các báo đài, kể cả các đài quốc tế, đã tránh né việc phân định, phán xét ai phải trái trong việc thực thi Hiệp định Paris 1973 thì tôi mong là năm nay, chúng ta sẽ có một thái độ khác đi.

Tại sao? Tại vì ta không thể trốn tránh được sự thực lịch sử dù vai trò của ta ở trong đó không lấy gì làm đẹp. Cũng như chuyện Cải cách ruộng đất ở miền Bắc hay chuyện Mậu thân ở Huế, chúng cứ việc cách ta nửa thế kỷ hay hơn nữa, câu chuyện chưa được phanh phui đến ngọn nguồn thì lịch sử vẫn còn thiếu sót nếu không muốn nói là méo mó, gian lận.

Năm nay cũng còn khác nữa là vì kỷ niệm 40 năm, đang có triệu chứng là Hà-nội muốn nhắc lại chuyện Hiệp định Paris để nói như ông Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Quốc phòng của Hà Nội hôm đầu năm (1/1/2013), là “Cách can dự của Mỹ, như họ tuyên bố là ủng hộ các giải pháp hòa bình và luật pháp quốc tế, làm cho một số nước đồng tình mà có thể không lưu tâm đúng mức đến mặt trái của nó.” Ông cho biết đã từng nói với một quan chức Mỹ: “Nếu như các ông làm đúng những gì đã nói thì tôi hoan nghênh, còn nếu không các ông sẽ buộc phải rời khỏi khu vực như năm 1975 rời khỏi Việt Nam.”

Nói cách khác, Hà Nội, qua ông Nguyễn Chí Vịnh, đang muốn trắng trợn nói với Mỹ là: chúng tôi đã lừa được ông năm 1973 để đuổi ông ra năm 1975 (thực ra Mỹ đến đó đã không còn một quân nhân tác chiến nào ở VN từ tháng Giêng 1973), chúng tôi vẫn có thể đi với Bắc-kinh (cái mà ông Vịnh gọi là “tương đồng ý thức hệ”) để đá ông khỏi Biển Đông!

Một chuyện có liên hệ trực tiếp đến chuyện sống còn của đất nước ngày hôm nay như thế mà không đáng để cho các báo đài bàn đến hay sao?

Theo dòng thời sự:

Việt Nam kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris

Hôm nay, 25/01/2013, tại Hà Nội, các lãnh đạo Việt Nam đã dự lễ kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris 27/01/1973, chấm dứt sự can thiệp quân sự trực tiếp của Mỹ ở Việt Nam và tạm dừng chiến sự giữa hai miền Nam – Bắc.

Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang bắt tay bà Nguyễn Thị Bình, tại lễ kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris, được tổ chức tại Hà Nội, 25/01/2013
REUTERS/Kham

Phát biểu tại buổi lễ, chủ tịch nước Truơng Tấn Sang mô tả các cuộc đàm phán về Hiệp định Paris là « đấu tranh ngoại giao khó khắn nhất, lâu dài nhất đối với Việt Nam ». Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ca ngợi Hiệp định Paris là « thắng lợi có ý nghĩa chiến lược dẫn đến chiến thắng năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ».

Các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt chiến tranh Việt Nam đã được mở ra tại Paris ngày 10/05/1968, nhưng đàm phán đã kéo dài đến 5 năm và trong khoảng thời gian đó, chiến tranh đã leo thang, vì bên nào cũng chủ trương « vừa đánh vừa đàm », với hy vọng biến chiến thắng quân sự thành lợi thế ngoại giao.

Chiếu theo Hiệp định Paris, các bên đồng ý ngừng bắn và Hoa Kỳ cam kết rút quân khỏi Việt Nam trong vòng 60 ngày và trong cùng thời gian các tù binh sẽ được phóng thích. Hai miền Nam Bắc cũng cam kết sẽ đi đến thống nhất đất nước trong hòa bình.

Theo nhận định của AFP, do không có giải pháp chính trị nào, chiến sự lại bùng nổ, Hà Nội phá vỡ Hiệp định Paris, tung lực lượng chính quy dùng vũ lực để chiếm trọn miền Nam.

Tuy gọi là « Hiệp định Hòa bình Paris », nhưng hiệp định này đã không mang lại ngay hòa bình cho Việt Nam và chiến tranh chỉ chấm dứt vào tháng 4/1975, với kết quả hoàn toàn không giống như dự trù của Hiệp định Paris.

RFI

‘Một lần lỡ thời cơ mất cả trăm năm’

Cựu bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm nói “tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt, tư duy ‘một mất một còn’ vẫn nổi trội trong các mối bang giao”.

Ông cũng nói về tầm quan trọng trong xây dựng các mối quan hệ đối tác, trong đó có quan hệ với cựu thù Hoa Kỳ.

Ông Cầm, 85 tuổi, giữ chức Ngoại trưởng từ 1991-2000, Phó Thủ tướng từ 1997-2002, và là bộ trưởng ngoại giao không kiêm nhiệm cuối cùng có chân trong Bộ Chính trị Đảng CSVN.

Ông vừa có bài Bấm trả lời phỏng vấn báo điện tử Tuần Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 40 năm Hòa đàm Paris, trong đó ông đưa ra một số bình luận về chính sách đối ngoại của chính phủ Việt Nam gần nửa thế kỷ qua.

Người từng làm công việc theo dõi hội đàm Paris và thực hiện Hiệp định Paris về Việt Nam, sau đó đứng đầu ngành ngoại giao Việt Nam trong gần 10 năm, thừa nhận chính sách “cân bằng động” trong quan hệ với hai đồng minh lớn của Việt Nam thời kỳ chiến tranh với Hoa Kỳ – Liên Xô và Trung Quốc.

Chính sách này dựa trên nền tảng “một lý do quan trọng mà cố Tổng bí thư Lê Duẩn có lần đã giải thích một cách đơn giản: Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô!”.

Trong khi khen ngợi thành công trong đấu tranh ngoại giao để đi đến thực sự kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, ông Cầm cũng nói đến điều mà ông gọi là ‘cơ hội bị bỏ lỡ’.

Trước hết, theo ông, cơ hội hòa hợp dân tộc bị bỏ lỡ sau Hiệp định Paris “do chủ trương tràn ngập lãnh thổ của Sài Gòn”.

Đồng thời, trong những năm sau đó, “cơ hội bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ bị đẩy lùi hàng chục năm”.

‘Một lần nhỡ thời cơ, hận muôn đời ‘

Theo cựu ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm, thách thức đặt trước dân tộc Việt Nam cả trong quá khứ và hiện tại là tư duy đối đầu, triệt tiêu lẫn nhau trong quan hệ với các nước ngoài.

Bên cạnh đó, là chính sách của nước lớn đối với nước nhỏ, mà ông gọi là “tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt”, tuy không chỉ rõ tên cường quốc.

“Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!”

“Cơ hội bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ bị đẩy lùi hàng chục năm cũng là do tư duy đối đầu ấy gây ra!”

Ông cảnh báo: “Vấn đề tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ là bài học vô cùng quan trọng”.

“Trong ngoại giao nói riêng và vận nước nói chung, nếu ta để nhỡ thời cơ, có khi phải mất rất lâu, thời cơ mới xuất hiện trở lại, hạn chế rất lớn đến lộ trình thực hiện các mục tiêu tổng thể của cách mạng.”

Một số năm trước đây, sau khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ năm 1995, đã có quan điểm trong thượng tầng lãnh đạo Việt Nam cho rằng nên thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tiến trình này tới nay chưa dịch chuyển được bao nhiêu.

Ông Nguyễn Mạnh Cầm kêu gọi “vấn đề thời cơ, vấn đề tập hợp lực lượng, ngày nay ta gọi là xây dựng hệ thống các quan hệ đối tác, là những vấn đề cốt tử của cách mạng”.

Ông cũng trích lời Nguyễn Trường Tộ, người được xem như một trong các ông tổ của ngành ngoại giao Việt Nam: “Một lần nhỡ thời cơ, hận muôn đời. Khi quay đầu nhìn lại, cơ đồ mất trăm năm”.

BBC

Be the first to start a conversation

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: