Điều 88 bộ Luật Hình Sự: Công cụ chuyên dụng diệt trí thức Việt Nam


Phần 1: Xác định khái niệm trí thức

Các quan niệm về trí thức có phổ khá rộng. Có người nói Việt Nam còn hiếm trí thức, nhưng văn bản nhà nước lại nói Việt Nam đã có hàng triệu trí thức, khiến đảng phải ra nghị quyết xếp họ vào “đội ngũ” để họ nghe rõ lệnh. Đảng coi tốt nghiệp cao đẳng đã là trí thức, trong khi một tiến sĩ tự trọng lại chưa dám nhận mình là trí thức. Rắc rối thế!

Do vậy, bài này cần làm rõ khái niệm trí thức. Tốt nhất là tìm nội hàm “gốc” của từ này. May mắn, google search đã cung cấp cả loạt bài trên báo chí công khai trong nước. Theo nguyên nghĩa, trí thức là những con người cao đẹp, nhưng trong một bài viết của mình, GS Chu Hảo lại nhận định khác đi, nếu trí thức bị gắn thêm cái đuôi… XHCN.

Xã hội xưa chưa thể có trí thức

Xã hội nào cũng có số ít người có trình độ cao hơn mặt bằng chung. Ở xã hội cổ xưa, vẫn có những người nhờ kinh nghiệm hoặc tự tìm tòi mà có hiểu biết hơn người khác. Tuy vậy, họ vẫn phải lao động chân tay vất vả như mọi người, vì khi đó của cải còn eo hẹp: Nếu không trực tiếp sản xuất là… đói ngay. Nhưng sẽ tới lúc xã hội nhận ra tầm quan trọng của lao động trí óc. Một ví dụ (tôi không nhớ đã đọc ở đâu): Khi một bộ lạc thôi cử một thanh niên vạm vỡ làm người đứng đầu mà thay bằng một ông già “hiểu biết và kinh nghiệm đầy mình” thì đó là bước thay đổi nhận thức rất ý nghĩa. Nhận thức mới về lao động trí óc khiến xã hội dám bỏ ra một nguồn của cải đủ để mở trường. Trường lớp ra đời khiến số lao động trí óc tăng lên thành một tầng lớp riêng. Nhờ vậy, công cụ thô sơ được thay dần bằng máy móc, khiến lao động chân tay từ dạng “hùng hục” chuyển thành dạng kỹ năng, cũng phải qua đào tạo mới có được.

Rồi ngay trong lớp người lao động trí óc cũng có sự phân tầng: cao và thấp. Một nhà nghiên cứu và viên thư ký của ông ta đều là lao động trí óc nhưng thuộc 2 tầng khác nhau, có mức độ đóng góp khác nhau. Xã hội tìm ra những từ thích hợp để tôn vinh những người có đóng góp lớn, nhất là đóng góp qua sáng tạo: Nho sĩ, sĩ phu, nhà văn, văn hào, nghệ sĩ, bác học, học giả, trí giả, nhà khoa học, giáo sư, nhà thông thái… Và nói chung, họ được xã hội coi là người “có học” – nhưng đây chỉ là cách gọi mang tính quy ước và rất tương đối. Trước năm 1945, thầy giáo tiểu học ở nước ta đã được coi là “có học”. Tuy nhiên, dân ta hiểu rất rõ và rất thống nhất: Thế nào là người “có học” – không những về mặt chữ nghĩa, sự hiểu biết, mà cả tư cách, lối sống, ứng xử…

Nhưng cả phương Đông và phương Tây, cho tới năm 1898, tuy số người “có học” đã khá đông đảo, nhưng vẫn chưa có ai là trí thức – bằng chứng là mọi cuốn từ điển lớn (như Larousse 1878 hay Đại từ điển Bách khoa 1902) vẫn chưa có mục từ trí thức.

Văn hào Zola trở thành trí thức

Nhà văn Zola (1840-1902) cả đời say mê sáng tác thì không có gì lạ, nhưng rắc rối là ông cứ bỏ công sức “xía vô” những chuyện chẳng liên quan gì tới văn chương.

Một ví dụ: Ngày 13-1-1898 ông đăng trên báo L’Aurore một thư ngỏ gửi tổng thống, phản đối quyết liệt một bản án bất công. Nhan đề bức thư: Tôi kết tội – do ông chủ báo đặt – làm ngọn lửa dư luận bùng cháy dữ dội khiến tờ báo phải tăng số ấn bản gấp 10 lần. Hôm sau, báo này lại đổ thêm dầu bằng cách đăng tiếp một bản kháng nghị vẫn của Zola, nhưng tiếp sau là danh tính của một loạt nhà văn, nhà khoa học nổi tiếng thời đó. Tên của nó: Manifeste Des Intellectuels, cũng do toà báo đặt, nay đã đi vào lịch sử.

Intellectuel vốn là tính từ, nhưng tiến sĩ vật lý Clemenceau, chủ báo, vị thủ tướng tương lai, cứ sử dụng như danh từ, khiến các cụ ta dịch sang tiếng Việt cũng thành danh từ: Tuyên ngôn của các trí thức. Tiếng Trung Quốc không có từ “trí thức”, mà do các nhà học giả Việt Nam đưa ra.

– Nếu vậy, xin bái phục thế hệ cha ông đã sáng tạo một từ mới, rất sát nghĩa, và bản thân các cụ cũng hành xử đúng theo nội hàm của từ này. Đó là thế hệ Phan Chu Trinh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi…, tiếp đó là Vũ Đình Hoè, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Văn Huyên… – thế hệ vàng, theo nhà sử học Dương Trung Quốc.

– Theo gót các vị, nửa thế kỷ trước các nhà văn, nhà khoa học nước ta cũng ra một “Tuyên Ngôn” (đại ý: Chính trị chớ xía vô chuyên môn). Đó là thế hệ trí thức kế tiếp (Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo…).

– Tuyên Ngôn gần đây là của nhóm Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng được nhiều trí thức khác hưởng ứng… Và, liệu có thể coi “đơn tự thú” của sinh viên Nguyễn Anh Tuấn là khởi đầu một tuyên ngôn mới của trí thức trẻ?.

Nội hàm gốc

Hành vi chống bất công của Zola đã làm nảy sinh một từ mới, trước 1898 chưa hề có: trí thức, mà bản thân Zola là một hình mẫu: nhạy cảm với bất công; tôn thờ chân lý, công lý, công bằng và dám phản biện…
Như vậy, nội hàm gốc của từ trí thức gồm hai phần (điều kiện Cần và Đủ):

1) Đó là người “có học”, lao động trí óc, dẫu có sáng tạo thì mục đích chủ yếu vẫn chỉ là kiếm sống cho bản thân.

2) Đó là người phê phán – bằng lập luận chặt chẽ, xây dựng và không vụ lợi – những bất công, bất cập trong xã hội. Như vậy, mục đích duy nhất là để xã hội tốt đẹp hơn.

Biết chọn trúng những vấn đề cần phê phán để phê phán nói lên tầm vóc người trí thức.

“Trí thức” quả là một từ đầy sáng tạo của cha ông ta. Vừa phải có “trí” tức năng lực tư duy, lại vừa phải “thức” để bản thân không bị mê hoặc, mà còn làm tỉnh ngộ mọi người.

GS Chu Hảo nói: Không có tư duy phản biện, không phải trí thức; GS Phạm Song nói: Trí thức thì không được hèn; có vị còn coi phản biện xã hội là thiên chức của trí thức… Ấy là họ nhấn mạnh phần thứ hai – điều phải có để một người “có học” thành trí thức.

Nội hàm của từ trí thức giúp ta dễ hiểu vì sao trí thức luôn luôn nhạy cảm với bất công, áp bức. Lương tâm và sự tỉnh thức buộc trí thức phải phát ngôn – và đó là cách phản kháng duy nhất và đặc trưng nhất của trí thức. Cấm đoán tự do ngôn luận là cách trắng trợn nhất chống lại trí thức. Nếu lại dùng cả đến Luật (điều 88) thì sự đàn áp trí thức đã rất trắng trợn. Nếu lại đưa điều 88 vào Luật Hình Sự thì đó sự tàn bạo. Nếu điều luật này được áp dụng một cách độc đoán trong phiên toà xử trí thức, thì sự tàn bạo đã ở mức thách thức lương tri dân tộc.

Do vậy lên tiếng phản đối bất công, trí thức lâm vào vị thế “tay không đối diện với cường quyền”. Nếu vậy thì câu “trí thức là phải dấn thân”, hoặc “thái độ trí thức là thước đo mức tự do và công bằng xã hội”… chẳng có gì khó hiểu.

Điều kiện ra đời của trí thức

– Thời phong kiến, ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều trong tay vua. Do vậy, vua có cả giang sơn và nắm giữ sinh mạng toàn dân. Vua cho ai sống, được sống; vua bắt ai chết, phải chết. Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung là câu trong sách thánh hiền; nghĩa là: Vua xử bề tôi chết, bề tôi không chết là bất trung. Nhưng “bất trung” lại là tội lớn nhất – tức tội… chết. Rốt cuộc, không thể thoát chết khi vua đã xử chết.

– Thuở ấy, hai ông ngang tài (ví dụ, Lưu Bang, Hạng Võ) xông vào nhau để giành ba quyền, nếu ai thắng, được gọi là vua, có quyền viết lịch sử để gọi kẻ thua là “giặc” hay “ngụy”. Vài ví dụ: xa xưa, sứ quân Đinh Bộ Lĩnh có quyền gọi 11 vị sứ quân khác là “giặc”; thời cận đại, Gia Long gọi Tây Sơn là “ngụy”; thời hiện đại, liệu đã hết chưa; cần tìm hiểu thêm. Nhưng nếu một đội quân lại phải thề trung với vua – nay là đảng – thay vì trung với nước, thì lời hoa mỹ nào cũng không che dấu được đó là quân đội của chế độ phong kiến trá hình.

– Thời phong kiến tất nhiên cũng có một tầng lớp có học vấn cao. Ở nước ta, họ được gọi là nho sĩ, nếu ai có thêm những phẩm chất cao quý (liêm chính, thẳng thắn, vô tư…) thì được tôn là sĩ phu… Sĩ phu, dù cương trực đến đâu, một khi đã nhận quan tước cũng chớ dại mà “phản biện” vua – sẽ mất đầu ngay. Bạo gan nhất là dám (lễ phép) can vua; can không được thì phải tạ lỗi ngay. Nếu thấy vua còn giận thì phải kịp xin về quê yên phận, tránh hoạ.

Tóm lại, xã hội phong kiến chưa thể đủ điều kiện để trí thức ra đời.

– Trí thức chỉ có thể xuất hiện khi xã hội đã có dân chủ, hiến pháp đã quy định sự phân lập của ba quyền; báo chí và xuất bản đã được tự do (để trí thức, ví dụ Karl Marx, có nơi lên tiếng); quyền ngôn luận đã được xác lập (để trí thức có thể phát ngôn mà không lo bị đàn áp)… Về nguyên tắc thì thế, nhưng thực tế sự ra đời của tầng lớp trí thức châu Âu ở thế kỷ trước cũng khá trầy trật, sự hy sinh của bản thân không nhỏ và thân phận nhiều người cũng chẳng ít lênh đênh. Điều này có nguyên nhân.

Thân phận ba chìm bảy nổi

Trí thức chẳng có quyền lực gì trong tay. Khốn nỗi, nhờ hiểu biết và tìm tòi, họ dễ nhìn ra những bất công và bất cập trong xã hội. Trăn trở, bức xúc, khiến họ phải lên tiếng. Dù lên tiếng nhẹ nhàng, họ vẫn làm phật ý giới bảo thủ đang nắm quyền lực – vì không nhiều thì ít, giới này phải chịu trách nhiệm – huống hồ lên tiếng một cách gay gắt càng làm cho bọn này điên tiết. Do vậy, khi chế độ phong kiến bị thay thế chưa lâu bằng chế độ tư bản còn sơ khai; vương quyền vừa mới bị thay thế bằng nền cộng hoà còn non trẻ, trí thức vẫn phải dũng cảm và dấn thân mới có được tiếng nói trong xã hội. Đó chính là trường hợp Zola.

– Năm 1898 (năm khai sinh cái từ “trí thức”), nước Pháp đã có hiến pháp dân chủ, ba quyền đã phân lập, báo chí đã tự do… nhưng các thế lực bảo thủ, phản tiến bộ vẫn rất mạnh, có mặt cả trong nghị viện và chính quyền; riêng toà án thì giới quân sự độc chiếm. Phe tả và hữu đấu tranh ở mọi nơi, mọi lúc kể cả trên mặt trận dư luận… Do vậy, không đủ dũng cảm làm sao trở thành trí thức?

Một ví dụ: Giới nhà báo phe hữu đã vu cáo – với những từ miệt thị – khi họ phê phán bức thư và bản kháng nghị của Zola, tạo cớ để toà án xử tù và phạt tiền ông (tội vu khống). Ví dụ khác: đa số dân Pháp, do chủ nghĩa dân tộc còn nặng nề, vẫn kỳ thị viên đại uý Do Thái (nạn nhân vụ án), vẫn ủng hộ sự xâm lăng thuộc địa (tôn vinh các vị tướng trong đội quân cướp nước). Do đó, niềm tin mù quáng đã ủng hộ không nhỏ cho bản án. Ngay khi bản án đã buộc phải sửa, nạn nhân đã được minh oan, nhưng cái chết của Zola vẫn bị nghi vấn là do phe hữu ám sát.

Karl Marx (1818-1883) và Émile Zola (1840-1902)

Cách nhau 22 tuổi, nhưng đều thọ trên 60 năm, do vậy hai danh nhân này có thời gian 40 năm cùng tồn tại. Tuy nhiên, trong khối ấn phẩm đồ sộ của mỗi người, họ không một lần nào nhắc đến tên nhau, hay nói vài lời về nhau. Việc ai nấy làm, mỗi người theo đuổi mục tiêu riêng của đời mình.

Marx nhận ra sự tàn bạo của chế độ tư bản thời kỳ nó còn sơ khai (hoang dã, rừng rú) và ông muốn diệt nó càng sớm càng tốt (trận cuối cùng). Đó là thiện chí. Ông công bố bản án tử hình cho chế độ tư bản năm 1848 cũng bằng một Tuyên Ngôn (Tuyên Ngôn CS), khi Zola mới có 8 tuổi, nhưng chắc chắn Zola biết tới tuyên ngôn này khi đã trưởng thành – vì Marx nhiều lần cho in lại Tuyên Ngôn của mình bằng nhiều thứ tiếng. Nhưng Zola chọn cách khác, thiết thực hơn.

Làm sao diệt nổi một chế độ ra đời đúng quy luật, khi nó còn đang phát triển và hàng trăm năm sau vẫn chưa phát triển tới đỉnh cao – mà quy luật dành cho nó? Đó là ảo tưởng. Marx công khai và trực tiếp chĩa mũi nhọn vào chế độ tư bản, công khai nhận mình là kẻ thù số 1 của chế độ này. Dẫu vậy, chế độ tư bản đối xử lại, mức tàn tệ nhất chỉ là trục xuất, và Marx lại được một nước tư bản khác chấp nhận cho cư trú cả gia đình. Mọi tác phẩm của Marx đều được in ra, chẳng thiếu một trang – theo đúng Luật về tự do xuất bản. Marx có thể nói đủ những gì mình thù hận chế độ tư bản, kết tội nó, tiên đoán nó sẽ chết yểu… vậy mà không ai dám kiểm duyệt và cắt xén nửa chữ – theo đúng Luật về quyền tự do ngôn luận. Không những thế, Marx còn lập đảng, lập cả Quốc tế CS, nhúng tay vào cuộc bạo loạn ở Pháp (Công xã Paris…

Chỉ cần thời xưa, Marx bị đối xử khắt khe bằng 1/10 hoặc 1/100 cách đối xử của đảng CSVN với nhà trí thức Cù Huy Hà Vũ, liệu Marx có kịp sống đủ tuổi trời mà công bố tác phẩm, đặng leo lên bàn thờ của đảng CSVN hay không?

Còn Zola, ông không chống chế độ tư bản (đang lên), mà chống những tiêu cực cụ thể xuất hiện trong chế độ này để xã hội tư bản tốt dần lên. Như vậy, thiết thực hơn. Càng chống kiểu Zola, chế độ tư bản càng hoàn thiện, vững vàng, cho tới khi nó hết sứ mệnh.

Phần 2 – Thân phận trí thức dưới chế độ độc tài

Thế kỷ XX và XXI vẫn còn chế độ độc tài. Mà tới hai loại lận:

– Cách mạng tư sản thành công đã 200 năm. Từ chỗ ban đầu “hoang dã”, chế độ tư bản đã bước lên những bậc rất cao của nền văn minh công nghiệp. Và nay, nó đang kiến tạo nền văn minh mới: Văn minh hậu công nghiệp. Cái kính chiếu yêu (làm lộ diện loài yêu quái) nó tặng nhân loại là: Sự tách bạch ba quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) là minh chứng – đồng thời là sự đảm bảo – cho một thể chế dân chủ và ngày càng dân chủ. Nếu không như vậy, dù che dấu cách nào, thì đó vẫn là chế độ độc tài, thậm chí là tàn dư biến thể của chế độ phong kiến từ mấy thế kỷ trước rơi rớt lại, cứ như từ dưới âm ty hiện lên, dù được dán cái nhãn “thiên đường” XHCN.

– Thế kỷ XX (và XXI), vẫn có những nước từ ngàn năm nay ba quyền chưa bao giờ phân lập (các nước nông nghiệp “bỏ qua” chế độ tư bản, để dán nhãn XHCN), nhưng cũng có nhiều nước ba quyền từ chỗ đã từng phân lập bỗng bị một người (hoặc một đảng) thâu tóm, tạo ra chế độ độc tài (Đức, Ý, Tây Ban Nha, Nhật, Chilê…).

Nguồn gốc độc tài khác nhau, nên hình thái không giống nhau. Dù trường hợp nào, nhà độc tài thời nay không dại gì xưng vua, mà tự xưng – hoặc được đảng tôn xưng – là “lãnh tụ” cho ra vẻ cách mạng, hợp thời. Tóm lại. thời nay, hễ độc tài là phải nguỵ trang.

Các vị lãnh tụ thường cố ý dài dòng khi đặt tên đảng và quốc hiệu – cho thêm phần đẹp đẽ – để mỵ dân. Nhưng một khi nắm được cả 3 quyền trong tay, lãnh tụ sẽ tự biến mình thành bạo chúa, việc đầu tiên là đầy đoạ và giết hại trí thức. Điều dễ hiểu: Chỉ có trí thức mới đủ năng lực và dũng cảm vạch trần sự dối trá. Ông Hoàng Tùng, nguyên bí thư trung ương đảng, trong hồi ký đã nhận định rằng Tần Thuỷ Hoàng kém xa Mao Trạch Đông về giết hại trí thức.

Vài ví dụ về lãnh tụ và tên đảng, tên nước được đặt dài dòng:

– Hitler: Đảng Công nhân Quốc gia Xã hội chủ nghĩa Đức – gọi tắt là Quốc Xã;

– Lênin, Stalin: Đảng Lao động Dân chủ Xã hội chủ nghĩa Nga, sau đổi là đảng cộng sản bôn sê vich Liên Xô, quốc hiệu là Liên bang các nước cộng hoà XHCN xô-viết (Liên Xô, SSSR);

– Mao Trạch Đông: nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa;

– Kim Nhật Thành: nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên;

– Gaddafi: nước Đại Dân Quốc Nhân dân Xã hội Chủ nghĩa Ả Rập Libya;

– Ne Win: nước Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Myanma (1974);

… vân vân. Mời mọi người bổ sung tiếp.

Hầu hết, các vị lãnh tụ lên ngôi cũng qua bầu cử, nhưng có cách để liên tiếp trúng cử (với trên 90% phiếu bầu), qua đó cầm quyền nhiều nhiệm kỳ hoặc suốt đời…

Độc tài ở nước nông nghiệp (ví dụ Việt Nam)

Thích hợp với nền nông nghiệp lạc hậu là chế độ phong kiến. Việt Nam ta giành độc lập (1945) khi 95% số dân còn làm ruộng. Tới nay – sau 66 năm, tức 2/3 thế kỷ – nông nghiệp vẫn mênh mông, nhưng manh mún, lạc hậu, và vẫn giam hãm tới 2/3 số dân. Tư tưởng tiểu nông vẫn hết sức nặng căn.

Nếu theo lý luận của Mác, cách mạng ở VN lẽ ra phải là cách mạng phản phong kiến, thiết lập nhà nước pháp quyền TBCN, do trí thức của giai cấp tư sản lãnh đạo… giống như Tôn Trung Sơn đã thực hiện năm 1911 bên Tàu – với ba quyền tách bạch nhau. Nhưng đảng CSVN lại quyết thực hành theo lý lẽ và cách thức của Lênin, vì nó đáp ứng sự sốt ruột: Đó là “bỏ qua” chế độ tư bản – mà các nước như Mỹ, Anh, Pháp, Ý… đã và đang tốn mấy trăm năm thực hiện, nay vẫn chưa xong. Tiết kiệm mấy trăm năm cho tiến trình lịch sử há chẳng phải là thành tựu cổ kim chưa có hay sao? Bị cám dỗ, ham là phải, nhưng cái tội là mê muội lâu quá nên trái quy luật.

Muốn làm trái quy luật tất nhiên phải ép buộc, nghĩa là phải chuyên quyền, cách duy nhất là không tách bạch ba quyền, buộc toàn dân tuân theo cương lĩnh. Rốt cuộc, những cái đảng quyết “bỏ qua” tư bản, sớm muộn sẽ đưa đất nước quay lại chế độ phong kiến. Do đó, tới nay, khi đã hết vai trò lịch sử “ngoài lợi ích cầm quyền vĩnh viễn, đảng này không còn lợi ích nào khác”.

Giới lãnh đạo: Dù tài giỏi, thiện chí và nguỵ biện, nhưng…

Trong 66 năm ấy, giới lãnh đạo đảng CSVN đã trải 3 thế hệ chủ yếu.

– Phải là tài giỏi thì họ mới huy động được toàn dân khởi nghĩa và kháng chiến chống Pháp. Chỉ có 5-10 ngàn đảng viên, nhưng tỷ lệ hy sinh tới 10%, tức là cao gấp 10 lần tỷ lệ hy sinh của người ngoài đảng (1% trong số 30 triệu dân). Lịch sử mãi mãi tôn trọng họ, nhưng vinh quang của họ đang bị thế hệ lãnh đạo hiện nay chiếm đoạt, thừa hưởng.

– Đảng cầm quyền nào, dù trong sạch hay tham nhũng, đều muốn được dân khen. Việc xoá bỏ giai cấp địa chủ và tư sản (xoá bóc lột) để sau đó có thể công hữu hoá… phải coi là xuất phát từ thiện chí: đảng không tư túi, và thật sự tin rằng đời sống nhân dân sẽ được cải thiện nhờ “sản xuất lớn”. Vấn đề là cách làm: cực tả (tàn bạo) do Lênin đưa ra. Lịch sử không thiếu những ví dụ: bất cứ phong trào cực tả nào cũng đẫm máu quần chúng (Công xã Paris, Xô viết Nghệ Tĩnh) dù mục tiêu đầy thiện chí.

Vâng, bà mẹ nào mà chẳng “thiện chí” mong đứa con lớn nhanh? Nhưng bị xui dại, bà ta đã dùng cái thòng lọng treo cổ đứa con lên, lại buộc thêm tảng đá dưới chân, cho… mau lớn (ví dụ này lấy trong bài của Trần Hiền Thảo, Trần Trung Thực).

Thế hệ lãnh đạo đầu tiên – có công, dám hy sinh, nhưng cũng mắc những sai lầm “chết người” – nay đã vắng bóng. Thế hệ trung gian lẩn quẩn trong chiến tranh, bế tắc trong kinh tế, nay đã thưa thớt… (bị coi là trung ít, gian nhiều: công ít, tội nhiều – như tôi đây!).

– Còn thế hệ cầm quyền hiện nay? Chẳng có tí công trạng gì hết, nhưng trên danh nghĩa là “kế tục” do vậy thừa hưởng mọi vinh quang và quyền lực, đồng thời vô trách nhiệm với sai lầm cũ. Mong có chính danh, nhóm chóp bu hiện nay không ngớt nhấn mạnh “kế tục sự nghiệp, nối tiếp truyền thống và kiên trì con đường”. Sự nguỵ biện đương nhiên phải được che dấu, ngụy trang – như hiện nay chúng ta đang thấy: đàn áp trí thức.

Tóm lại, ban đầu dù tài giỏi đến đâu; sau đó dù thiện chí đến đâu; và hôm nay dù khéo trá hình đến đâu… rốt cuộc, thể chế nước ta đã phơi bày là phong kiến phản động – vì ngay từ đầu cả ba quyền gom vào tay một nhóm, đứng trên pháp luật, hành xử như vua.

Đáng buồn là tư tưởng tiểu nông của dân ta vẫn còn rất nặng nề. Chính tư tưởng này tạo ra nhu cầu có vua, có thánh, để mà… có cái tôn thờ. Để vinh danh nhân vật Thạch Sanh, tư tưởng tiểu nông không thể có cách nào khác là đặt anh ta lên ngôi vua.

Không riêng nước ta

Đặc trưng này không riêng nước ta mới có. Tất cả các nước nông nghiệp lạc hậu (như Nga, Trung, Triều, Cu Ba, Lào, Miên…) đều như vậy. Cách mạng khá dễ thành công khi nhiệm vụ là đuổi thực dân và đánh đổ phong kiến, tuyên bố độc lập – vì lòng dân đã quá chán ghét chế độ cũ và vì xu thế thời đại. Tai hoạ là muốn “bỏ qua” chế độ tư bản, để đi tắt, hòng… vượt tư bản (!). Loanh quanh, không sớm thì muộn, chế độ phong kiến (trá hình dân chủ) sẽ lộ diện. Lãnh tụ, có thể ban đầu rất bình dân, vào sinh ra tử, nhưng về sau sẽ xa dân và được tô vẽ thành con người siêu phàm; khi chết được tôn thánh, được ướp xác, xây lăng. Để làm gì? Để vừa thoả mãn tư tưởng tiểu nông của đa số dân, lại vừa để đám cầm quyền thế hệ sau tuyên bố rằng họ trung thành tuyệt đối và xứng đáng kế tục sự nghiệp vinh quang của thánh nhân. Do vậy, không một đảng CS nào khi còn nắm quyền mà dám lơ là chuyện ca ngợi lên tận mây xanh vị thánh mà đảng đã dựng lên. Đáng thương là cụ Fidel. Cụ không mất đúng lúc để được tôn thánh, mà cứ sống lâu để nay phải đích thân thừa nhận sai lầm, hết cả thiêng.

Nước công nghiệp: Không dễ thực hiện độc tài

Một cá nhân hoặc một nhóm muốn trở thành độc tài ở một nước công nghiệp không dễ và cũng không thể tồn tại lâu dài. Người dân từng được hưởng dân chủ, tự do, đã giác ngộ cao về quyền lợi. Do vậy, thoạt đầu nhà độc tài phải lợi dụng (hoặc tạo ra) được cơ hội, phải biết mỵ dân, phải lập đảng khuynh tả… để có thể thắng cử. Khi quyền lực đã vững, phải tạo cớ (khủng hoảng, chiến tranh) để có lý do tập trung quyền lực hơn nữa.

Nhiều trường hợp phái dùng bàn tay sắt (phát xít hoá). Có thể nói, độc tài tới mức phát xít hoá thì một nguyên nhân là sự phản kháng của trí thức. Nhưng nền độc tài này không thể lâu dài, vì trước sau phát xít sẽ gây chiến và bại trận.

Còn ở nước nông nghiệp, chế độ trước cách mạng vốn dĩ là phong kiến, nên độc tài là tự nhiên. Vô phúc, nếu đảng cách mạng tự nhận là vô sản, sớm hay muộn nó sẽ tự phơi bày là một đảng vua quan. Ngày nay, sở dĩ nó phải ngụy trang thành dân chủ vì đã là thế kỷ XXI, hầu hết các nước đã đa đảng. Chớ nếu là 100 năm trước, sẽ khác: Ông Viên Thế Khải bên Tàu, ngay sau khi kế vị chức Đại Tổng Thống của Tôn Trung Sơn đã tuyên bố tắp lự: Phục hồi quân chủ. Điều may là ông chết sớm, điều không may là cụ Mao… nứt trời rơi xuống, khiến chế độ tư bản ở Trung Quốc chết yểu khi mới chập chững (1949), vua Mao lên ngôi.

Dân trí cao, người dân đã từng được hưởng dân chủ, tự do… do vậy ở nước công nghiệp, ban đầu nhà độc tài phải hứa hẹn, mỵ dân và tỏ ra khuynh tả. Sau khi đã thắng cử, trong quá trình cầm quyền, ông ta mới phát xít hoá (Đức, Ý, Tây Ban Nha…). Ở một số nước, độc tài được thực hiện bằng đảo chính của nhóm quân phiệt (Nhật, Miến Điện, Libya…). Một số nước khác, nhà độc tài dùng cách “leo dây”: thân cả phe XHCN, thân cả phương Tây, khéo léo để được cả hai phe ủng hộ; đặng thực hiện độc tài với dân. Nhiều nhà độc tài châu Phi và Trung Á đã ngã lộn xuống đất từ cái thế chênh vênh này.

Trí thức dưới chế độ độc tài

Chế độ độc tài nào cũng kỳ thị trí thức, tức căm ghét người bất đống chính kiến (chính kiến = ý kiến về chính trị) đồng thời cũng sợ hãi họ. Do vậy, chế độ độc tài rất có ý thức ngăn cản trí thức liên kết với nhau thành lực lượng. Ở Việt Nam, họ được đưa vào “đoàn thể” nhưng thành phần khá hẩu lốn (công đoàn). Ví dụ, trong tổ công đoàn, Tôn Thất Tùng hay Trần Đại Nghĩa, Lương Định Của… phải họp hành với bác lao công, chị tạp vụ, ông bảo vệ, cô thư ký, anh y tá… Vậy làm sao có thể thảo luận về chính kiến?

Phải 50 năm sau, đảng mới cho phép trí thức có đoàn thể riêng – hiện nay ở cấp toàn quốc do ông Đặng Vũ Minh uỷ viên trung ương, đứng đầu. Ông này là đại biểu quốc hội nhưng trong suốt nhiệm kỳ vừa qua ông không nói một câu nào trong mọi cuộc thảo luận ở hội trường. Liệu nay có thể trông mong gì ở ông?

Ai cũng thấy, các đoàn thể này không bao giờ bênh vực – mà khai trừ lập tức – nếu đoàn viên trí thức dám phê phán đảng cầm quyền. Ngay năm 2010 và 2011 LS Lê Trần Luật và TS Cù Huy Hà Vũ bị “đoàn thể” của mình khai trừ là do vậy.

Đặc biệt chế độ độc tài rất cần mua chuộc những người có học vấn cao, những chuyên gia giỏi; một mặt để họ phục vụ mình; nếu lại ca ngợi mình nữa, càng tốt – nếu không thì cũng đừng bêu xấu chế độ. Các chế độ độc tài xa xưa hay cận đại (Đức phát xít, Nga xô viết, Tàu cộng sản…) đều làm như vậy. Ở VN, đảng CS cũng rất cần sự đồng tình của Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Lương Định Của… và nay là Ngô Bảo Châu… Mặt quan trọng khác, chế độ dùng cách đe doạ và đàn áp để ngăn cản người “có học” trở thành trí thức. Tuy họ được vuốt ve, tâng bốc với đủ thứ danh hiệu hão, nhưng bị trở mặt cũng rất nhanh, rất thật. Ông Nguyễn Huệ Chi cứ là giáo sư, nhưng – giáo sư cũng mặc mẹ giáo sư – vẫn cứ bị mấy anh công an nhãi nhép lôi lên thẩm vấn!.

Biện pháp cuối: dùng luật biến trí thức thành tội phạm hình sự

Nếu các biện pháp tinh thần và vật chất không kết quả, đảng dùng cả Luật đánh vào đặc trưng số 1 của trí thức: tức là tinh thần phản biện. Điều 88 coi hành vi ngôn luận của trí thức là tội hình sự, giống như tội giết người, cướp của, hiếp dâm.

Sự thích nghi với hoàn cảnh

Độc tài Việt Nam lộ diện lần đầu năm 1957 khi nó đàn áp nhóm Nhân Văn. Nạn nhân của nó, nhiều người sống sót tới thời gian rất gần đây. Họ là tấm gương cảnh báo để trí thức Việt Nam tìm ra cách tồn tại hợp pháp và an toàn, dù rất trầy trật.

– Trước hết, đó là những người “có học”, lương thiện và có công trạng mà chế độ phải thừa nhận. Tới một ngày, họ nhận ra lý tưởng đẹp đẽ mà họ dành ra gần cả đời theo đuổi chỉ là áo tưởng (tới nửa nhân loại bị lừa cơ mà), còn thực chất đây là chế độ độc tài kiểu phong kiến. Sau năm 1954 và 1975, giới cầm quyền không thể nại ra lý do chiến tranh để tiếp tục trì hoãn sự phân lập của ba quyền nữa, họ nhận ra bộ mặt thật của chúng. Họ phát biểu ban đầu còn dụt dè, sau mạnh bạo dần, nhưng vẫn cố giữ giới hạn an toàn. Sự phê phán rất nhất quán trong một thời gian đủ dài khiến mọi người thừa nhận họ là trí thức. Hoàn cảnh khiến họ không thể làm khác hơn, không thể làm ở mức như Zola đã làm.

Đã là phi nghĩa, độc tài, bao giờ cũng có mâu thuẫn giữa nói (rất lọt tai) và làm (rất phản động). Sự mâu thuẫn này đã bị trí thức triệt để lợi dụng. Ví dụ, dựa vào lời của lãnh tụ, dựa vào chính cương, điều lệ… để chỉ trích những việc làm hiện tại.

– Tiếp bước họ, những trí thức thế hệ sau càng dấn thân hơn, quyết liệt hơn và chấp nhận nguy hiểm, kể cả vào tù do điều 88 luật hình sự. Blog giúp họ phương tiện rất hiệu quả. Rất nhiều người công khai danh tính, nhưng lực lượng dùng bút danh cũng không kém mạnh mẽ và nguy hiểm. Họ không đơn độc như cha anh thời đàn áp Nhân Văn.

Phần 3 – Điều 88: Công cụ chuyên dụng diệt trí thức

Điều luật đặc thù chống trí thức

Theo khái niệm gốc, “có học” chỉ là điều kiện CẦN. Còn phải dám phê phán bất công và bất cập trong xã hội, để xã hội tốt đẹp lên…) mới là điều kiện “ĐỦ” để người “có học” trở thành trí thức.

Trong xã hội độc tài, nguyên nhân tiêu cực là từ bản chất chế độ mà ra (lỗi hệ thống).

– Nếu người “có học” chưa động tới bản chất chế độ, mà chỉ phê phán những hiện tượng bề nổi, rồi lễ phép “thỉnh cầu” đảng và nhà nước “quan tâm” khắc phục thì vẫn an toàn, thậm chí được khen. Điều 88 Luật Hình Sự chưa chống người “có học” nói chung, nếu họ vẫn biết sợ.

– Nhưng nếu muốn triệt để xoá bỏ những tiêu cực “gốc” trực tiếp sinh ra từ hệ thống chính trị – do vậy phải phê phán cả nguyên nhân mới đủ – thì xin cứ… liệu hồn: Điều 88 sẽ lù lù hiện ra. Bởi, nó ra đời chỉ có một việc: Chống lại trí thức ngay từ mầm mống.

– Sản phẩm của người “có học” nói chung và của trí thức nói riêng chỉ là chữ nghĩa, văn bản. Mà người “có học” nào cũng vậy – từ vĩ đại như cụ Mác, ông Hồ… cho tới ông Cù Huy Hà Vũ hay Mẹ Nấm… – đều muốn sản phẩm của mình lan toả (để thiên hạ khen hoặc chê; hoan nghênh hoặc tẩy chay) – miễn là sản phẩm không nói sai sự thật. Nhưng cẩn thận đấy: có thể bị điều 88 gán cho cái tội “tuyên truyền”.

– Cụ Mác, ông Hồ… muốn tạo sản phẩm đều phải lưu trữ những tài liệu tham khảo (cả của “ta” và của “địch”). Nhưng xin 2 vị hãy cẩn thận: Điều 88 có thể kết tội “tàng trữ”.

– Cùng là án hình sự, nhưng chứng cứ vụ án giết người là con dao, khẩu súng, lọ thuốc độc… Còn chứng cứ trong vụ án do điều 88 kết tội lại là các văn bản. Khác nhau quá.

Nói điều 88 chống trí thức vì – cho tới nay – bị cáo đứng trước toà toàn là trí thức; chứng cứ mà toà đưa ra toàn là sản phẩm của trí thức phê phán chính quyền (y như Bản Án Thực Dân của Nguyễn Ái Quốc). Thời phong kiến, có người bị tội chỉ vì đã làm một bài thơ bị người khác suy luận ra những ý tứ… chống vua. Hú vía, pháp luật tư bản không có điều 88 để bỏ tù “mục xương” các vị Mác, Hồ… về tội “chống nhà nước”.

Có gì giống nhau và khác nhau giữa 3 toà: tư bản, phong kiến và XHCN?

Đặc điểm số 1 của điều 88: Con, cháu chửi vô mặt cha mẹ, ông bà

Hiến pháp là “luật mẹ” của một quốc gia, từ đó đẻ ra hệ thống pháp luật. Như vậy, hiến pháp quy định pháp luật chứ không phải ngược lại, theo lối “con cái chửi cha mẹ”.

Thế mà, ngay trong hiến pháp Việt Nam hiện hành đã đầy rẫy những câu “con chửi mẹ” – dễ gặp ở những điều nói về quyền tự do.

Ví dụ, điều 69 Hiến Pháp 1992: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

Rõ ràng, gắn thêm cái đuôi “theo quy định của pháp luật” là hành vi có chủ đích của đảng CSVN, xuất phát từ ý đồ bất lương, bất hiếu. Cái đoạn đuôi này (con) dám quy định đoạn đầu (mẹ) – trên thực tế đã cấm đoán cha mẹ (tức nhân dân) tự do ngôn luận, tìm kiếm thông tín v.v… Từ năm 1946 tới nay, hầu hết các quyền tự do vẫn “chưa được pháp luật quy định”.

Nếu một quốc gia ký kết thực hiện những tuyên ngôn toàn cầu của Liên Hợp Quốc – như Tuyên Ngôn Nhân Quyền – thì đó là “mẹ”, khiến những điều liên quan của hiến pháp quốc gia phải tự xử sự như “con”. Luật pháp (ví dụ Luật Hình Sự) phải xử sự như “cháu”, còn điều 88 phải xử sự như “chắt” đối với ông bà và tổ tiên. Đọc lại điều 88, rất dễ nhận ra đảng CSVN đã để thằng chắt phóng uế vô mặt ông bà và tổ tiên nó.

Đặc điểm số 2 của điều 88: nội dung chung chung và mù mờ có chủ ý

Người “có học” muốn phê phán xã hội đều phải coi kỹ điều 88 – dù chỉ vẻn vẹn trên 100 từ – để khỏi vi phạm. Chỉ điều, dù huy động trí não đến đâu, họ vẫn không thể có cách hiểu phù hợp với đầu óc những vị nghĩ ra luật và thi hành luật. Rất nhiều trường hợp người “có học” tưởng (bở) rằng hành vi phê phán của mình vẫn trong ngưỡng an toàn, thậm chí đó là quyền ngôn luận của mình, nhưng khi bị lôi cổ ra toà thì mới té ngửa.

Điều 88 Luật Hình Sự1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;
c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Câu chữ của điều 88 rất chung chung, có thể hiểu rất tuỳ tiện. Vậy mà suốt 20 năm nay không có một văn bản nào giải thích cho rõ. Đây là sự cố ý. Ví dụ điểm a và b: “tuyên truyền” gồm những hành vi gì; thế nào là “xuyên tạc và “phỉ báng”… vân vân.

Đến điểm c cũng vậy: “Tài liệu” và “văn hoá phẩm” như thế nào, có nội dung gì… thì bị coi là “chống nhà nước”. Và nhà nước bị thiệt hại tới mức nào, đo bằng gì… để có thể truy tố bị can…

Cứ theo từng chữ, từng ý của điều 88 thì các hành vi quy định ở điều a, b, c chỉ bị kết tội nếu xuất phát từ động cơ: nhằm chống nhà nước. Trách nhiệm chứng minh “động cơ” là của công tố. Phê phán nhà nước – dù nghiêm khắc đến đâu – cũng không phải là kêu gọi “lật đổ” nhà nước. Rồi, mức án trải ra quá rộng: từ 3 đến 12 năm, thậm chí 20 năm, quả là tuỳ tiện, mù mờ để định mức án mà không có bất cứ hướng dẫn nào.

Đặc điểm số 3 của điều 88: Cho phép toà “vận dụng” tuỳ ý và vi phạm

Luật mù mờ, giúp cho quan toà và công tố tha hồ vi phạm. Khi luật sư vạch ra những vi phạm, thì các vị này “không thèm tranh luận”… Luật sư giải trình, rồi căn vặn, chất vấn một đoạn dài, nhưng công tố chỉ đáp một câu cụt lủn: Tôi vẫn bảo lưu quan điểm!

Khoảng năm chục phiên xử các nhà bất đồng chính kiến, với hàng trăm bị cáo. Sơ sơ, có thể kể 3 vi phạm lớn nhất, lộ liễu nhất ngay ở các phiên toà sơ thẩm.

1. Toà sơ thẩm không xử đúng vào tội trạng ghi trong cáo trạng mà khi phát biểu tại toà, các quan toà cứ tự ý mở rộng ra những “tội” khác một cách chủ quan, tuỳ tiện.

Ví dụ, hành vi “trả lời phỏng vấn” – qua lời lẽ của quan toà – đã bị hàm ý đó là “tội chống nhà nước” mà không cần xét tới nội dung trả lời. “Trả lời phỏng vấn” còn bị hàm ý “tội tuyên truyền” dù người trả lời và người phát tán là hai thực thể khác nhau. Luật sư Trần Lâm nói: toà sơ thẩm vụ Lê Thị Công Nhân đã vi phạm nguyên tắc “Truy tố đến đâu xét xử đến đó” – nghĩa là tại toà, quan toà tự ý thêm tội trạng mới cho nạn nhân (không ghi trong cáo trạng).

Tuy nhiên, việc dùng những khái niệm và câu chữ “mù mờ” để kết người ta vào những tội rất “thật” mới là mối nguy hiểm cho bị cáo.

Hầu hết người bất đồng chính kiến bị kết tội theo điểm c, khoản 1 của điều 88:c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ví dụ, dưới đây là 3 tài liệu mà bị cáo đã viết ra, có nêu trong Cáo Trạng như những chứng cứ để kết tội bà Lê Thị Công Nhân:

• Tình trạng và đòi hỏi phải giải quyết tình trạng của giai cấp công nhân.
• Về việc không cho phép có báo chí tư nhân.
• Về việc bãi bõ Nghị định 31CP

Khi luật sư bào chữa đọc kỹ 3 bài nói trên, ông đi đến kết luận rằng: 1) đó là những bài nghiên cứu khoa học; 2) nội dung đều là sự thật.

Vậy thế nào là “chống” nhà nước? “Chống nhà nước” gồm những hành vi cụ thể nào? Phê phán nhà nước có gọi là “chống”? Rút ra những kết luận nghiên cứu khoa học không vừa ý với nhà nước có gọi là “chống”?

Luật sư Trần Vũ Hải từng bào chữa cho hàng chục bị cáo do điều 88 quy tội, khi trả lời phỏng vấn của VOA cũng nói: …chúng tôi đã nghiên cứu về mặt pháp luật chưa có nghị quyết nào của các Hội đồng thẩm phán Toà án Tối cao hướng dẫn về điều luật này, cũng không có định nghĩa thế nào là chống.

2. Toà sơ thẩm không đưa ra đầy đủ mọi chứng cứ

Luật đòi hỏi phải làm như vậy (điều 214) để hai bên (buộc tội và gỡ tội) xác nhận lần cuối – trước khi chính thức tranh tụng: chúng có thật là “chứng cứ để kết tội hay không”. Rất có thể, đó không phải chứng cứ, hoặc chỉ là thứ ngụy tạo. Nhưng toà sơ thẩm không đưa ra đầy đủ mọi chứng cứ. Lẽ ra, việc này cần tranh biện rất căng thẳng để tránh oan sai.

Thật là bất minh, nếu cáo trạng kết tội bị cáo là “giết người” – vì đã chém rơi đầu nạn nhân – mà lại không trưng ra hung khí.Và thật khôi hài, độc ác, nếu “hung khí” trưng ra chỉ là cái lông… vịt(!).

Cũng tương tự, LS Lê Thị Công Nhân bị kết tội “tuyên truyền lật đổ” với chứng cứ là “bản tài liệu phát cho học viên” mà công an thu được “tại chỗ” khi vị luật sư này sắp mở đầu một bài giảng về dân chủ. Nếu “chứng cứ” này được đưa ra trước toà để tranh luận thì mọi người sẽ thấy đó là một tài liệu công khai trên mạng, do các nhà Luật Học quốc tế biên soạn, dành cho bất cứ đối tượng nào muốn có những hiểu biết phổ cập về dân chủ, trong đó tịnh không có dòng nào, ý nào nói đến Việt Nam.

Theo nguyên tắc đánh giá chứng cứ tội phạm thuộc điều 88 (chứng cứ dạng văn bản) thì Toà phải trích dẫn câu nói, chữ viết, hình ảnh có dấu hiệu phạm tội để minh định sai phạm; và hai bên phải tranh luận… để minh định là có phạm tội hay không?

Trong các vụ án hình sự nói chung, người ta rất tốn công sức, trí óc, tiền của và thời gian để minh định chứng cứ: nào là pháp y, kiểm toán, kinh tế, tài chính, DNA, khôi phục hiện trường, diễn lại hành vi của bị cáo… nghĩa là rất tốn công, rất trầy trật để xác định sự thật. Sự thật lại phải đạt đến mức: mọi người phải thừa nhận là có vụ việc đó, nội dung, thực chất là có vi phạm… mới coi là đủ.

Trong các vụ bất đồng chính kiến (nguỵ trang thành vụ án hình sự) thì toà chỉ nêu hiện tượng và coi luôn đó là chứng cứ, không chấp nhận tranh cãi thêm nữa. Thì ra, chỉ khi kết tội trí thức thì việc tranh luận để minh định chứng cứ mới được toà sơ thẩm cho phép làm qua loa, sơ sài mà thôi. Chả lẽ nó không nói lên điều gì?

Toà còn một sai phạm nghiêm trọng là đánh giá chứng cứ một chiều: Phạm Văn Trội được Toà gọi, là nhân chứng. Trội đã hứa trước Toà khai báo đúng sự thật. Toà không đếm sỉa gì đến Trội trong suốt phiên Toà. Trội đã phản ứng sau phiên Toà. Ai cũng biết Trội là người của bên những người bị kết tội, được triệu tập tới toà; nhưng không được nói gì hết.

Người ta coi việc đánh giá chứng cứ như trên là phiến diện, một chiều. Thẩm tra chứng cứ một chiều là một sai phạm nghiêm trọng.

3. Xét xử sơ thẩm có sai phạm là đã hạn chế đến mức ngăn cản việc tranh luận

Đánh giá chứng cứ cần tranh luận nhưng không được thực hiện.

Tới bước định tội, cũng không cho tranh luận

Cuối cùng, khi định mức án (lượng hình) cũng như vậy nốt.

Nếu là một vụ án trong phạm vi văn học, nghệ thuật, với thơ ca, hội hoạ thì việc tranh luận càng phức tạp và kéo dài…, có khi hàng tháng. Sắp tới, xử tiếp bị cáo vụ PMU toà dự tính 1 tuần mới xong. Duy nhất, các vụ xử bất đồng chính kiến chỉ cẩn 1-2 ngay là kết thúc “gọn”.

Với 3 sai phạm trên về mặt hình thức, có thể kết luận là án xử sơ thẩm xử người bất đồng chính kiến ở Việt Nam chưa đủ tiêu chuẩn để được xét xử phúc thẩm, vì lẽ án xử phúc thẩm phải có trọng tâm, sửa là sửa điểm cơ bản chứ không phải xử lại lần 2 bằng cách làm lại từ đầu… (ý kiến LS Trần Lâm)

Phần 4a- Điều 88 Luật Hình Sự: Nhất định phá sản

Điều 88 Luật Hình Sự trực tiếp chống trí thức, tức chống tinh hoa dân tộc và “nguyên khí quốc gia”, cũng là chống xu thế văn minh nhân loại. Nhất định nó sẽ bị xoá bỏ để dân Việt phát triển tiếp trên con đường văn hiến từ 4000 năm trước, đuổi kịp xu thế thời đại.

Áp lực quốc tế ngày càng mạnh

Từ các nước cùng ký kết

Khi chỉ còn vẻn vẹn 5 nước do đảng CS cầm quyền, Nhà Nước VN buộc phải tuyên bố hoà nhập thế giới và đổi mới trong nước, nhưng vẫn lo mất quyền cai trị. Dù vậy, đến nay, đảng CS không còn nhắc lại điệp khúc “hoà nhập nhưng không hoà tan; đổi mới nhưng không đổi màu” nữa; vì hoà nhập là xu thế không thể chần chừ, lảng tránh. Cưỡng cũng chẳng được; chậm cũng không xong.

Tiêu chí quan trọng nhất đo đạc mức độ hoà nhập là sự nghiêm chỉnh tuân theo các Tuyên Ngôn, Hiệp Định và Quy Ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết thực hiện. Do chỉ muốn đổi mới kinh tế nên VN từng bước thực hiện các quy định liên quan, còn các quy định chính trị – trong đó có các Tuyên Ngôn về nhân quyền và về các quyền dân sự – thì VN cố ý vi phạm nặng nề – vì chúng đe doạ trực tiếp thể chế độc tài. Điều 88 là một trong những vi phạm trắng trợn và nặng nề nhất; tới mức trong mọi phiên toà chính trị, các luật sư đều vạch trần điều này.

Thật dễ hiểu, nếu một nước vi phạm thì những nước cùng ký kết có thể lên tiếng nhắc nhở, phê phán, chỉ trích kể cả phản đối. Đây không còn là chuyện nội bộ nữa, một khi đã cùng cam kết đa phương với nhau. Suốt 30 năm nay, VN tự thấy không đủ tư cách để lên tiếng chỉ trích bất cứ nước nào về thiếu dân chủ, tự do, nhân quyền… mà chỉ toàn là lên tiếng rằng mình bị… “xâm phạm nội bộ”. Nói cho đủ, có một số lần VN lên tiếng bênh vực – khá yếu ớt – những chính quyền “cùng một ruộc” (như Miến Điện, Irak, Lybia…).

Thực ra, sự vi phạm của nhà nước CSVN phải tới mức độ nào đó mới bị các nước khác phản ứng. Tuy vậy, nếu phản ứng chưa đủ mạnh, nghĩa là chưa đủ đe doạ tới lợi ích sống còn (về kinh tế và chính trị) thì Nhà Nước CS vẫn ngoan cố. Điều này, trong một thời gian dài, khiến giới “có học” trong nước thất vọng, vì dường như sự chỉ trích của các nước, thậm chí của các tổ chức quốc tế, cứ như nước đổ đầu vịt. Kỳ thực, không phải như vậy đâu. Nhà nước CS cũng biết sợ khi nằm trong danh sách CPC và càng biết sợ sau khi được ra khỏi danh sách đó. Ví dụ, trước 1985, người bất đồng chính kiến có thể bị bắt giam mà không cần xét xử, nhưng vì muốn ra khỏi danh sách CPC, nên nhà nước CS phải có điều 82 trong Luật Hình Sự. Nói khác, nhìn từ một góc độ nào đó thì cái điều 82 (năm 1985) dù man rợ cũng khiến chế độ độc tài phải mở một phiên toà trước khi bắt giam. Rồi điều 82 (năm 1985) đã phải sửa thành điều 88 (năm 1999) cho bớt “man rợ” đi, chỉ còn là… “phản động” thôi. Một ví dụ khác, nghị định 31CP do thủ tướng Võ Văn Kiệt ban hành có nội dung rất chuyên chế: Cho phép chính quyền “bỏ tù tại nhà” những người phản kháng – dưới danh nghĩa rất “nhân đạo” là cải tạo không giam giữ” – mà không qua xét xử. Điều này khiến quốc tế tưởng rắng án chính trị ở Việt Nam không nhiều. Tuy nhiên, té ra nạn nhân của nghị định này toàn là trí thức, như Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Mai Thái Lĩnh… chính do vậy, tới lúc trong nước và quốc tế nhận ra, và dấy lên làn sóng phản đối. Suốt bao nhiêu năm, cái quốc hội 90% đảng viên cứ mặc cho cái nghị định này khủng bố hàng trăm trí thức; nhưng “đùng một cái” khi chỉ còn một-hai tháng nữa là hết nhiệm kỳ, cái Cuốc Hội này bỗng vội vàng “bác bỏ” nghị định trên. Sao vậy? Hoá ra, đảng CSVN phải làm như vậy để VN được vào WTO. Cộng Sản VN cũng biết sợ khi EU tỏ thái độ chỉ làm ăn kinh tế với những nước dân chủ, tôn trọng nhân quyền… Không phải bỗng dưng mà VN cử một phái đoàn lớn sang tận châu Âu để trình bày, giải thích; nhưng thất bại vẫn hoàn thất bại. Hàng năm, VN vẫn phải chấp nhận 2 lần đối thoại nhân quyền với EU; thực chất là ngồi nghe hoạnh hoẹ và cãi chầy cãi cối.

Áp lực có có kế hoạch từ Liên Hợp Quốc

Không những từng nước cùng ký kết tuyên ngôn nhân quyền lên tiếng về VN còn vi phạm, mà các tổ chức quốc tế liên quan cũng nhiều lần trong nhiều năm đã lên tiếng. Ví dụ Hội ký giả quốc tế đã nhiều năm phong tước “hung thần báo chí” cho các lãnh đạo đầu sỏ của Việt Nam – vị đầu tiên là Đỗ Mười, vị gần đây nhất là Nguyễn Phú Trọng. Thống kê cho hết số lần lên tiếng của các tổ chức quốc tế về Báo chí, Nhân Quyền, Minh Bạch… cũng là một kỳ công.

Nhưng đáng kể nhất là áp lực có kế hoạch từ Liên Hợp Quốc, từ 2009.

Thế kỷ XXI, không thế lực độc tài nào dám tháo bỏ cái mặt nạ dân chủ. Do vậy, những nước độc tài khổng lồ như Nga, Trung – dù ngồi ghế thường trực Hội Đồng Bảo An – vẫn không cưỡng được quyết định nâng cấp từ Uỷ Ban nhân quyền lên thành Hội Đồng nhân quyền (2006) – gồm tới 47 thành viên, được bầu theo địa lý.

Chẳng lạ gì, càng các chính quyền độc tài, càng muốn ứng cử vào Hội Đồng đông đúc này. Ví dụ, Lybia đã nhảy vào đó; VN đang tấp tểnh ứng cử năm tới. Cũng chẳng lạ gì khi cách đây mấy tháng (ngày 25-2-2011) Hội Đồng dự tính sẽ khai trừ Lybia vì chính quyền nước này đã bắn vào dân biểu tình.

Việc có ý nghĩa lớn mà Hội Đồng làm được (2009) là buộc tất cả các nước phải có báo cáo chính thức về tình hình nhân quyền nước mình, trình bày công khai trước một hội nghị để được chất vấn, phê phán và đánh giá. Tất nhiên báo cáo của Việt Nam được đảng CS tô vẽ (cho đẹp) và che dầu (cho bớt xấu), dù được Lybia và vài nước “khen”, nhưng sự phê phán mới thật là kinh, bị chất vấn cũng lắm và bị đề nghị “phải cải thiện thêm” cũng chẳng ít. Người trơ mặt chịu trận là đồng chí thứ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh. Rốt cuộc, hội nghị “chốt lại” thực trạng nhân quyền của Việt Nam năm 2009, để sau 4 năm sẽ đánh giá lại về sự tiến bộ. Điều nhục nhã này, đảng CSVN giấu tịt, mà chỉ rêu rao ở trong nước rằng: Báo cáo về nhân quyền của nước ta đã được “thông qua”. Cách dùng chữ thuộc hạng “siêu” đấy chứ?. Đảng CS cứ làm như tình hình nhân quyền của VN được quốc tế coi là “khả quan” lắm. Tiếc rằng giới trí thức VN chưa khai thác đủ về tình hình này (nhiều tư liệu tôi lấy từ bài của Trần Hiền Thảo).

Chưa khi nào đảng CSVN lâm vào tình thế thảm hại này. Đại cuộc đã vậy, thì cái điều 88 Luật Hình Sự cũng vậy. Áp lực quốc tế sẽ tới lúc đủ mức để nó phải bị xoá bỏ. Tuy nhiên, nếu cứ ngồi đó mà đợi (thụ động) quốc tế can thiệp thì… còn lâu! Quốc tế chỉ can thiệp mạnh nếu trong nước đấu tranh mạnh và tin tức gửi ra đủ gây phẫn nộ. Chúng ta cần vạch rõ hơn nữa tính chất chống trí thức của nó. Cần phải nói, nói nữa, nói mãi, nói trong mọi dịp (và nói chẳng cần dịp nào hết) về tính chất phản động của cái điều 88 này để quốc tế biết và nhất là để dân biết. Dân biết mới là cái gốc để xoá bỏ nó. Đó mới là cách chủ động, tích cực.

Mục tiêu của đảng

– Như đã nêu, điều 88 nhằm vô hiệu hoá quyền tự do tư tưởng, tự do biểu đạt và ngôn luận của trí thức. Mất những quyền này, người “có học” nói chung và trí thức nói riêng… sống cũng như chết.

– Án tù rất nặng có tính răn đe hết sức nghiêm khắc. Hàng ngàn người “có học” muốn phản biện bất cứ gì cũng phải tự kiểm duyệt. Họ phải tự biết dừng lại trước khi bị điều 88 chiếu tướng. Muốn phản biện một điều thì phải kèm theo 9 điều ca ngợi, y như lá sớ của bề tôi muốn can vua. Trong khi đó, văn phong và nội dung điều 88 mù mờ tới mức khó mà biết đâu là giới hạn an toàn. Một chế độ tự nhận “dân chủ triệu lần” mà khi mở lớp trao đổi “thuần tuý kiến thức” về dân chủ đã phải đi tù 3 và 4 năm. Chỉ dịch tài liệu về dân chủ đã tù 7 năm.

– Với điều 88, trong thời gian dài, chính quyền chính quyền CS không ngớt “khẳng định” với 6 tỷ người trên trái đất rằng “Ở Việt Nam không có ai là tù chính trị; bọn ra toà chỉ toàn là tội phạm hình sự”. Điều khó hiểu là nạn nhân của điều 88 đều là người “có học” và trong số này càng ngày càng nhiều luật sư “phạm tội hình sự”. Trên thế giới liệu ở đâu có hiện tượng độc đáo này?

– Nói cho ngay, một đất nước mà tham nhũng “càng chống, càng tăng” tới mức đe doạ sự tồn vong của chế độ; một đất nước luôn luôn bị xếp loại thấp (quá thấp) về tự do báo chí, tự do tôn giáo và về tính minh bạch… mà cứ ra rả rằng “không có bất đồng chính kiến”, không có tù chính trị… thì cho dù đảng CS có khẩn cụ Mác hiện lên, cụ cũng không thể tin được, huống hồ một học sinh.

Không trở thành trí thức cũng không xong

Những người “phản kháng” thoạt tiên rất biết điều, thái độ ban đầu rất mềm mỏng, không chỉ có lý mà còn có tình với chính quyền của đảng CS – kể từ các bậc đại lão như Nguyễn Hộ, Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Thích Huyền Quang… tới thế hệ các cụ Thích Quảng Độ, Hà Sỹ Phu, Mai Thái Lĩnh, Nguyễn Thanh Giang, Trần Mạnh Hảo, Vũ Thư Hiên… rồi tới Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Trần Khải Thanh Thuỷ… và thế hệ hiện nay. Họ nhìn ra những bất công, bất cập và muốn góp ý một cách xây dựng để đảng CS sửa chữa những thiếu sót; nhờ vậy, dân thêm tin đảng. Họ đều là những người “có học”, đủ khả năng tự ghi ra – thành bài vở, văn bản – những suy nghĩ riêng, thể hiện đúng quan điểm, thái độ và ý kiến cá nhân. Không những họ nhuần nhuyễn tiếng mẹ đẻ mà còn đủ năng lực tham khảo các tài liệu ngoại ngữ. Ngay từ đầu, không ai muốn trở thành “bất đồng chính kiến” để mà đối đầu với một đảng có cả một hệ thống đàn áp khổng lồ và tàn bạo đến vậy.

Nhưng thái độ – mang tính nguyên tắc – của đảng CS là cự tuyệt, còn nếu trả lời (hiếm lắm) chỉ là chiếu lệ, đầy vô cảm và trịch thượng, kể cả trả lời cho các bậc tiền bối. Chính thái độ của đảng mới là nguyên nhân và động lực làm cho ngày càng nhiều trí thức – do tự trọng, do tin chắc mình đúng – muốn nêu vấn đề cho “tới nơi, tới chốn”, cho rạch ròi chân lý. Và không thiếu người chỉ vì góp ý mà bị vu cáo những tội danh mang tính thấp hèn, nên họ vì danh dự mà quyết tranh luận tới cùng. Thế là, họ trở thành bất đồng chính kiến. Để răn đe, đảng CS đã đưa vào Luật Hình Sự năm 1985 và sửa đổi năm 1999 một điều khoản mà bản chất là diệt trừ mọi mầm mống để giới “có học” trở thành trí thức. Và đó cũng là cách bôi nhọ trí thức. Bôi nhọ tới mức nêu nguyên cớ bắt người là “hai bao cao su đã qua sử dụng” thì thật hết cách bôi nhọ.

Cái điều khoản “diệt trí thức” của Luật đã khiến các văn bản do trí thức vắt óc viết ra với bao tâm huyết (kể cả của nhóm trí thức ở viện IDS do tiến sĩ Nguyễn Quang A đứng đầu) đều có tiềm năng bị biến thành chứng cứ của các vụ án hình sự – nếu chúng gay gắt phản đối các chủ trương sai lầm của đảng.

Không kể lớp trí thức già bị sách nhiễu, bắt bớ, giam cầm trước 1985 (bất cần luật), thì thế hệ trí thức đầu tiên trở thành nạn nhân của Luật Hình Sự đã bị toà sơ thẩm nêu tội danh là… gián điệp (!), với mức án tù thấp nhất 7 năm. Gián điệp cái quái gì (?) khi Nguyễn Vũ Bình viết bài cảnh báo sự xâm lăng của Bắc Triều (nay đang thành sự thật); Phạm Hồng Sơn dịch bài Dân Chủ Là Gì sang tiếng Việt, còn Nguyễn Khắc Toàn chỉ giúp đỡ dân oan khiếu kiện đúng nơi, đúng luật…
Não trạng của đảng CS về trí thức dưới thời các vị Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh thật là kỳ quặc mà dưới đây không thể bỏ qua.

Não trạng của đảng: Tuyên ngôn chống trí thức

Khi đảng CSVN ban hành một điều luật coi hoạt động tư duy của trí thức là tội hình sự, thì não trạng của nó rõ ràng có vấn đề. Đó là não trạng căm hận của bạo chúa đổi với kẻ muốn làm lung lay ngôi vị cai trị của mình. Nếu trí thức từ năm 1898 tới nay đã nhiều lần ra Tuyên Ngôn chống độc tài, thì các chính quyền độc tài cũng ra Tuyên Ngôn chống trí thức. Ở VN: Đó chính là điều 82 trước đây và điều 88 hiện hành. Một não trạng bình thường không thể nghĩ ra cái tên rất “quái” như tên của điều 82 và 88.

Luật Hình Sự 1985, điều 82 có tên “tội tuyên truyền chống chế độ XHCN”. Quái chưa? Nếu dân thế giới ở 180 nước chọn chế độ tư bản và dân ở 20 nước chọn chế độ XHCN thì đó là quyền của người ta – miễn là dựa vào kết quả trưng cầu dân ý. Tuyệt đa số dân Đông Âu sau khi thoát khỏi chế độ XHCN đã tán thành gia nhập EU để vĩnh viễn chấm dứt chế độ cũ. Rành rành bằng lá phiếu, dân các nước này đã chống chế độ XHCN. Vậy, hà cớ gì điều 82 dám hăm doạ trên 50% (và nay là 75%) dân số địa cầu, chỉ vì họ không thích một chế độ?. Não trạng như vậy sao gọi được là bình thưởng?

Với chủ nghĩa Cộng Sản hay bất cứ chủ nghĩa nào khác, mọi người tha hồ khen hay chê, tin hay không tin, theo hoặc không theo, chống (bằng ngôn ngữ) hay không chống… Trên giấy, chủ nghĩa nào cũng tốt đẹp, cũng đầy hứa hẹn. Chủ nghĩa CS và CNXH càng đẹp tới mức vài tỷ người từng mơ ước. Nhưng khi thực hiện, mới sinh chuyện. Chế độ CS khi thực hiện ở Nga, Liên Xô, Đông Âu, Tàu, Việt, Triều, Cuba… (tuy mới chỉ là giai đoạn “XHCN”) lập tức đều gây thảm hoạ. Chính vì vậy Hội Đồng EU ra nghị quyết lên án chế độ CS mà không lên án chủ nghĩa CS. Sự phân biệt như vậy đủ rõ. Hôm nay, đảng CS Nga vẫn tồn tại, vẫn nêu cao chủ nghĩa, vẫn tuyên truyền kết nạp, vẫn tranh cử… Mặc nó. Nó có quyền như vậy. Chế độ tư bản có thể dung chứa nó, nhưng một khi nó nắm chính quyền, nó không chấp nhận một đảng nào khác. Sự tàn sát trong nội bộ đảng CS đã đủ kinh hoàng rồi; vậy, thử hỏi: Nó tha gì các đảng khác? Nó tha gì người phản biện nó?

Nửa tỷ dân Đông Âu và Liên Xô từng quyết liệt chống lại chế độ CS mới giải thể được nó, và khi trưng cầu dân ý, tuyệt đa số dân tán thành gia nhập EU. Trong khi đó, đảng CS VN nêu “tội tuyên truyền chống chế độ XHCN”. Thật hết nói.

Tới năm 1989 và 1991 (khi chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đổ kềnh) thì tên gọi của điều 82 tỏ ra không những vô duyên mà còn phản động – khiến mọi người liên hệ với lời tuyên bố của những người Hồi giáo cực đoan: “bất kể ai không theo đạo Hồi đều đáng phải chịu sự phán xét của đức Ala”. Thế mà tới 14 năm sau (1999) điều 82 nói trên mới được sửa. Điều 88 có tên là “Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.

Luật năm 1985
Điều 82. Tội tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa
Luật năm 1999
Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam
1- Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:a) Tuyên truyền xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống chế độ xã hội chủ nghĩa.

2- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Ngay cả khi điều 82 được sửa thành điều 88 – ngoài chuyện vẫn mù mờ – nó vẫn thể hiện một não trạng chuyên chế tới mức quái gở. Làm gì trên đời này có thứ “nhà nước” tồn tại vĩnh viễn chỉ nhờ khoác cái tên “XHCN”? Cái thứ “nhà nước” vì sợ hãi mà kết tội cả các “tài liệu tuyên truyền” thì nên đổ quách đi cho rồi. Thực tế, cái “nhà nước” loại này – dù có cả vũ khí nguyên tử – đã đổ rất êm thấm ở Liên Xô và Đông Âu cả chục năm trước khi điều 88 ra đời rồi.

Phần 4b- Điều 88 Luật Hình Sự: Nhất định phá sản (tiếp)

Đấu tranh trực tiếp với điều 88

– Về lý luận, nhận thức:

Điều 88 không giết trí thức ngay, nhưng khiến trí thức mất hẳn quyền phát biểu suy nghĩ cá nhân, giống như hoa tiêu bị bịt mắt, ca sĩ bị thít họng.

Nó chống trí thức, do vậy trí thức phải là lực lượng chủ chốt chống lại nó, với sự ủng hộ ngày càng mạnh của dân chúng và quốc tế. Không có lực lượng vật chất, bởi vậy người “có học” và trí thức chỉ có thể chống sự phi lý, phi nghĩa của điều 88 bằng sức mạnh của chân lý, sự thật.

Tóm lại: cần nói nhiều, chứng minh nhiều, phân tích nhiều, phát tán nhiều hơn nữa, về sự tàn bạo, phi lý và hậu quả tai hại cho tương lai dân tộc khi điều 88 còn tồn tại.

– Tránh mũi nhọn trực tiếp của điều 88 khi phát biểu bằng văn bản

Thực tế, điều 88 đang hiện hữu, đang có hiệu lực thi hành, đang được công an và toà án sử dụng. Nó là vũ khí, như ngọn Mác, lưỡi Lê, trong tay bọn sát thủ trí thức. Xóa bỏ điều 88 (tước vũ khí) là chuyện của cả một cuộc đấu tranh kiên trì, rộng rãi, đúng cách. Trong khi đó, trí thức nước nhà vẫn phải lên tiếng phê phán cái xã hội độc tài này – và không chỉ phê phán một lần. Do vậy, khi phát biểu các vị trí thức cần lưu ý văn phong, cách nói… để khỏi bị quy chụp. Né mũi nhọn cường lực để tồn tại mà đấu tranh lâu dài là khôn ngoan, chứ không phải là không can đảm.

Dưới đây, tôi phát biểu với tư cách một bạn đọc có may mắn được đọc bài của nhiều vị trí thức khác nhau. Và tôi chỉ nói ý kiến cá nhân.

Đến đây, cần phân biệt các bậc trí thức đã công khai danh tính và chưa công khai danh tính. Cũng có những vị vừa có bút danh công khai, vừa có bút danh không công khai – tuỳ vị trí đấu tranh và tuỳ tính chất từng bài và nơi đăng. Điều này giống như trước đây đảng ta hoạt động vừa công khai, vừa bí mật.

Các vị như Nguyễn Trung, Chu Hảo, Hoàng Tụy, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trần Bạt và nhiều vị khác (viện IDS và viện VIDS) có nội dung viết và cách viết được đăng trên báo chí công khai (rất đông người đọc), được bạn đọc thích thú, mà tác giả vẫn an toàn. Có điều, các báo trong nước cũng cần an toàn, do vậy toà báo đã kiểm duyệt bài ở mức cần thiết. Nhưng may, hiện nay có nhiều nơi để bài nguyên bản được đăng lên, song song với bài ở báo công khai.

Một phương pháp tốt là mượn ngay cái gậy của “ông” để đập vào lưng những đứa cháu đang lợi dụng danh nghĩa “ông”. Rất nhiều bài viết loại này đã trích dẫn cương lĩnh, nghị quyết, hiến pháp, lời lãnh đạo. Các vị khác như Nguyễn Thanh Giang, Trần Mạnh Hảo, Bùi Minh Quốc… tuy đã bị đảng sờ tận gáy, nhưng nay đảng cũng ngán họ; mặt khác, các vị này cũng tự điều chỉnh ngôn từ để tránh mũi nhọn của điều 88, nhưng không vì thế mà phải tự hạn chế nội dung bài.

Đúng là, né mũi nhọn cường lực, chứ không né nội dung phê phán. Vấn đề là văn phong thích hợp. Ví dụ, chẳng sợ gì mà không phát biểu phản đối điều 4 hiến pháp. Mức độ nhẹ nhất là không yêu cầu xoá bỏ nó, nhưng đòi hỏi phải “luật hoá” nó. Sẽ chẳng có “luật hoá, luật hiếc” gì đâu, nhưng bạn đọc thấy cái điều 4 này thậm vô lý, thậm chướng mắt, sự thiêng liêng biến thành khôi hài. Có người đòi xoá bỏ điều 4, nhưng với lập luận thích hợp, sao cho bạn đọc tán thành, mà điều 88 không thể đụng chạm tới tác giả được. Bất cứ nội dung gì cũng có thể phát biểu dưới góc độ nghiên cứu khoa học, kể cả chú thích thêm rằng “tôi rất hiểu điều 88”.

– Tạo một lá chắn, loại “có còn hơn không”

Đã dấn thân, phải nghĩ tới lúc sa cơ, ví dụ, do lầm lỡ. Mặt khác chế độ độc tài bắt người bằng đủ cách hèn hạ, có thể “hai bao cao su đã qua sử dụng” chưa phải chuyện bỉ ổi nhất. Do vậy, khi danh tính đã công khai, công an đã nhiều lần “mời” làm việc… thì chuyện tạo cớ bắt người chẳng có gì khó.

Tôi bỗng nảy ra 2 ý nghĩ.

a) Từ “tuyên ngôn” của của sinh viên Nguyễn Anh Tuấn khi anh công khai hoá sự “tàng trữ” 10 tài liệu lấy trên mạng liên quan với vụ án Cù Huy Hà Vũ, tôi ước gì có một nhóm trí thức cũng làm như vậy, nhưng nội dụng cao hơn, rộng hơn và bạo hơn, với mục đích vạch ra sự phi lý, sự vi phạm nhân quyền của điều 88. Hoặc, dưới dạng một tuyên ngôn rất mềm, rất đúng đường lối chủ trương của đảng: Ví dụ, báo cho nhà nước biết: Theo chủ trương của đảng sửa đổi hiến pháp, nhóm chúng tôi hưởng ứng bằng cách tập hợp nhau bàn bạc để thảo ra một hiến pháp mới, nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền của dân do dân vì dân, và sẽ công bố bản dự thảo đóng góp ý kiến khi đảng cho toàn dân thảo luận; rất mong đảng ủng hộ…

b) Nếu một vị đã lâm vào cái thế buộc phải công khai “bất đồng chính kiến” (ví dụ đã được công an mời “làm việc” nhiều lần) nếu vị này ra một tuyên ngôn cá nhân (đại khái như ở dưới đây), thì sẽ ra sao?

Ví dụ:

Đây là tuyên ngôn cá nhân của tôi, rất ôn hoà, thiện chí và cũng thật minh bạch:

– Cá nhân tôi bất đồng chính kiến với đảng CSVN về một số chủ trương, chính sách, mà tôi nhận ra là cản trở sự thực thi dân chủ, tự do và nhân quyền cho dân.

– Cá nhân tôi thể hiện sự bất đồng bằng phản biện hoặc phê phán ở mọi mức độ, nhằm để đảng và nhà nước sửa chữa, chứ tuyệt đối không nhằm chống lại 2 thực thể này.

– Tôi phát biểu công khai, ôn hoà và chịu trách nhiệm về nội dụng phát biểu. Trước hết, tôi mong được công bố ở báo chí trong nước, sau đó mới là ở bất cứ đâu đồng ý công bố cho tôi.

– Tôi ý thức không vi phạm điều 88 Luật hình sự (hiện đang có hiệu lực), nhưng tôi vẫn khẳng định đây đây điều luật trái hiến pháp hiện hành, trái với các Tuyên Ngôn quốc tế về nhân quyền và các quyền dân sự mà nhà nước Việt Nam đã ký và cam kết thực hiện. Vì danh dự của đảng CS và nhà nước, tôi mong điều 88 sớm được xoá bỏ.

– Tôi mong sự tiến bộ ở Việt Nam sẽ diễn biến bằng hoà bình, mà không bằng bạo lực, đồng thời mong nhà nước không sử dụng bạo lực với dân và người bất đồng chính kiến.

– Tôi tán thành đa nguyên, đa đảng như thể chế chính trị của gần 200 nước hiện nay; nhưng tôi cũng tuân theo quyết định của đa số trong một cuộc trưng cầu dân ý thật sự dân chủ về thể chế của đất nước VN, dù trái ý tôi.

– Tôi muốn hiến pháp hiện hành phải sửa cơ bản, thể hiện đầy đủ các quyền dân, để được thông qua khi trưng cầu dân ý. Trước mắt, điều cần được luật hoá là điều 4, điều phải thực thi ngay là điều 69. Nếu các quyền tự do trong điều 69 không được cụ thể hoá thành các Luật thì người dân cứ tự thực hiện nó theo cách mình hiểu, và lỗi không phải ở dân.

– Tôi hoàn toàn ý thức rằng những phát biểu ôn hoà của mình không cấu thành tội hình sự. Do vậy, tất cả những văn bản nhận tội tôi viết và đọc khi bị bắt giữ đều không giá trị.

– vân vân… Có thể thay đổi nội dung (tuỳ hoàn cảnh mỗi người), hoặc viết cho mềm hơn (tuỳ tính cách mỗi người).

Liệu đây có thể coi là cái lá chắn thụ động, phần nào giúp bảo vệ người bất đồng chính kiến hay không? Tuyên ngôn này có lợi gì hay không, khi mà chế độ độc tài khởi tố người bất đồng chính kiến?

Đấu tranh trong và ngoài phiên toà

– Khai thác, khoét sâu tính “cẩu thả” và tính “sợ hãi” của phiên toà

Cẩu thả và sợ hãi là hai điểu nổi bật của quan toà trong vụ xử TS Cù Huy Hà Vũ (theo GS Ngô Bảo Châu). Thực ra đó là đặc tính chung của mọi phiên toà xử trí thức. Cần nhận xét rằng đại lượng đo sự “cẩu thả” và sự “sợ hãi” luôn luôn diễn biến ngược chiều nhau. Nghĩa là nếu đấu tranh hiệu quả để quan toà buộc phải giảm “cẩu thả” thì sẽ làm tăng sự sợ hãi của họ. Điều này có lợi cho nạn nhân.

Chống cẩu thả, thực chất, đây là đòi hỏi việc xét xử phải tuân theo đầy đủ mọi thủ tục đã quy định trong luật. Do vậy, phía luật sư và nạn nhân đã nắm đằng chuôi (đòi làm đúng luật) còn phía công tố và quan toà nắm đằng lưỡi (chỉ muốn làm trái luật).

Quan toà cẩu thả trong các vụ án liên quan điều 88 nay đã là chuyện đương nhiên, và qua thời gian càng được củng cố.

Các vị quan toà phục vụ chế độ độc tài nhìn bị cáo không phải bằng con mắt “người nhìn người”, mà bằng con mắt căm hận, cộng với sự thích thú của loài ác thú vờn con mồi trước khi xé xác. Não trạng của các vị này, ngoài căm hận, thích thú, bỡn cợt là chủ đạo, còn nhiều khía cạnh phức tạp khác, tuỳ cá tính – nhưng nói chung là không lành mạnh, nếu không muốn nói là bất lương.

– Có thể họ ái ngại, thương hại hoặc cười khẩy nạn nhân vì thấy nạn nhân cứ tưởng rằng vẫn còn chút công lý ở phiên toà, do vậy cố kiếm luật sư giỏi, hoặc cố lập luận mình vô tội.

– Thực ra, vở diễn đã có sẵn, quan toà chỉ cần dẫn dắt màn kịch kết thúc cho chóng vánh. Nhiều lần như vậy, quan toà sinh ra chủ quan và cẩu thả, mà không cần năng lực gì ghê gớm. Họ thích thú, sung sướng khi năng lực thấp mà được đặt ở thế thượng phong.

– Họ sốt ruột làm các thủ tục, cố kiên nhẫn nghe luật sư trình bày, nhưng rất sợ tranh luận; do vậy cố giản tiện tối đa các bước, để kết thúc phiên toà sớm nhất. Không một vụ xử nào liên quan điều 88 mà kéo dài quá 2 ngày.

– Họ chủ quan, vì trong tay đã có sẵn biên bản tuyên án, mức án, lại có toàn quyền điều khiển, nên chắc mẩm sẽ kết thúc “vượt thời gian”. Chuyện có thật là chỉ cần hội ý 30 phút, họ đã kịp có biên bản đủ dài để đọc hàng giờ khi tuyên án (vụ xử LS Lê Công Định và “đồng bọn”).

– Qua hàng trăm vụ xử, dần dần quan toà mang tính cẩu thả, bất cần năng lực, là do vậy.

Bởi vậy, chống cẩu thả là điều khiến quan toà rất sợ hãi. Sợ, vì họ chuẩn bị cho phiên toà quá sơ sài, quá chủ quan. Sợ, vì năng lực quá kém trước sự xuất sắc và sự chuẩn bị kỹ càng của luật sư. Sợ, vì tự thấy phi nghĩa. Do vậy, nếu luật sư cứ chiếu luật mà đòi hỏi quan toà phải làm đủ các bước, với mọi chi tiết cần thiết, đòi được tranh luận (tranh luận về chứng cứ, về tội trạng, mức độ vi phạm, mực độ án phạt…). Muốn xử chóng vánh, nhưng không thể từ chối phải qua đủ mọi bước theo thủ tục, khiến quan toà lo sợ. Phiên toà càng đông người dự, càng sợ. Đó cũng là đặc tính của phi nghĩa, bất lương (không muốn phơi mặt ra).

Một loạt 5 luật sử tuyên bố phiên toà vi phạm và bỏ ra ngoài là một đòn rất nặng. Vụ xử TS Hà Vũ tạo bước ngoặt chính cũng do các luật sư đòi hỏi toà phải trưng ra các chứng cứ, để tranh luận xem đó có thật là “chứng cứ” không (tức là có đáng kết tội người ta vì những cái đó không). Quan toà và công tố chưa bao giờ chuẩn bị tranh luận về những điều đó, cho nên sợ.

Đó là những cái sợ cụ thể của quan toà. Sợ, chủ yếu do năng lực.

Nhưng còn cái sợ bao trùm, dù vô hình; tuy không cụ thể nhưng rất ám ảnh… là cái sợ của các vị ra chủ trương lớn và các vị dấu mặt nhưng chỉ đạo phiên toà. Đó là cái sợ của phe phi nghĩa.

Để chống lại điều 88 cần đấu tranh thu hẹp tối đa sự cẩu thả; đồng thời khếch đại tối đa sự sợ hãi.

Ông Lê Hồng Anh làm sao oai bằng Bêria? Ông Nguyễn Phú Trọng làm sao oách bằng Stalin? Xin hai vị hậu sinh này hãy tìm hiểu số phận cuộc đời và số phận lịch sử của các bậc tiền bối mà liệu cách ứng xử.

– Mời số luật sư áp đảo

Cần phải có một quỹ nhờ các nhà hảo tâm đóng góp để làm việc này.

– Đòi thật sự công khai phiên toà; vận động đông đảo mọi người tới dự

Xử công khai các vụ án hình sự đã được luật quy định. Do vậy, các vụ án xử bất đồng chính kiến bị khoác cái áo “hình sự” cũng phải xử công khai. Án chính trị phân ra rất rõ: chính nghĩa hay phi nghĩa. Do phi nghĩa thuộc phía chế độ, nên một chỗ yếu của chế độ là buộc phải xử công khai, nhưng lại rất sợ có nhiều người dự. Vận động quốc tế, vận động mọi người tham dự thật đông đảo (dù chỉ được đứng ở ngoài) vẫn rất có lợi cho nạn nhân, bất lợi cho chế độ độc tài. Điều dễ thấy nhất để nhận ra bước ngoặt lớn trong vụ xử TS Cù Huy Hà Vũ vừa qua là số người tới toà đông đảo hiếm thấy, nhưng bị công an ngăn cản thô bạo

– Công khai bản bào chữa ngay trước phiên toà và sau phiên toà

Các phiên toà trước đây, do thủ tục “nhảy cóc” nên sự chuẩn bị rất kỹ của luật sư thành ra vô hiệu. Luật sư nào cũng uất ức, từ vị cao lão như cụ Trần Lâm, sắc sảo như LS Lê Công Định, nhiệt tâm như LS Lê Trần Luật, từng trải như LS Huỳnh Văn Đông… đều bực dọc và mất hết tin tưởng vào sự công minh khi xử các trí thức bất đồng chính kiến. Cách phản ứng tốt nhất là họ công bố bản bào chữa đã đọc trước phiên toà. Qua đó, không những dư luận thấy rõ, mà – do tham khảo lẫn nhau – càng về sau các bản bào chữa càng vững, càng sát.

Vài câu về phiên toà “nhảy cóc”

Tài liệu chính thức gọi là phiên toà kangaroo (kangaroo court, kangaroo trial) và đã có một vị viết về nó ngay khi dư luận ồn ào về quan toà trong vụ xử TS Cù Huy Hà Vũ muốn bỏ qua những thủ tục đã được luật quy định để nhanh chóng kết thúc phiên xử – giống như con chuột túi (ở Úc) không đi lần lượt từng bước mà di chuyển bằng… nhảy. Ở Việt Nam, các cụ ta có khái niệm tương tự, là “nhảy cóc”.

Phiên toà nhảy cóc là đặc trưng cho mọi chế độ độc tài, mà không phải là sáng tạo của riêng Việt Nam. Nhưng không thể nói rằng Việt Nam phải học của bất cứ ai. Mà là, bất cứ ai, hễ là độc tài thì toà án đều bỏ bớt mọi thủ tục nào tỏ ra có lợi cho bị cáo. Các chế độ độc tài chẳng ai phải học ai cả. Quan toà của chế độ độc tài cũng chẳng cần phải học cách xử nhảy cóc, nhưng cứ tự dưng mà xử kiểu này. Lạ thế!

Đó là nói thời nay, chứ thời phong kiến ấy à? Bất cần xử, chỉ cần vua quát “chém” là lát sau đao phủ đã đem đầu tội nhân dâng lên. Chế độ ở Việt Nam, như phần trước đã nói, bản chất là phong kiến, nhưng lại có mặt ở thế kỷ XXI, nên buộc phải xử ở toà, thế thì phải diễn kịch theo kiểu nhảy cóc thôi.

Cuối cùng, xin nói thêm một chi tiết: Tác giả cái bài là phiên toà kangaroo (đăng trong wikipedia) đưa ra ví dụ về nơi xảy ra phổ biến các phiên toà loại này: là Đức Quốc Xã và Liên Xô. Ví dụ này điển hình, nhưng nên có thêm ví dụ cập nhật. Đó là phiên toà xử TS Hà Vũ, lần đầu tiên ở nước ta bị vạch trần, miễn cãi, là phiên toà nhảy cóc. Ở thế kỷ XXI, đó là tử huyệt của độc tài ở nước ta.

Bằng Công

Be the first to start a conversation

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: