Sách lược và ý đồ của Trung quốc


Cuối năm 2004 tôi có đề xuất một dự án chiến lược dưới tựa đề, Lộ Đồ Hình Thành & Kiến Tạo Một Liên Bang Đông Nam Á Châu. Dự án này thực ra là một đối sách dài hạn để chống lại ý đồ của Trung Quốc. Tuy là nó được soạn thảo và trình bày với mục đích chính là để thuyết phục giới chức Hoa Kỳ nhưng nội dung của nó, theo chủ quan của tôi, thì lại càng nên được lưu ý bởi nhân dân và chính quyền Việt Nam. Tôi sẽ cố gắng trích dẫn một số đoạn trong dự án để mọi người tham cứu. Hy vọng là có sự bổ ích.

Trung Cộng là một thế lực lớn đang đe dọa trực tiếp tới an ninh và quyền lợi của Hoa Kỳ nói riêng cũng như của vùng Đông Nam Á Châu và của cả thế giới nói chung. Cộng vào đó là hiểm họa của những khủng hoảng lớn, hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp do Trung Quốc gây ra, đang chực chờ trước mặt. Để duy trì vị thế lãnh đạo, để bảo vệ quyền lợi và an ninh, và để ngăn ngừa những hiểm họa đừng cho trở thành thảm họa đã rồi, Hoa Kỳ và đồng minh không có sự chọn lựa nào hữu hiệu hơn là thực hiện chiến lược bao vây, kềm chế và làm bể Trung Quốc (chiến lược KCBVLBTQ) ra nhiều mảnh.

Trong vòng đai bao vây tiếp cận, một quần thể quốc gia có đủ thực lực để trấn giữ góc Đông Nam Á Châu là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của chiến lược. Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại cho thấy, sáu nước đứng riêng lẻ Việt-Miên-Lào-Mã-Thái-Miến (VMLMTM) là những quốc gia nhỏ yếu không đủ sức chống trả chính sách “lũng đoạn chính trị, đánh phá kinh tế, thôn tính văn hóa và lấn chiếm lãnh thổ” của Bắc Kinh lại càng khó cản nổi bước tiến “Hán hóa địa cầu, chiếm lĩnh kinh tế, nhất thống Đại Trung Quốc” của Tàu Cộng. Dầu là sáu quốc gia VMLMTM đứng chung trong tổ chức ASEAN, nhưng hình thái liên minh lỏng lẻo của tổ chức này không bảo đảm có thể giúp đạt tới hiệu quả chiến lược như mong muốn. Đó là chưa nói tới ảnh hưởng của Trung Quốc với tư cách là một chủ nhân ông trong vùng, chưa nói tới ảnh hưởng của Hồi Giáo, và chưa nói đến những động lực riêng tư thúc đẩy mỗi quốc gia đi khác hướng. Thêm vào đó, các thành viên của ASEAN đều tỏ thái độ duy trì nguyên tắc không can thiệp chuyện nội bộ của nhau. Và, trong một mức độ nào đó, ASEAN nghi ngờ thiện chí của Hoa Kỳ lại e ngại làm phật lòng Trung Quốc nếu họ tỏ ra “thân thiện hơn với người ngoài.””Trạng huống này sẽ tạo ra một lỗ hỏng lớn trong chiến lược BVKCLBTQ của Hoa Kỳ và đồng minh. Đặc biệt là khe hở VML, cộng với tình trạng mất quân bình của cán cân quân sự tại vùng ĐNA, sẽ khuyến khích Trung Quốc bành trướng xuống phương nam để kiềm tỏa Malacca Strait, khống chế hành lang vận chuyển Thái Bình Dương, siết cổ Nhật-Hàn-Đài, vói tay lấy Nam Dương và Úc Châu. Một giải pháp tốt nhất là Hoa Kỳ nên tận tình trợ giúp để biến ba quốc gia VML, và sau đó là sáu quốc gia VMLMTM, thành một Liên Bang Đông Nam Á Châu, một quần thể có khả năng khai phóng tiềm năng nhanh chóng để tiến lên hàng ngũ cường quốc thuộc khối dân chủ. Một giải pháp có lợi cho Hoa Kỳ, có lợi cho toàn vùng, có lợi toàn cho thế giới và chắc chắn là có lợi cho sáu quốc gia đối tượng.

Hoa kỳ không thể tiếp tục chính sách “strategic engagement” đã thực hiện trong nhiều năm. Chính sách này chỉ có thể giúp tạo được sức mạnh kinh tế cho Trung Quốc chứ không thể giúp dân chủ hóa được Trung Quốc. Ngược lại, tập đoàn Bắc Kinh còn dùng gậy ông đập lưng ông; tức là dùng tiền (do Hoa Kỳ tạo cơ hội) để mua những quốc gia chung quanh chống lại tiến trình dân chủ hóa; mua sức mạnh ngoại giao để chống lại Hoa Kỳ và đồng minh dân chủ; mua sức mạnh quân sự để thực hiện tham vọng bành trướng; mua lương tâm của cá nhân và tập đoàn để tiếp tục gây tội ác chống nhân loại. Sự thất bại của chính sách này và hậu quả của nó đã quá rõ. Nếu tiếp tục nhân nhượng Bắc Kinh và thiếu thiện chí tích cực giúp đỡ cho những quốc gia trong vùng ĐNA đạt tới tình trạng dân chủ, nhân bản, pháp trị thì chắc chắn không bao lâu nữa Hoa Kỳ sẽ mất đất đứng và e rằng “thành trì dân chủ của thế giới” sẽ không còn đủ sức để che chở cho nhân loại trước những phong ba do Trung Quốc dàn dựng sắp đổ ập xuống.

Văn bản này, Lộ Đồ Hình Thành và Phát Triển Một Liên Bang Đông Nam Á Châu, chỉ nhằm vạch cho thấy bối cảnh chiến lược đang vận hành và những tương quan trong đó rồi đưa ra một giải pháp chiến lược trong giới hạn của vấn đề. Đồng thời văn bản này cũng phác họa một lộ đồ để thực hiện. Và theo ý nghĩ chủ quan của người soạn thảo, hình thành và phát triển một LBĐNAC là một dự án chiến lược khả thi và cần phải thực hiện.

Văn bản này tuy có chạm đến nhưng sẽ không đi sâu vào chiến lược BVKCLBTQ. Nói một cách khác, văn bản này không trình bày chiến lược BVKCLBTQ cũng không trả lời những câu hỏi liên quan đến chiến lược BVKCLBTQ mà chỉ tập trung vào lộ đồ hình thành LBĐNAC, một mảng của chiến lược BVKCLBTQ.

Vị Thế Chiến Lược Của Việt, Miên, Lào, Miến, Thái, Mã
Trong nỗ lực bao vây kềm chế Trung Cộng, chắc chắn Hoa Kỳ sẽ lôi kéo những quốc gia chung quanh Trung Quốc để thiết lập một quan hệ ngoại giao và quân sự gắn bó hơn nhằm thành lập một vòng đai “bao vây tiếp cận.”” Và dĩ nhiên là sáu quốc gia VMLMTM [Việt, Miên, Lào, Mã, Thái, Miến] cũng không thoát khỏi ảnh hưởng đó. Đi xa hơn, trong nỗ lực làm cho Trung Quốc bể ra nhiều mảnh, dẫn dụ đối tượng vào một cuộc chiến tiêu hao nội lực trầm trọng đưa đến sự tan rã từ bên trong là một chọn lựa trong số những chọn lựa chiến lược (startegic options) của Hoa Kỳ. Liệu điều này có thể xảy ra hay không? Rất có thể, vì đây là một cuộc thư hùng mà cả hai phía đều có những động lực thúc đẩy. Vấn đề chỉ là nổ ra ở thời điểm nào, ai ra tay trước và trận địa nằm ở đâu.

Về phía Trung Quốc, với áp lực dân số ngày càng tăng (a) một cuộc chiến làm tiêu hao một phần lớn dân số sẽ là một giải pháp “mượn tay người giải quyết dùm” mà chính quyền Tàu Cộng không ngần ngại để hưởng ứng và (b) một cuộc chiến giúp cơ hội cho dân Tàu túa ra như một đàn ong vỡ tổ để ngang nhiên tràn đến di dân tại những quốc gia gần và xa gây ra một cuộc khủng hoảng cho toàn vùng hoặc toàn thế giới lại là một giải pháp tuyệt diệu hơn vì “một phát tên bắn được hai ba con chim” mà chính quyền Tàu Cộng rất muốn thực hiện.

Đợi thêm một vài thập niên nữa, nếu chiến tranh Hoa-đối-Hoa chưa kịp xảy ra, khi mà (a) nội lực kinh tế của Trung Quốc sung mãn hơn, (b) kỹ thuật khoa học phục vụ chiến tranh của Trung Quốc hoàn hảo hơn, và (c) đội quân thứ 5 cùng những đội quân khác đã luồn sâu hơn và trèo cao hơn bên trong những “quốc gia đối tượng” khắp trên thế giới, Trung Cộng sẽ không còn ngần ngại để nhanh chóng và trắng trợn hoàn tất phần còn lại của “lộ đồ Hán hóa địa cầu, chiếm lĩnh kinh tế, nhất thống Đại Trung Quốc.”” Tới lúc đó Bắc Kinh sẽ sẵn sàng “giáo huấn” bằng sức mạnh quân sự những nước muốn chống lại tiến trình này.

Trong khi từng bước tiến dần đến cao điểm của sức mạnh cần có để thực hiện phần còn lại của lộ đồ Trung Cộng đã, đang và sẽ liên tục thực thi sách lược “lũng đoạn chính trị, đánh phá kinh tế, thôn tính văn hóa và lấn chiếm lãnh thổ” của những quốc gia chung quanh với thái độ đầy thách thức.

Nếu cộng đồng thế giới can thiệp dưới áp lực “phải duy trì” sự ổn định, Tàu Cộng áp dụng chiến thuật “ba tiến một lùi” cố hữu để đoạt thắng lợi. Vì là nhược quốc cho nên sẽ phải tiếp tục cắn răng nhường nhịn, những quốc gia chung quanh Trung Quốc từng bước từng bước một bị lũng đoạn chính trị, bị thua thiệt kinh tế, bị Hán hóa dần dần và bị cưỡng đoạt một phần hoặc toàn bộ lãnh thổ.

Về phía Hoa Kỳ, dĩ nhiên là tham vọng và thái độ trịch thượng này của Trung Quốc không thoát khỏi sự quan sát và quan tâm. Hoa Kỳ hiểu rõ một trận thư hùng quân sự trong một tương lai gần sẽ gây thiệt hại và hao tốn cho Hoa Kỳ và đồng minh ít hơn lại có nhiều cơ hội hơn để làm hao tổn nội lực Trung Quốc đến độ nó phải bể thành nhiều mảnh, thay vì một trận thư hùng quân sự trong tương lai xa ở vài thập niên tới. Thêm vào đó sự nhường nhịn kinh tế, quân sự, và ngoại giao của Hoa Kỳ và đồng minh đối với Trung Quốc như đã làm và đang làm sẽ dần đà dẫn đến kết quả sau cùng là quả địa cầu từ đôi chân của đại bàng sẽ rớt vào giữa những cánh nhung của bông hồng đại đóa.

Với những động lực vừa nêu, cái giả thuyết “khó tránh một cuộc thư hùng vũ lực giữa Trung Cộng và Hoa kỳ” không phải là một giả thuyết mơ hồ khó xảy ra.

Nhìn kỹ hơn, sáu nước VMLMTM là một mảnh đất mầu mỡ, giàu tài nguyên thiên nhiên, thưa dân và dễ cho Bắc Kinh chiếm lấy nhất trong số những quốc gia tiếp cận biên giới Trung Quốc, để từ đó tràn xuống Nam Dương và Úc Châu thực hiện xa hơn giấc mơ Đại Trung Quốc. Nếu phương tiện chiến tranh được sử dụng và do Hoa Kỳ chủ động thực hiện, ba nước VML sẽ là miếng mồi thơm ngon để dẫn dụ Trung Quốc vào trận. Nếu phương tiện chiến tranh được sử dụng và do Trung Quốc chủ động thực hiện, ba nước VML sẽ là miếng mồi béo bở Trung Cộng muốn nuốt trước tiên để thách thức Hoa Kỳ và đồng minh. Miếng mồi mà “con thú muốn ăn thợ săn muốn nhử.” Vô hình trung, nếu đúng như giả thuyết, sáu nước VMLMTM sẽ bị lôi cuốn vào thế cuộc dầu sôi lửa bỏng và sự chọn lựa không phải là (a) muốn hay không muốn dính dấp vào cuộc thư hùng khốc liệt mà là (b) trong hoàn cảnh trên đe dưới búa nên chọn ngã theo Hoa Kỳ hay ngã theo Trung Quốc để có cơ hội sinh tồn và tái xây dựng sau khi giông bão đã đi qua.

Ôm chân Trung Quốc có nghĩa là chấp nhận sự đồng hóa và sau đó biến đất nước thành một tỉnh lỵ của Đại Trung Quốc. Ôm chân Trung Quốc có nghĩa là chấp nhận làm đứa con ngoan phục vụ ông cha Hán tộc tham lam và tàn bạo. Ôm chân Trung Quốc có nghĩa là chấp nhận để cho văn hóa và nòi giống bản xứ bị tiêu diệt. Ôm chân Trung Quốc có nghĩa là chấp nhận tiếp tay cho tiến trình “Hán hóa địa cầu, chiếm lĩnh kinh tế, nhất thống Đại Trung Quốc.” Trên tiến trình đó sáu nước VMLMTM cùng với những quốc gia khác đã là nạn nhân, đang là nạn nhân và sẽ tiếp tục là nạn nhân của Trung Quốc.

Và là một hệ quả đương nhiên, nếu tiến trình Hán hóa địa cầu, chiếm lĩnh kinh tế, nhất thống Đại Trung Quốc hoàn tất, ánh dương quang “dân chủ tự do” sẽ biến mất trên mặt địa cầu và từ đó một phần lớn của nhân loại sẽ sống trong bóng tối của sự khống trị tham lam và tàn bạo. Lịch sử minh chứng bóng tối của sự khống trị tham lam và tàn bạo này đã nhiều lần phủ xuống những đất nước tiếp giáp biên giới với Trung Quốc, từ quá khứ xa xưa cho đến cận đại và hiện đại. Những dân tộc tiếp cận với Hán tộc không may đã phải hứng chịu bóng tối của sự khống trị tham lam và tàn bạo này nhiều lần, từ quá khứ xa xưa cho đến cận đại và hiện đại.

Thêm vào đó, nếu để cho Trung Quốc cứ ung dung phát triển kinh tế ở một tốc độ cao thì không bao lâu nữa nguyên liệu và nhiên liệu trên toàn thế giới sẽ bị hút vào nền kinh tế đó với một tốc độ gây khủng hoảng chưa từng thấy và không bao lâu thì trái đất chỉ còn là một địa cầu khô cạn và đầy rác rưởi, đó là chưa nói đến những khủng hoảng giá biểu trên mọi thị trường và những khủng hoảng xã hội tại mọi quốc gia.

Chưa hết, nếu để cho Trung Quốc hưởng thụ ẩm thực một cách vô trách nhiệm thì không bao lâu nữa nhiều chủng loại sinh vật bò, bay, máy, cựa trên mặt đất sẽ biến mất và bào thai người (human foetus) sẽ biến thành những món ăn phổ thông vì nhu cầu và thói ăn uống quái đản của người Tàu.

Chưa hết, nếu để cho Trung Quốc đua nhau mua phụ nữ vừa hưởng thụ tình dục vừa lạm dụng và đầy đọa họ một cách phi nhân tính thì không bao lâu nữa những phụ nữ nhẹ dạ trên mặt đất sẽ bị hút vào kỹ nghệ mai mối “hôn nhân trá hình” và biến thành “nửa gái điếm phục vụ không tiền, nửa nô tì phục vụ không lương” lại còn bị bỏ đói và tra tấn hàng ngày.

Chưa hết, nếu để cho Trung Quốc tiếp tục nuôi dưỡng những căn cứ địa sản xuất ma dược và thu mua một cách thong dong thì không bao lâu nữa khó mà tưởng tượng nổi số người trên thế giới bị nghiện ngập ma túy. Những thứ ma dược này được sản xuất hàng tấn, do đội quân thế lực đen –gồm những tên tướng lãnh độc tài, những lãnh chúa chiến tranh, những lãnh chúa ma dược– đảm trách để dùng đó trao đổi vũ khí Trung Quốc, rồi được dấu trong hàng hóa đóng hộp theo đường mậu dịch xâm nhập vào những quốc gia khác trên thế giới để vừa gây băng hoại xã hội và tiêu hao tài nguyên cho những quốc gia đó, điều mà Trung Quốc gọi là “chiến lược phá hoại tiềm lực đối phương” vừa kiếm được ngoại tệ cho đội quân thế lực đỏ.

Chưa hết, nếu để cho Trung Cộng thao túng thị trường thì không bao lâu nữa khó mà tưởng tượng nổi số người trên thế giới bị nhiễm độc hóa chất hoặc bị nhiễm vi rút cấy trong thực phẩm và đồ dùng hằng ngày nhập cảng từ Trung Quốc, một sự nhiễm độc dần đà do thử nghiệm hoặc do ý đồ chiến lược, một sự nhiễm độc có thể không làm chết người nhưng làm tiêu hao IQ [trí thông minh] hoặc làm mất khả năng thụ thai hoặc làm mất sức đề kháng dịch bệnh của những dân tộc thù nghịch hay chống đối.

Nếu để cho Trung Quốc bành trướng mậu dịch thì không bao lâu nữa, sẵn với đội ngũ chuyển vận hàng hóa ngày càng hùng hậu và mạng lưới thông tin ngày càng tinh vi, khó có thể ước đoán được và ngăn chận được số lượng vũ khí thường và vũ khí sát hại hàng loạt (WMD) lọt vào tay những lực lượng khủng bố (terrorist organizations) hoặc vào tay những lãnh chúa chiến tranh (war lords) và lãnh chúa ma dược (drug lords).

Những hiểm họa vừa nói không nhỏ đối với Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới nếu để cho con rồng đỏ mọc cánh bay lên. Những hiểm họa đó càng dễ sợ hơn đối với sáu dân tộc VMLMTM cho nên nhất định là không thể để cho những hiểm họa đó biến thành thảm trạng đã rồi.

Một sự lựa chọn khôn ngoan và duy nhất để có thể ngăn ngừa thảm họa cho chính mình và cho nhân loại là phải tiếp tay với Hoa Kỳ và đồng minh để bao vây, kềm chế và làm bể Trung Quốc ra nhiều mảnh. Một chiến lược mà những dân tộc Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Miêu đang bị quyền lực Bắc Kinh kềm kẹp sẽ rất biết ơn và đang chờ đợi. Nói tóm lại, nhìn dưới góc độ chiến lược BVKCLBTQ [bao vây, kềm chế, làm bể Trung Quốc], dầu có hay không có vận dụng chiến tranh, VMLMTM vẫn là sáu quốc gia then chốt nằm trong vòng đai bao vây tiếp cận.

Nhu Cầu Cho Sự Hình Thành Một LBĐNAC
Để thực sự đạt hiệu quả cho chiến lược BVKCLBTQ [bao vây, kềm chế, làm bể Trung Quốc], sáu quốc gia VMLMTM [Việt, Miên, Lào, Mã, Thái, Miến] phải trở thành một khối có đủ thực lực trấn giữ góc Đông Nam Á Châu. Khối này không thể chỉ là một tập hợp đa quốc gia đồng ý tham dự trên nguyên tắc rồi tiếp tục duy trì sự hoạt động cục bộ, chưa nói tới những xung đột có thể xảy ra giữa những thành viên trong khối. Nói một cách khác, tập hợp VMLMTM phải trở thành một thực thể có sức mạnh kinh tế, ngoại giao, quân sự và sức mạnh này phải lớn hơn gấp nhiều lần sức mạnh đến từ sự cộng hợp dưới một hình thái liên minh vá víu lỏng lẻo. Một sức mạnh như vậy chỉ có thể thoát thai từ một kết hợp thực sự và trọn vẹn.

Do nhu cầu này, hình thành một Liên Bang Đông Nam Á Châu (LBĐNAC) là một giải pháp đúng đắn nhất và cho lợi ích dài hạn chắc chắn nhất. Một giải pháp không những đóng góp vào việc gia tăng hiệu quả của chiến lược bao vây, kềm chế và làm bể Trung Quốc ra nhiều mảnh mà còn: (a) đóng góp vào sự ổn định của toàn vùng, vì tự động hóa giải được những xung đột cục bộ và vì không còn đất cho những hoạt động khủng bố và sản xuất ma dược; (b) đóng góp vào sự phồn thịnh kinh tế của toàn vùng, một thành tựu tất yếu đẻ ra từ chiến lược bao vây và làm bể Trung Quốc; và (c) đóng góp vào hiệu quả phòng thủ của toàn vùng Đông Nam Á Châu, nhất là gìn giữ an ninh cho hành lang Biển Đông, Malacca Strait, Singapore Strait, vịnh Thái Lan và mạn Đông của vịnh Bengal.

Để có một sự cảm nhận sâu sắc hơn về nhu cầu thành lập một LBĐNAC và vai trò cực kỳ quan trọng của nó đối với vùng Đông Nam Á Châu cũng như đối với sự mất còn của sáu nước VMLMTM trong tương lai, thiết tưởng chúng ta không thể bỏ qua cơ hội kiểm nghiệm lại những bằng chứng cho thấy sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế và sức mạnh dân số hậu thuẩn cho sự đe dọa của Trung Quốc, chưa nói tới sức mạnh của những đạo quân trong bóng tối.

A. Sức Mạnh Quân Sự Của Trung Cộng
Sức mạnh quân sự của Trung Quốc là đe dọa thực sự và trường kỳ cho vùng Đông Nam Á Châu và cho cả thế giới trong tương lai. Một cuộc tấn tông bất ngờ với sức mạnh vũ bão làm tê liệt sự phản kháng của đối phương và không cho lực lượng bên ngoài đủ thời giờ can thiệp có thể xảy ra và có thể xảy ra bất cứ lúc nào, với mục đích chiếm cứ lãnh thổ trong vùng, chẳng hạn như nuốt ba nước VML hoặc nuốt những quần đảo dọc biển Đông xuống tận Nam Dương, và đồng thời lập một định vị “ta là chủ nhân ông của vùng Á Châu này và không ai có thể chống” để từ đó ép mọi quốc gia trong vùng phải “đá” Hoa Kỳ ra khỏi danh sách quan hệ thân thiết và tuyệt đối thần phục Trung Quốc. Và Trung Cộng có khả năng thực hiện với 4 chiều lực: (a) sức mạnh trên biển; (b) sức mạnh trên mặt đất; (c) sức mạnh trên không; (d) sức mạnh nguyên tử, phi đạn và vũ khí sinh hóa.

Sức Mạnh Trên Biển – Lực lượng hải quân Trung Cộng bao gồm (a) một bộ Tổng Hành Dinh Hải Quân đóng tại Beijing; (b) ba hạm đội trong đó hạm đội Bắc Hải[1] đặt bản doanh tại Quindao tỉnh Shandong, hạm đội Đông Hải[2] đặt bản doanh tại Shanghai và hạm đội Nam Hải[3] đặt bản doanh tại Zhanjiang tỉnh Guangdong; (c) với 350000 quân trong đó không lực của hải quân (Naval Air Force) chiếm 34000 quân, những lực lượng phòng vệ duyên hải (Coastal Defense Forces) chiếm 38000 quân và lực lượng lính biển đánh trên đất (Marine Corps) chiếm 56500 quân. Được trang bị với (a) 72 tàu lặn[4] đủ loại trong đó có 6 tàu lặn nguyên tử; (b) 808 tàu chiến[5] đủ loại; và (c) 497 máy bay[6] đủ loại. Với một mạng lưới gồm (a) 47 căn cứ[7] lớn nhỏ (b) 26 không trạm của hải quân; và (c) 26 xưởng đóng tàu[8] công và tư. Thêm vào đó một lực lượng thương thuyền gồm 1649 chiếc có tải trọng trên một ngàn tấn (GRT) với trọng tải tổng hợp là 18724663 tấn (GRT) có thể trưng dụng vào chiến tranh.

Trung Cộng chỉ định hai hạm đội Đông Hải và Nam Hải là lực lượng di động đối phó biến cố (Emergency Mobile Force) vì tin rằng biển Nam Hải và Đông Hải là hai nơi có nhiều triển vọng đụng trận. Sĩ quan của Trung Quốc đề nghị là quân đội của họ cần phải mở rộng sức mạnh quân sự ra tới Taiwan, Ryukyus, Phillipines, Borneo, Marianas, Guam và Carolines nhằm bảo vệ bờ biển của Trung Quốc. Theo như Liu Huaquing, tới năm 2000 là Trung Cộng đã đủ mạnh để khống chế chuỗi hải đảo thứ nhất (first island chain), tức là thao túng trọn vẹn vùng biển Nam Hải; tới năm 2020 Trung Cộng sẽ thành lập sức mạnh khống chế ra tới chuỗi hải đảo thứ nhì (second island chain), tức là ra tới vùng biển Timor và biển Phillipine sau lưng Nam Dương và Phi Luật Tân; đến năm 2050 Trung Cộng sẽ trở thành một lực lượng hải quân có sức mạnh trên toàn cầu (global naval power).

Trong năm 2000, hải quân Trung Cộng đã hai lần biểu dương khả năng trên biển, đến tận Nam Phi và biên giới phía Tây Hoa Kỳ. Trong năm 2001, hải quân Trung Cộng một lần nữa biểu dương khả năng tại Ấn Độ và Pakistan. Đúng như Zhao Nangqui, giám đốc Trường Khoa Học Quân Sự Trung Quốc, đã nói: chúng ta không để cho Ấn Độ Dương là đại dương của Ấn Độ. Trong năm 2003, Trung Cộng công bố cho thế giới biết một tàu tiêu diệt (a destroyer) được trang bị hệ thống phóng hỏa tiễn được gọi là “magic shield of China” phỏng theo “Aegis combat system” của Hoa Kỳ. Mới đây Trung Cộng mua của Liên Xô hai chiếc tàu tiêu diệt Sovremenny DD trang bị 8 hỏa tiễn supersonic SS-N-22. Thêm hai chiếc Sovremenny sẽ được giao trong năm 2005 và 8 chiếc tàu lặn Kilo đã lên đơn đặt hàng. Những sự kiện này cho thấy, hải quân Trung Cộng đang trên đà ráo riết hiện đại hóa để phục vụ hữu hiệu hơn nữa cho tham vọng của Trung Quốc.

Sức Mạnh Trên Bầu Trời – Không lực (air force) và không vệ (air defense) của Trung Cộng có tất cả là 370,000 quân được tổ chức thành 7 quân đoàn[9] không lực (military region air force) bao gồm: (a) 42 sư đoàn[10] không lực (air divisions) trong đó có 4 sư đoàn máy bay đám bom (bomber divisions), 30 sư đoàn máy bay chiến đấu (fighter divisions), 6 sư đoàn máy bay tấn công (attack divisions), 2 sư đoàn máy bay vận chuyển (transport divisions); (b) 17 sư đoàn không vệ (air defense divisions) với 220000 quân; (c) 3 sư đoàn dù (airborne divisions) với 20000 quân; (d) 22 trung đoàn ra đa biệt lập (independent regiments); và (e) 600 tiểu đoàn hỏa tiễn không vệ (air defense missile battalions). Không lực được trang bị với 2902 máy bay[11] quân sự đủ loại. Không vệ được trang bị với 16000 khẩu súng phòng không, 100 hỏa tiễn địa-đối-không (SAM/ surface-to-air missiles) và nhiều loại hỏa tiễn[12] không vệ khác. Kèm theo đó là 500 không cảng[13] (airports)/ không cứ (airbases) lớn nhỏ, trong đó có khoảng 160 không cảng dân sự[14], và hơn 627 máy bay dân sự[15] có trọng tải trên 70 ghế có thể được vận dụng vào chiến tranh.

Dầu rằng không lực của Trung Cộng vẫn chưa hoàn chỉnh nhưng chỉ với một số lượng khổng lồ và sự yếu kém không lực và không vệ của những quốc gia kém phát triển trong vùng thì sức mạnh trên không của Trung Cộng là một đe dọa khó có thể đối đầu. Để trám vào chỗ yếu kém, Trung Cộng mua của Liên Xô những máy bay tối tân hơn. Hiện giờ Trung Cộng có 128 chiếc SU-27 và SU-30. Thêm vào đó là Trung Cộng đang tích cực đầu tư vào những chương trình không gian. Ngày 15 tháng 5 năm 2002, Trung Cộng đã phóng một vệ tinh thu lượm tin tức trên đại dương. Bắc Kinh cũng tuyên bố là sẽ phóng thêm nhiều vệ tinh nữa để thiết lập một hệ thống quan sát đại dương cho Trung Quốc, dự trù sẽ hoàn tất vào năm 2010. Người ta khó có thể không đặt nhiều câu hỏi về ý đồ của Trung Quốc.

Sức Mạnh Trên Mặt Đất – Lục quân Trung Cộng gồm có 1700000 quân được tổ chức thành 7 quân khu (military regions), 21 quân đoàn (group armies) cộng 27 đặc khu quân sự (military district), với 81 sư đoàn và 106 trung đoàn/chiến đoàn thiết giáp, pháo binh, phòng không, ra đa, hỏa tiễn, công binh, máy bay, lực lượng đặc biệt, lực lượng dù, vân vân. Được trang bị ( a) 7010 xe tăng đủ loại; (b) 6000 xe thiết vận đủ loại; (c) 1200 khẩu pháo đặt trên xe di động (self-propelled artillery); (d) 13300 khẩu pháo kéo (towed artillery); (e) 2200 dàn tên lửa (artillery rockets/rocket launchers); (f) 5000 khẩu phòng không (anti-aircraft artillery); (g) 300 giàn hỏa tiễn đất-đối-đất (tactical surface-to-surface missles); (h) 300 súng chống xe tăng (anti-tank guns); (i) 6500 hỏa tiễn chống xe tăng (guided anti-tank missles); (j) 269 chiếc trực thăng và một số máy bay thám thính không người lái loại Chang Hong CH-1. Thêm vào đó là 162 căn cứ lớn nhỏ, trong đó có 21 bản doanh chỉ huy của 21 quân đoàn.

Đầu thập niên 1980 Quân Ủy Trung Ương ra lệnh thành lập Lực Lượng Phản Ứng Nhanh (Rapid Reaction Force/ RRF), phỏng theo lực lượng RDF (Rapid Deployment Force) của Hoa Kỳ thành lập dưới thời Jimmy Carter, trang bị với kỹ năng cao và vũ khí tối tân, để vận dụng vào những cuộc hành quân giới hạn nhưng với cường độ mạnh (small-scale, intensive military operation) nhằm ngăn chận hoặc dành chiến thắng trong những tranh chấp cấp vùng. Năm 1992 một lực lượng đặc biệt được hình thành, có tên là Lực Lượng Di Động Chiến Đấu Vãn Hồi An Ninh (Resolving Emergency Mobile Combat Force), với quân số 300000 và trực thuộc Quân Ủy Trung Ương, sử dụng vào công tác bảo vệ biên giới hoặc dẹp nội loạn hoặc cứu cấp thiên tai. Đánh giá tổng quát, dầu lục quân của Trung Cộng không phải là đội quân chuyên nghiệp hoặc được trang bị với vũ khí tối tân nhất thế giới như là tinh binh của những quốc gia siêu cường, đội quân đông nhất thế giới này dư sức tràn ngập những quốc gia kém phát triển chung quanh với “biển người” của họ.

Sức Mạnh Phi Đạn, Nguyên Tử, Hóa Học & Sinh Học – Theo báo cáo của NRDC (Natural Resource Defense Council) Trung Quốc hiện đang có khoảng 400 đầu đạn nguyên tử. Khoảng 250 đầu đạn nguyên tử thuộc vũ khí chiến lược (strategic weapon) được phân bố theo 3 chiều tham chiến: phóng từ dưới đất (land-based missiles), phóng từ dưới biển (submarine-launched ballistic missiles) và phóng từ trên không[16] bằng phi cơ (bombers). Trong số 250 này có 18-26 được lấp vào hỏa tiễn có tầm phóng xa hơn 11931 km, 100 được lấp vào hỏa tiễn hoặc lấp vào máy bay đánh bom có tầm từ 1800 km cho tới 4750 km, 12 được lấp vào hỏa tiễn của những tàu lặn nguyên tử. Và khoảng 150 đầu đạn nguyên tử thuộc loại vũ khí chiến thuật (tactical weapons) dưới dạng đầu đạn nguyên tử lấp vào hỏa tiễn tầm ngắn (short range nuclear missiles), đầu đạn nguyên tử lấp vào đạn pháo (nuclear artillery shells), đầu đạn nguyên tử lấp vào tên lửa (nuclear-tipped rockets) hoặc bom nguyên tử hạng nhẹ (low-yield bombs). Ngoài ra Trung Cộng còn có thủy lôi nguyên tử (nuclear torpedos) và mìn nguyên tử (nuclear demolition mines).

Khó có thể biết chắc được số lượng vũ khí nguyên tử hiện đang có trong tay Trung Cộng vì hầu hết những báo cáo khó có thể kiểm nghiệm. Nhưng một điều chắc chắn là Trung Cộng đang trên đà hiện đại hóa chương trình hỏa tiễn và chương trình nguyên tử của nó. Chương trình hỏa tiễn của Trung Cộng thành hình từ đầu thập niên 1960 với thế hệ hỏa tiễn đầu tiên DF-3 phỏng theo sáng chế của Liên Xô và đã tiếp tục cải tiến loại vũ khí chiến lược này song song với việc hiện đại hóa những vũ khí chiến lược khác. Hỏa tiễn liên lục địa đời mới, DF-31 ICBMs phóng từ mặt đất với tầm trên 8000 km, đang được chế tạo, đã phóng thử vào tháng 9/1999 nhưng chưa thành công lúc đó, và DF-41 ICBMs đã lên kế hoạch, nhưng hình như đã bị đình chỉ để theo đuổi một loại hỏa tiễn khác hay hơn. Theo ước tính của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ thì Trung Quốc có khả năng sản xuất 10-12 đầu đạn ICBMs một năm và tới năm 2010 có thể cài đặt thêm được 1000 hỏa tiễn tầm ngắn mà không cần đầu tư nhiều lắm.

Tướng Yang Huan chủ trương Trung Cộng nên nghiên cứu để sản xuất vũ khí nguyên tử “xài được trong chiến trận” và Tướng Wu Jiangguo cũng nói là Trung Cộng “tìm thấy sự hữu ích của vũ khí nguyên tử trong những cuộc chiến địa phương” (local wars). Tướng Wu còn nhấn mạnh là quân đội Trung Quốc không thể đạt tới những mục đích của nó chỉ bằng phương tiện tâm lý [ý nói dùng hỏa tiễn nguyên tử để hù dọa đối phương] mà phải thắng ở chiến trường [ý nói là phải sử dụng để tiêu diệt đối phương] và ông ta bài bát ý nghĩ “sử dụng vũ khí nguyên tử trong chiến trận là điều kiêng kỵ” (inherently taboo).

Có thể nói, dầu rằng hỏa tiễn và đầu đạn nguyên tử của Trung Cộng chưa thể sánh được với vũ khí của Hoa Kỳ và của những siêu cường khác về lượng cũng như phẩm, nhưng chỉ với số lượng Trung Cộng hiện có cộng với binh thuyết cường tập đối phương bằng vũ khí nguyên tử ẩn chứa trong cách nói “chế tạo vũ khí nguyên tử thực dụng nơi chiến trường cho những cuộc chiến tranh địa phương” của Tướng Yang và Tướng Wu đã đủ làm “xuất mồ hôi hạn” những quốc gia tiếp giáp biên giới với Trung Quốc cũng như những quốc gia kém phát triển nằm xa hơn nhưng vẫn trong tầm sát hại của vũ khí Trung Cộng.

Thêm vào đó, Trung Cộng có một chương trình chiến tranh hóa chất tiên tiến (advanced chemical warfare program). Trung Cộng đang có đầy đủ khả năng nghiên cứu, sản xuất và vũ khí hóa (R&D, production and weaponization capabilities).

Quân đội Trung Quốc thông thạo về học thuyết chiến tranh hóa chất (chemical warfare doctrine) và đã từng nghiên cứu về học thuyết chiến tranh hóa chất của Liên Xô. Trung Cộng đang có trong tay tất cả những thứ hóa chất truyền thống (full range of traditional agents) và đang tiếp tục nghiên cứu thêm những loại hóa chất còn trong vòng bí mật (advanced agents).

Trung Cộng có rất nhiều loại hệ thống phóng vũ khí hóa chất bao gồm phóng bằng tên lửa (rockets), bằng ống pháo (tube artillery), bằng súng cối (motars), bằng bom bay (aerial bombs), bằng mìn chôn dưới đất (landmines), bằng vòi phun (sprayers) hoặc bằng hỏa tiễn tầm ngắn (SRBMs).

Chưa hết, Trung Cộng cũng duy trì một chương trình chiến tranh sinh thể chủ đích cường tập đối phương (offensive biological warfare program). Trung Cộng đang có trong tay cấu trúc nền tảng của kỹ thuật sinh học tiên tiến (advanced biotechnology infrastructure) và những căn cứ cách ly sinh thể (biocontainments) để nghiên cứu những sinh thể độc hại (lethal pathogens).

Nói tóm lại, sự gia tăng nhanh chóng sức mạnh quân sự của Trung Quốc là một đe dọa có thực và là một đe dọa trường kỳ cho toàn vùng. Chỉ trong năm 2004, ngân sách quân sự của Trung Quốc đã lên đến 67.49 tỉ USD hay là 4.3% của tổng lượng kinh tế. Nâng cấp hoặc hiện đại hóa lực lượng quân sự không nhất thiết là một đe dọa đối với hàng xóm nhưng mất quân bình trên cán cân quân sự giữa những quốc gia trong vùng thì đúng là một đe đọa. Cán cân vốn dĩ đã nghiêng về phía Trung Quốc bây giờ lại càng nghiêng nhiều hơn và nhanh hơn. Và với tham vọng trường kỳ cộng với thái độ sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự của Trung Quốc, những quốc gia nhỏ yếu chung quanh bắt buộc phải lo sợ.

B. Sức Mạnh Kinh Tế Của Trung Quốc
Sức mạnh kinh tế của Trung Quốc là một vấn nạn cho toàn vùng Đông Nam Á Châu và cho toàn thế giới.

Kể từ khi TT Richard Nixon lập cầu ngoại giao để Hoa Kỳ nói chuyện với Trung Cộng vào năm 1971 theo chính sách gọi là “strategic engagement” thì nền kinh tế của Trung Quốc theo đó đã chuyển hướng vào năm 1978, dưới thời kỳ của Đặng Tiểu Bình, và tiến một bước thật dài. Là một quốc gia trong nhóm lạc hậu nhất thế giới trở thành là một quốc gia có một nền kinh tế lớn đứng thứ nhì sau nền kinh tế Hoa Kỳ. Tính vào năm 2001, tổng lượng kinh tế của Trung Quốc đã phình lên đến 5,700 tỉ ID, GDP tính theo PPP, hay là gấp bốn lần nền kinh tế của Trung Quốc vào năm 1978. Và, ước tính của năm 2004, tổng lượng kinh tế của Trung Quốc đã lên đến 7262 tỉ ID.

Sách lược “engagement” hình thành trên nền tảng “hy vọng là” thúc đẩy Trung Quốc mở cửa tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Mở cửa tiếp xúc với bên ngoài sẽ nhanh chóng giúp Trung Quốc đạt sự phồn thịnh kinh tế. Một Trung Quốc phồn thịnh kinh tế sẽ tiến tới việc dân chủ hóa guồng máy chính trị và sẽ trở nên hiền hòa hơn đối với lân bang và thế giới. Suốt ba thập niên, thế giới đã không ngừng khuyến khích và giúp đỡ để Trung Quốc phát triển. Hoa Kỳ cũng nhiều lần nhượng bộ và ngầm thưởng thí cho Trung Quốc không ít vì sách lược và kỳ vọng này.

Dự trù của sách lược đã đúng một phần: kinh tế của Trung Quốc quả thực tăng trưởng một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, dự trù của sách lược đã sai ở một mặt quan trọng: một Trung Quốc giàu có không muốn dân chủ hóa và cũng không hiền hòa hơn. Và, đó chính là nguồn gốc của mọi vấn nạn liên hệ tới nền kinh tế phồn thịnh của Trung Quốc.

Tài Trợ Cho Những Chương Trình Chiến Lược – Từ những sự kiện gây sụp đổ của đế quốc Liên Xô, Trung Cộng rút ra được một bài học quí giá là theo đuổi sức mạnh quân sự không có sự hỗ trợ của thực lực kinh tế là một theo đuổi sẽ dẫn đến chỗ kiệt quệ và tan rã. Và từ tên đàn em Bắc Hàn, Trung Cộng cũng rút ra một bài học quí giá khác là nếu chỉ có sức mạnh quân sự cộng với thái độ côn đồ thì chỉ dẫn đến sự cô lập và nghèo đói.

Từ những bài học chiến lược này Trung Quốc thay đổi hẳn: ngoài mặt hòa hoãn với Hoa Kỳ và những cường quốc để có đủ thời gian xây dựng nội lực kinh tế nhưng một mặt khác âm thầm xúc tiến những kế hoạch thôn tính dài hạn nhưng luôn luôn ngụy trang bằng những mặt nạ “hợp lý và đầy thiện chí,” thứ mặt nạ mà chuyên gia và lý thuyết gia phương Tây nhẹ dạ đã “gọt đẽo vẽ vời” và Trung Quốc nương theo đó mang lên mặt để ngụy trang gạt gẫm thế giới. Phát triển kinh tế trở thành là chiến lược số một.

Rồi Trung quốc đã dùng sự giàu có của nền kinh tế mới để (a) tài trợ cho những chương trình phát triển vũ khí chiến lược như là chế tạo hỏa tiễn, chế tạo bom nguyên tử và phi đạn nguyên tử, chế tạo tàu lặn, chế tạo chiến hạm, chế tạo máy bay, chế tạo vệ tinh và phi thuyền không gian; (b) tài trợ cho những chương trình hiện đại hóa lực lượng vũ trang nhanh chóng gia tăng sức mạnh trên mặt biển, trên không trung và trên mặt đất; (c) tài trợ cho những mạng lưới tình báo chiến lược gia tăng hiệu năng cài đặt thu lượm tin tức tình báo hải ngoại và gia tăng hiệu năng đánh cắp tài liệu kinh tế, quân sự, ngoại giao và vân vân; (d) tài trợ cho những chương trình hoạt động lũng đoạn chính trị và xã hội trên đất nước Hoa Kỳ và các quốc gia đối đầu hoặc gây trở ngại cho Trung Quốc; (e) tài trợ cho những công ty Trung Quốc để cạnh tranh và để phá hoại sự ổn định kinh tế của nước khác; (f) tài trợ cho những chương trình xây dựng hệ thống vận chuyển của những quốc gia chư hầu nằm trong vùng Đông Nam Á Châu, những chương trình vừa giúp cho Trung Quốc ngay trước mắt là đổ hàng hóa vào các quốc gia này nhanh hơn lại vừa giúp cho Trung Quốc sau này chuyển quân tiến chiếm lãnh thổ dễ dàng hơn.

Cái gọi là “hợp tác kinh tế” của Trung Cộng với những nước khác không bao giờ đi rời với ba chữ “và quân sự.” Sau lưng những biểu lộ thiện chí kinh tế, một thứ mặt nạ quyến rũ đối với những chuyên gia và lý thuyết gia nhẹ dạ Tây Phương, là những âm mưu chuẩn bị thôn tính bằng vũ lực.

Những cánh tay mực tuột của Trung Quốc không thể mọc dài ra và thọc sâu vào lãnh thổ của nước khác nếu Trung Quốc vẫn là một quốc gia nghèo đói lẹt đẹt hoặc tỏ thái độ côn đồ sống sượng. Do đó Trung Cộng phải trá ngụy để tiến tới mục tiêu. Nhờ sức mạnh kinh tế mà “lộ đồ Hán hóa địa cầu, chiếm lĩnh kinh tế, nhất thống Đại Trung Quốc” đã tiến triển mạnh hơn. Nói một cách khác, Trung Quốc chưa bao giờ rời bỏ tham vọng, chỉ thay đổi chiến lược thực hiện tham vọng của họ.

Làm Khan Hiếm Nguyên Vật Liệu Và Gây Những Cơn Sốt Giá Biểu – Sự lớn mạnh của nền kinh tế Trung Quốc đã, đang và sẽ thu hút một số lượng vật liệu và nhiên liệu khổng lồ trong tương lai.

Dự đoán là trước năm 2015 nền kinh tế Trung Quốc mỗi ngày sẽ cần tiêu thụ một số năng lượng lên đến 2,067 Mtoe (millions tons of oil equivalence), tức là tương đương với 14,933 triệu thùng dầu thô mỗi ngày. Mức tiêu thụ năng lượng năm 1994 đã tăng gấp hai lần mức tiêu thụ năm 1979, tức là tăng gấp đôi trong vòng 15 năm. Mức tiêu thụ năm 2006 dự đoán sẽ gấp hai lần mức tiêu thụ năm 1994, tức là tăng gấp đôi trong vòng 12 năm. Cứ nhìn số lượng khổng lồ và tốc độ gia tăng, người ta có thể hình dung ra nền kinh tế Trung Quốc sẽ hút những vật liệu khác như thế nào. Giá biểu leo thang vì khan hiếm và những cơn sốt giá biểu trong tương lai là điều không thể tránh. Những quốc gia kém phát triển bị điêu đứng là điều chắc chắn và những quốc gia có tầm vóc cũng không tránh khỏi liên lụy.

Dẫn Đến Nguy Cơ Chiến Tranh Giành Quyền Khai Thác – Sự khan hiếm càng ngày càng trầm trọng của nhiên liệu và nguyên liệu sẽ có nguy cơ dẫn tới những xung đột vũ lực nhằm dành quyền khai thác. Dầu hỏa, khí đốt, gỗ rừng, khoáng sản, nguồn nước, và những thứ vật liệu khác sẽ trở nên quan trọng hơn và thiết thực hơn những triết thuyết mang tính cách giáo điều.

Và một quốc gia như Trung Quốc, vốn dĩ luôn luôn có thái độ sẵn sàng sử dụng vũ lực, vốn dĩ có “tham vọng Hán hóa địa cầu, chiếm lĩnh kinh tế, nhất thống Đại Trung Quốc,” vốn dĩ “quen vận dụng sách lược lũng đoạn chính trị, đánh phá kinh tế, thôn tính văn hóa và lấn chiếm lãnh thổ,” vốn dĩ “giỏi xài những thủ đoạn ném đá dấu tay, mượn dao giết người, miệng cười tay đâm” sẽ không ngần ngại tận dụng mọi phương tiện kể cả vũ lực để (a) nắm lấy những nguồn tiếp liệu và nắm lấy những con đường tiếp liệu phục vụ cho nhu cầu của Trung Quốc và (b) bóp nghẽn những nguồn tiếp liệu và những con đường tiếp liệu phục vụ cho nhu cầu của những quốc gia mà Trung Quốc muốn khống chế.

Riêng tại vùng Đông Nam Á Châu, từ biển Nam Hải kéo dài tới Malacca Strait, hiện tại mỗi năm có trên một trăm ngàn thương thuyền lớn đi ngang qua. Số lượng thương thuyền này ba lần nhiều hơn số lượng thương thuyền đi ngang qua kinh Suez và năm lần nhiều hơn số lượng đi ngang qua kinh Panama. Và mỗi ngày có trên ba triệu thùng dầu được vận chuyển ngang qua. Có đến 80% dầu nhập cảng cho Nhật, Nam Hàn, Đài Loan đi ngang qua. Dự đoán là tới năm 2020 nhu cầu dầu của các nước Á Châu sẽ lên đến 25 triệu thùng một ngày và hầu hết số lượng dầu nhập cảng từ Trung Đông và Phi Châu sẽ được vận chuyển ngang qua. Hành lang vận chuyển này của Đông Nam Á Châu tính ở chỗ hẹp nhất, kinh Phillip tại Singapore Strait, có chiều rộng chưa tới 2.4 km. Với vị thế chiến lược vô cùng quan trọng của hành lang vận chuyển này, liệu Trung Cộng có thể bỏ qua? Mặc dù Trung Cộng gia nhập APEC-WG, ký IMO với 51 quốc gia khác và hứa hẹn sẽ tôn trọng những hiệp ước nhưng liệu có thể tin vào “lòng thành của con cáo giữ cửa chuồng gà”?

Cạnh Tranh Bất Chính – Với chính sách kềm giá nhân dân tệ; với chính sách tài trợ để phát triển những kỹ nghệ mũi nhọn chiến lược trong thời gian ngắn nhất; với chính sách đánh thuế nhập cảng cao và cho vào số lượng ít; với chính sách tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho những công ty sản xuất hàng hóa xuất khẩu và những công ty xuất khẩu; với chính sách cho xuất khẩu nhỏ giọt những sản phẩm có nhu cầu cao tại ngoại quốc vừa để nâng giá bán của hàng xuất cảng vừa làm cho giá thành của sản phẩm ngoại quốc cao hơn; với chính sách liên tục thiết lập thêm nhà máy sản xuất bất chấp sự thiết yếu của duy trì quân bình cung cầu; với chính sách nghiên cứu và áp dụng những khám phá sinh học, hóa học, di tính học vào thương mãi một cách vô trách nhiệm bất kể hậu quả; với những hoạt động tình báo kinh tế đánh cắp công trình nghiên cứu sản phẩm; với tình trạng ăn cắp bản quyền lan tràn; với giá lao động rẻ mạt, hoặc không cần trả tiền vì dùng tù nhân sản xuất; với những hoạt động chế tạo sản phẩm giả hiệu rồi đem dội vào thị trường của các quốc gia khác . . . với đủ mọi góc độ và tầng độ cạnh tranh bất chính Trung Cộng đã chiếm thượng phong trên hầu hết thị trường thế giới.

Những quốc gia lớn như Hoa Kỳ và Canada cũng bị khốn khổ không ít vì sự cạnh tranh bất chính của Trung Quốc thì những quốc gia kém phát triển như sáu quốc gia VMLMTM làm sao không điêu đứng?

Chưa hết, Trung Quốc còn mượn tay đội quân thứ năm để đẩy hàng hóa Tàu xâm nhập vào thị trường của các quốc gia trên khắp thế giới và đồng thời mượn tay đội quân này đánh phá kinh tế và làm lũng đoạn chính trị của những quốc gia họ đang cư trú. Một khi Trung Quốc đã có dã tâm và đã từng thực hiện âm mưu lũng đoạn chính trị Hoa Kỳ thì không có một quốc gia nào khác Trung Quốc không dám thực hiện.

Gây Khủng Hoảng Tài Chính – Với sự phồn thịnh kinh tế Trung Quốc đã có dư tiền để đầu tư vào hệ thống tài chính của những quốc gia khác, nhất là tiền của đảng Cộng Sản Trung Quốc hái từ cánh tay kinh tế đảng. Với một số lượng lớn đầu tư, Trung Quốc có thể rút ra đột ngột và gây nên những cơn chấn động tài chính đưa đến khủng hoảng cho toàn vùng hoặc cho toàn thế giới. Và sau đó, với lợi thế của kẻ chủ động tình hình, Trung Cộng có thể tung tiền ngốn lấy tài nguyên và chủ quyền của những quốc gia bị thương tổn nặng vì thiếu phòng bị. Tuy hiện nay Trung Quốc chưa thực hiện dạng hình chiến tranh này ở tầm cỡ rộng lớn, nhưng trong tương lai ai có thể cấm Trung Quốc thực hiện?

Lợi Dụng Mậu Dịch Để Đánh Phá – Trung Quốc cũng tích cực lợi dụng con đường mậu dịch, mượn tay đạo quân thứ năm và những đạo quân khác – đạo quân thế lực đen (mafia), đạo quân thế lực đỏ (mafia đỏ), đạo quân trong bóng tối (tình báo) – để đưa vũ khí, tin liệu chế tạo vũ khí WMD, tiền giả, ma dược, hóa chất độc hại và vi rút đánh phá những quốc gia khác, cái gọi là “chiến lược tiêu hao tiềm năng đối phương.”

Hiện giờ Trung Cộng chỉ mới “thực hiện hạn chế” chiến lược này. Ai cấm Trung Cộng thực hiện ở một tầm cỡ rộng lớn hơn và thực hiện trên đất Bắc Mỹ Châu?

Mua Chuộc Những Quốc Gia Độc Tài Để Chống Lại Tiến Trình Dân Chủ Hóa – Trung Quốc đã giàu có hơn cho nên đã có thể tung tiền mua chuộc những quốc gia độc tài, đúng hơn phải nói là mua chuộc những chế độ phi dân chủ, để chống lại tiến trình dân chủ hóa của nhân loại.

Tóm lại, nhờ vào sức mạnh kinh tế Trung Cộng không những đã nuôi dưỡng bộ máy vũ lực cho lớn mạnh hơn mà còn nương vào sức mạnh kinh tế của mình để thực hiện chiến tranh dưới mọi hình thức -chiến tranh kinh tế, chiến tranh tài chính, chiến tranh phá hoại tiềm năng để làm tiêu hao nội lực của những quốc gia khác, vân vân–. Những dạng chiến tranh này mới chính là ý nghĩa thật sự của cái gọi là “unrestricted warfare” mà hai tên đại tá hồng quân đã hé cho thấy một ít sự thật những gì Trung Cộng đã làm và đang làm. Như vậy, có thể nói sức mạnh kinh tế của Trung Quốc là một vấn nạn lớn và là một vấn nạn trường kỳ cho những quốc gia trong vùng và cho toàn thế giới.

C. Sức Mạnh Dân Số Của Trung Quốc

Với hơn 1.3 tỉ người trong số 6.3 tỉ trên mặt địa cầu cộng với 60 triệu người trong đạo quân thứ năm, khối dân số của Trung Quốc quả là một tiềm lực cực lớn. Và không may, cũng chính khối dân số này là một đe dọa thực sự và trường kỳ cho vùng Đông Nam Á Châu và cho toàn thế giới. Đe dọa vì: (a) khối dân số này có thể túa ra như đàn ong vỡ tổ để tràn ngập những lãnh thổ lân cận, nhất là góc Đông Nam Á Châu xuống tới Nam Dương và Úc Châu; (b) khối dân số này đe dọa Hán hóa những dân tộc khác bất cứ nơi nào họ tới định cư; (c) với sự phồn thịnh kinh tế, khối dân số này bắt đầu hưởng thụ nhiều hơn và sự hưởng thụ vô trách nhiệm của họ dẫn tới tình trạng môi sinh tại những nước khác bị họ gián tiếp phá hủy và giá trị xã hội của những nước khác bị họ làm cho băng hoại.

LBĐNAC: Một Thực Thể Đối Kháng Nằm Trong Chiến Lược BVKCLBTQ

Dựa trên những dữ liệu vừa trình bày, nhìn trên tổng thể, cái mà Trung Cộng thực sự đang tiến hành là (a) một mặt nâng chiến lược kinh tế lên hàng đầu và tận lực phát triển nền kinh tế Trung Quốc để gom tụ nội lực kinh tế cho thật lớn mạnh và (b) một mặt khác triển khai sách lược trá ngụy (deception strategy) để từng bước thực hiện lộ đồ tham vọng. Đến một lúc nào đó, khi mà Trung Quốc đã đạt đến cao điểm của sức mạnh về mọi mặt thì “lộ đồ Hán hóa địa cầu, chiếm lĩnh kinh tế, nhất thống Đại Trung Quốc” có thể thực hiện một cách thong dong.

Sức mạnh trên không, sức mạnh trên biển và sức mạnh trên đất chỉ là ba chiều lực chiến lược của sức mạnh vũ lực Trung Quốc. Còn sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự và sức mạnh dân số mới là ba chiều lực của lộ đồ “Hán hóa địa cầu, chiếm lĩnh kinh tế, nhất thống Đại Trung Quốc.”

Chuyên gia và lý thuyết gia phương Tây nhẹ dạ có thể tìm đủ bằng chứng, và dễ tin vào những điều Trung Quốc muốn cho họ thấy, để nói tốt cho “cái thiện chí” của Trung Quốc. Nhưng sáu quốc gia VMLMTM phải sống với thực tế cận kề: (a) Trung Quốc là một tên khổng lồ nhiều tham lam, thâm độc và nguy hiểm và (b) “chính sách không thành văn” mới thể hiện thực sự ý đồ của Trung Quốc.

Những ý đồ đen tối thực hiện sau lưng những “chính sách thành văn” không dễ có bằng chứng để cho những chuyên gia và lý thuyết gia nhẹ dạ phương Tây nắm lấy mà phân tích. Không ai biết những sự thật này rõ hơn những dân tộc Á Châu. Đúng như Murat Auezov, cựu đại sứ Kazakh tại Trung Quốc, đã nói “Tôi biết tập quán của dân Tàu. Chúng ta không nên tin bất cứ một điều gì nơi cửa miệng của những chính trị gia Trung Quốc. Như là một nhà sử học, tôi có thể nói là Trung Quốc của thế kỷ 19, Trung Quốc của thế kỷ thứ 20, và Trung Quốc của thế kỷ thứ 21 không giống nhau. Nhưng có một điều vẫn không khác nối liền từ xưa đến giờ là tham vọng bành trướng lãnh thổ.”

Chuyên viên và lý thuyết gia phương Tây có thể bàn xuôi và bàn ngược từ năm này qua năm khác về Trung Quốc. Đúng hay sai họ vẫn là họ. Nhưng sáu quốc gia VMLMTM phải sống với thực tế cận kề: (a) nếu Trung Quốc bất ngờ nuốt sống một trong những quốc gia này liệu thế giới có đòi lại được không và (b) có quốc gia nào trên thế giới dám sử dụng vũ lực để đòi giùm? Cho nên, sáu quốc gia VMLMTM phải luôn luôn phòng bị và đối phó. Nếu không, sáu quốc gia VMLMTM sẽ phải trả một giá rất đắt.

Nhưng luôn luôn phòng bị và đối phó một cách riêng lẻ cũng chưa đủ. Sáu quốc gia VMLMTM phải kết hợp thành một quần thể có thực lực, một LBĐNAC dân chủ và tự do và thịnh vượng. Hình thành một LBĐNAC là một “nước cờ đánh trước” (preemtive strike), nhưng không nằm trong ý nghĩa quân sự mà nằm trong ý nghĩa chiến lược phòng bị và đối phó. Và, chỉ có phòng bị và đối phó kiểu này mới hy vọng bảo vệ được an ninh và sự sinh tồn trong tương lai của những dân tộc nhỏ bé nằm trong sáu quốc gia VMLMTM.

Cơ hội duy trì hòa bình cho toàn vùng và cho toàn thế giới, cơ hội bảo vệ môi sinh bảo toàn di sản thiên nhiên để lại cho thế hệ tương lai, cơ hội sinh tồn của những dân tộc nhỏ bé, cơ hội mang lại hạnh phúc thực sự cho bá tánh đều là những mục tiêu chính đáng bên sau đề án hình thành một LBĐNAC [Liên Bang Đông Nam á Châu] có thực lực để dự phần vào chiến lược BVKCLBTQ [bao vây, kềm chế, làm bể Trung Quốc]. Hình thành LBĐNAC là một điều nên thực hiện, phải thực hiện, và phải thực hiện nhanh chóng trước khi con rồng đỏ Trung Quốc đủ sức mạnh phá lưới bay cao rồi quay lại tàn phá thế giới.

Những Thử Thách Mà Việt Nam Phải Đối Mặt
Chủ trương “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” của tập đoàn Lê Duẫn trong giai đoạn 1975-1987 đã làm cho cạn kiệt sinh lực của dân tộc Việt Nam và tiềm năng của quốc gia Việt Nam. Những chính sách như (a) ép dân đi vùng những kinh tế mới và biến vùng kinh tế mới thành trại giam; (b) cầm tù và đày đọa lâu ngày hàng trăm ngàn quân nhân công chức của VNCH trong những trại học tập cải tạo và công trường; (c) đẩy hàng triệu thanh niên thanh nữ chưa kịp trưởng thành, đa số là con trai con gái của những quân nhân công chức VNCH, vào lực lượng thanh niên xung phong để làm phu tải đạn và làm bia đỡ đạn; (d) lập kháng chiến giả để gài bẫy và tiêu diệt thành phần chống đối, đa số là dân chúng miền nam; (e) lợi dụng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam rồi hất chân thành phần thứ ba và thanh trừng hầu hết những tướng lãnh, cán bộ và đảng viên cao cấp gốc miền nam; (f) áp dụng thuế siêu ngạch, đổi tiền mới, ép gia nhập hợp tác xã, đánh tư sản để tiếm đoạt tài sản và bần cùn hóa miền nam; (g) thư hùng vũ lực với Trung Cộng; (h) chiến tranh càn quét lực lượng Polpot tại Campuchia; (i) và những chính sách “rất cộng sản” khác . . . cộng với những đợt sóng người bỏ nước ra đi lên đến con số triệu đã đưa đến những hậu quả kinh tế, chính trị, ngoại giao vô cùng thảm hại. Rồi sau năm 1987, kéo dài cho đến nay, Việt Nam đã bám vào cái phao “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” để đổi mới. Kinh tế thị trường thực sự có vực dậy nền kinh tế Việt Nam nhưng định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra môi trường phát sinh và nuôi dưỡng không biết bao nhiêu tệ trạng đang làm băng hoại con người và đất nước Việt Nam. Và, Việt Nam đang phải đối diện với những thử thách lớn.

Hiểm Họa Cơ Chế – Sau 30 năm thống nhất được lãnh thổ và tái thiết, với sự tiếp máu tài chính đáng kể của khối người Việt tại hải ngoại và sự trợ giúp của quốc tế, tuy bộ mặt kinh tế có sáng sủa hơn nhưng khi đem thành quả của Việt Nam đặt cạnh thành quả của những nước khác để so sánh Việt Nam vẫn là một trong số những quốc gia nghèo nhất trên thế giới lại phát sinh nhiều tệ trạng hơn, nhiều bất công hơn, nhiều áp bức hơn trước kia. Đánh giá thành quả của Việt Nam một cách tổng quát, câu hỏi đúng không phải là Việt Nam có tiến bộ hay không, nhất là khi so với thời điểm tệ hại 1987, nhưng là Việt Nam có tiến bộ với tốc độ đáng kể hay không. “Tụt hậu” so với những quốc gia khác, nhất là so với những quốc gia trong vùng, là một hiểm họa lớn trong thiên niên kỷ 2001. Có lẽ nhà cầm quyền Việt Nam cũng nhận thức được điều này. Và tuy có cố gắng đổi mới nhiều lần nhưng một guồng máy mà ngay từ đầu đã được “đúc ra” theo mô hình tổ chức của thế giới đỏ với chủ đích đạt hiệu quả chiến tranh thì khó có thể sửa đổi được để đạt hiệu quả “phồn thịnh kinh tế an lạc xã hội” như ý muốn và đạt một nền “hòa bình công chính”[1] thật sự.

Càng sửa đổi thì càng chồng chéo, càng lúng túng, càng phát sinh nhiều khe hở cho tệ trạng hoành hành, càng làm khổ những cán bộ tốt và công dân tốt. Cái hy vọng có thể làm trong sạch hóa chính quyền, đơn giản hóa hành chánh, kiện toàn hóa pháp luật, minh bạch hóa ngân sách, hiệu quả hóa cơ chế đầu tư để nâng khả năng cạnh tranh kinh tế của đất nước trong khi vẫn cố từ chối dân chủ hóa đất nước và tiếp tục bịt mắt người dân là một hy vọng không bao giờ biến thành sự thật.

Nói một cách khác, những nỗ lực cải tổ của Việt Nam là những nỗ lực nửa vời và bấp bênh khó dẫn đến kết quả xứng đáng, trừ khi chấp nhận dân chủ hóa thật sự và chấp nhận thay đổi tận gốc rễ. Nhưng thay đổi tận gốc rễ cũng có nghĩa là đe dọa tận gốc rễ cơ chế đang hiện hữu và đe dọa trực tiếp tới quyền lực, quyền lợi và mạng sống của những người đang cầm quyền hiện nay.

Hiểm Họa Hữu Nghị Với Bắc Phương – Trung Cộng là một đe dọa cực kỳ lớn đối với Việt Nam, một đe dọa trường kỳ và ngay trước mắt. Tên đàn anh phương Bắc khổng lồ đầy tham vọng bá quyền này tuy “miệng nói, tay bắt, mặt mừng hữu nghị” nhưng lại không ngừng thực hiện chính sách “lũng đoạn chính trị, đánh phá kinh tế, thôn tính văn hóa và lấn chiếm lãnh thổ” của Việt Nam. Việt Nam đã là nạn nhân, đang là nạn nhân và sẽ tiếp tục là nạn nhân của sách lược thâm độc đó.

Lấn Chiếm Lãnh Thổ VN – Năm 1974, Trung Cộng đã dùng vũ lực để cưỡng chiếm Hoàng Sa trong tay của VNCH. Năm 1988 thêm một lần nữa Trung Cộng dùng vũ lực để cưỡng chiếm Johnson Reef, đánh chìm 3 tàu chiến và sát hại 72 nhân mạng. Rồi hiệp ước biên giới ký kết ngày 30 tháng 12 năm 1999 giữa chính quyền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với chính quyền Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã làm cho 11,163 km vuông diện tích lãnh hải và gần 4,000 km vuông lãnh địa của Việt Nam mất vào tay Trung Quốc. Đây chỉ là một vài thí dụ trong số những bằng chứng lấn chiếm mới nhất của Trung Quốc. Một sự lấn chiếm bất chấp Công Ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ký kết năm 1982 xác định biên giới lãnh hải gồm 12 hải lý (điều khoản 3) và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (điều khoản 55-75) cũng như chủ quyền kinh tế trên bề rộng thềm lục địa của Việt Nam (điều khoản 76-77). Một sự lấn chiếm bất chấp văn thư công bố với cộng đồng quốc tế xác nhận giá trị pháp lý của Công Ước 1887 ký kết giữa Việt Nam [do Pháp đại diện] và Thanh Triều xác định biên giới lãnh hải của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ, chiếm tới 63% diện tích của toàn vịnh chứ không phải chỉ còn lại 53.23% như hiện nay.

Lũng Đoạn Nội Bộ VN – Điều lạ là tại sao nhà cầm quyền CHXHCNVN lại có thể gởi một công văn chấp nhận hành động cưỡng chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc năm 1974, trong lúc VNCH đổ máu để ngăn chận? Tại sao nhà cầm quyền CSVN lại có thể lén lút giấu giếm nhân dân Việt Nam dâng cống lãnh thổ và lãnh hải cho Trung Quốc dưới hiệp ước biên giới 1999, bất chấp sự phản đối của một số trí thức, cán bộ, đảng viên yêu nước biết chuyện và của khối người Việt hải ngoại?

Câu trả lời không khó. Vào đầu thập niên 1980, trong giai đoạn Đặng Tiểu Bình nắm quyền bính, Trung Cộng đã đào tạo khoảng 4,000 cán bộ tình báo cài vào Việt Nam để chui sâu và trèo cao trong chính quyền Việt Nam và mọi ngõ ngách quan trọng khác [tin tức tình báo với độ khả tín A2]. Những cán bộ tình báo này giống người Việt bản xứ trên mọi mặt chỉ ngoại trừ dòng máu Hán, khối óc phục vụ người Hán và trái tim tự hào với “lộ đồ Hán hóa địa cầu, chiếm lĩnh kinh tế, nhất thống Đại Trung Quốc.”

Dựa vào khám phá này, người ta không thể tự hỏi có bao nhiêu cán bộ tình báo Trung Cộng đã được đào tạo từ nhiều thập niên trước đã chui vào Việt Nam trá hình? Có bao nhiêu cán bộ tình báo Trung Cộng trá hình hiện nay đang là cán bộ, đảng viên cao cấp trong chính quyền hoặc trong Chính Trị Bộ để làm lũng đoạn đất nước Việt Nam và để sát hại cán bộ, đảng viên, trí thức yêu nước [là những người] gây bất lợi cho tham vọng của Trung Quốc?

Sự kiện cài đặt tình báo chiến lược này của Tàu Cộng gián tiếp trả lời câu hỏi tại sao nhà cầm quyền CSVN có thể chấp nhận dâng cống lãnh thổ cho Trung Quốc phản bội lại dân tộc. Đồng thời sự kiện vạch cho thấy hiểm họa lũng đoạn chính trị mà Trung Quốc đã và đang thực hiện đối với chính quyền Việt Nam. Với lực lượng tình báo Trung Quốc trá hình đã chui quá sâu và trèo quá cao trong guồng máy, Việt Nam có triển vọng sẽ mất vào tay Trung Quốc và mất từ trong mất ra nếu không đủ khả năng nhanh chóng móc vạch và loại trừ những tên Tàu Cộng trá hình đang chui rúc trong hàng ngũ cán bộ đảng viên cao cấp của chính quyền Việt Nam.

Không ngạc nhiên lắm khi thấy nhà cầm quyền CSVN, sau lưng là những cán bộ tình báo Trung Cộng trá hình cán bộ đảng viên cao cấp Việt Nam, đã mở rộng cửa khẩu biên giới và để cho dân Tàu Cộng tự do đi vào Việt Nam không giới hạn số lượng. Và tháng 10 năm 2003 Trung Quốc chính thức lên tiếng cho phép [tức khuyến khích] dân Tàu tự do du lịch Đông Dương. Một biến động quân sự bất ngờ sẽ đặt Việt Nam vào tình trạng bất lợi với sự có mặt và luôn luôn có mặt của vài trăm ngàn du khách Tàu Cộng trên lãnh thổ chưa nói tới số dân Hoa Kiều sống nhiều năm tại Việt Nam đã bị móc nối.

Và, rút ra từ kinh nghiệm lịch sử, Trung Quốc luôn luôn đánh đối thủ một cách bất ngờ, chiến thuật “tiên hạ thủ vi cường” trong khi hai chữ hữu nghị vẫn thắm thiết trên đầu môi và đối thủ vẫn còn váng vất men rượu chúc tụng “tình lân bang môi hở răng lạnh.”

Chưa hết, từ đầu thập niên 1990 cho đến nay, một loạt công trình đã hoặc đang xúc tiến nhanh chóng với sự trợ giúp hoặc đích thân đảm trách của lực lượng chuyên viên Trung Cộng. Sau chuyến đi Bắc Kinh của Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu trở về nước ngày 1/3/1999, tốc độ và bản chất chiến lược của những công trình được chọn lựa để thực hiện trước và thực hiện một cách hối hả tại Việt Nam dưới sự giám sát liên tục của chuyên viên và cấp chóp bu Trung Quốc càng cho thấy rõ rệt ý đồ quân sự và dã tâm của Trung Cộng.

Thí dụ như (a) 2.3 triệu quả mìn cài đặt dọc biên giới được tháo gỡ từ 1994 và hoàn tất vào cuối năm 1999; (b) một xa lộ Trường Sơn dài 1,600 cây số nối liền Nam-Bắc được vội vã kiến tạo cộng với những pháo đài, những bãi đáp phi cơ, những … ăn thông qua Đông Miên . . . tất cả thiết trí dọc theo trục lộ này; (c) 5 cầu rộng vượt sông Hồng tại Thanh Trì, Nhật Tân, Vĩnh Tuy, Thượng Cát, Từ Liêm cộng với 3 cây cầu đã có sẵn; (d) một Xa Lộ Xuyên Á chạy từ Đà Nẵng đi ngang qua Lào, Thái Lan, cho đến tận Miến Điện, một hành lang đông tây nối liền bờ biển Thái Bình Dương với bờ biển Ấn Độ Dương; (e) một mạng lưới cầu đường gồm các trục lộ 21, 15, 71, 14, 1A với 63 tuyến đường ngang được nối vào xa lộ Trường Sơn và xa lộ Xuyên Á cộng vài chục trục lộ đông-tây quan trọng gắn liền vào mạng lưới cầu đường của Lào và Miên cộng một trục đường xe lửa trên nối tới Vân Nam và Quảng Tây dưới nối tới Thái Lan và chạy tới Mã Lai; (f) cảng Vũng Áng ở Hà Tỉnh, cảng Chân Mây ở miền Trung, nhiều điểm và nhiều đường tiếp vận nhiên liệu, nhiều phi trường. Tất cả những công trình chiến lược này, sau khi hoàn tất, đúng là sẽ giúp phát triển kinh tế của các quốc gia nhưng một mặt khác cũng có thể giúp cho Trung Cộng ồ ạt đưa quân xuống uy hiếp các nước Đông Nam Á với một tốc độ thật nhanh.

Dưới hiệp ước “Hợp Tác Kinh Tế và Quân Sự” đã được ký kết từ cuối năm 1999, sẽ không ngạc nhiên lắm khi có một ngày chính quyền Việt Nam lên tiếng yêu cầu Trung Quốc đem quân chiếm đóng lãnh thổ Việt Nam với danh nghĩa giúp đỡ chư hầu. Và cái viễn ảnh đó đang hiện lên càng ngày càng rõ. Cuộc gặp gỡ giữa Nông Đức Mạnh với Hồ Cẩm Đào tại Bắc Kinh kéo dài từ 4/7/2004 cho tới 4/11/2004 vừa qua đã đưa Việt Nam từ chỗ chỉ “hợp tác kinh tế và quân sự” với Trung Quốc đến chỗ “Láng Giềng Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Định Lâu Dài, Tiến Tới Tương Lai.” Theo đà đó thì từ chỗ “hợp tác toàn diện” đến chỗ “hợp lại toàn diện” chỉ còn cách nhau khoảng . . . một tờ giấy mỏng.

Thôn Tính Văn Hóa VN – Văn hóa phẩm Tàu tràn ngập thị trường Việt Nam. Chế độ kiểm duyệt thiếu thiện cảm và thiện chí (a) đối với sản phẩm nghệ thuật và khoa học kỹ thuật của người Việt hải ngoại; (b) đối với sản phẩm nghệ thuật và khoa học kỹ thuật của miền nam trước 1975; (c) đối với sản phẩm nghệ thuật và khoa học kỹ thuật của khối tự do; (d) đối với sản phẩm nghệ thuật và khoa học kỹ thuật được đánh giá là “có mùi chủ nghĩa xét lại” hoặc “chưa thích hợp với đường lối của nhà nước hiện nay” hoặc . . . “chưa bôi trơn.”

Đồng thời những sản phẩm nghệ thuật và khoa học kỹ thuật được phép in ấn tại Việt Nam thì lại (a) quá ít ỏi trong số lượng; (b) thiên về giáo điều; (c) kém tính sáng tạo nghệ thuật hoặc nhẹ trình độ khoa học kỹ thuật; (d) phần lớn là sản phẩm vụn vặt, hoặc bình dân, hoặc sản phẩm Tàu xưa và nay . . . đã vô hình trung làm cho văn hóa Việt nghèo nàn đi hơn nhiều và giúp cho văn hóa Tàu tung hoành trên đất Việt.

Ăn món Tàu, coi phim Tàu, mặc đồ Tàu, nói tiếng Tàu, kể chuyện Tàu, bàn binh pháp Tàu, nhớ lịch sử Tàu hơn lịch sử Việt, học võ Tàu, tập tánh khí quân tử Tàu, tôn vinh danh nhân Tàu, chấp nhận những xuyên tạc lịch sử của Tàu, nhận tiên sư Tàu làm thầy khai hóa dân Việt, coi lịch Tàu, giữ tập tục Tàu, thờ thần linh Tàu . . . những thể hiện này nhìn thấy trên đất Việt ở một tầm độ sâu rộng trong xã hội Việt nếu không gọi là đang bị thôn tính văn hóa thì nên gọi là cái chi?

Đã vậy, trong chuyến viếng thăm Hà Nội vào ngày 27/2/2002 Giang Trạch Dân ra lệnh cho Nông Đức Mạnh và Trần Đức Lương phải sửa đổi sách giáo khoa để cho tuổi trẻ Việt Nam “không còn tình cảm thù địch với Bắc Kinh.” Chỉ trong vòng hai tháng sau đó, ngày 17/4/2002, là nhà nước Việt Nam đã hối hả tuyên dương 45 người Hoa tại TP HCM. Thế là Việt Nam lại có những thần tượng Tàu cho cộng đồng noi theo. Rồi Trung Quốc lại có lòng tốt cấp tiền cho xây thêm trung tâm văn hóa hữu nghị Việt-Trung tại Hà Nội.

Chưa hết, nhìn xa hơn nữa, chính sách kế hoạch hóa gia đình và quan niệm “nam giữ nữ bóp mũi” của dân Tàu đã làm cho dân số Trung Quốc dư thừa trên 28 triệu người đàn ông trong lứa tuổi đòi hỏi sinh lý, từ 15 cho đến 64, so với dân số đàn bà cùng lứa. Lực lượng “nóng lòng kiếm vợ” này hâm hở tràn vào Việt Nam qua con đường du lịch để giải quyết sinh lý và cấy giống Tàu trên đất Việt. Và với tình trạng (a) đua đòi vật chất đến bằng lòng bán thân như hiện nay đang xảy ra trong nước, (b) thâm nhiễm văn hóa Tàu đến độ ngỡ là của mình và (c) những giá trị truyền thống của dân tộc đang biến mất dần . . . bị Tàu hóa hoàn toàn không phải là điều không thể xảy ra.

Biết đâu được có một ngày nào đó không xa Việt Nam tự động biến thành một tỉnh của Trung Quốc, khi mà một phần lớn dân số Việt Nam mang 50% Tàu trong máu và 100% Tàu trong đầu.

Đánh Phá Kinh Tế VN – Nông dân và doanh gia Việt Nam biết rõ hơn ai hết, và có thể biết rõ hơn cả chính quyền, về hậu quả thảm khốc của những âm mưu đánh phá kinh tế do phía Trung Quốc gây ra. Hết tiêu tới điều, hết bưởi tới thanh long, hết cà phê tới quế, hết thuốc nam tới xoài, hết móng trâu tới mèo, hết ốc bu vàng tới rắn, hết tiền giả tới hàng hóa giả, và còn nhiều thứ nữa. Một đời nông dân Việt Nam có được bao nhiêu thời gian và vốn liếng để trồng lên rồi chặt xuống rồi trồng thứ khác để chặt tiếp? Một đất nước nhỏ như Việt Nam sẽ chịu đựng được bao nhiêu đợt tàn phá môi trường sinh thái do Trung Quốc cố tình gây ra? Một thị trường còn mỏng manh như Việt Nam sẽ chịu đựng được bao nhiêu cơn lũ hàng hóa của Trung Quốc tràn xuống? Đó là chưa nói tới ma dược, độc dược và vi rút được Trung Quốc sử dụng để thử nghiệm hoặc để thực hiện chiến lược “làm tiêu hao tiềm năng” của Việt Nam.

Ghi Chú:
[1] Hòa bình thực sự chỉ hiện hữu khi vắng bóng chiến tranh bộc phát với bên ngoài và vắng bóng chiến tranh ngấm ngầm từ bên trong giữa những thành phần xã hội. Công chính thực sự chỉ hiện hữu khi cơ chế chính quyền không thiên vị và làm lợi quá đáng cho riêng một thành phần nào của xã hội, nói một cách khác là không tạo dựng nên những giai cấp được đặc quyền nạo hút máu mở của dân và ăn cắp tài sản của nước một cách hợp pháp hay không hợp pháp.

Hiểm Họa Quốc Phòng – Việt Nam có tất cả là 4,639 km biên giới trong đó 1,228 km là biên giới Việt-Miên; 1,281 km là biên giới Việt-Trung; 2,130 km là biên giới Việt-Lào; cộng vào đó là 3,444 km bờ biển.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (People’s Army of Vietnam) có khoảng 484,000 quân với 3-4 triệu quân trừ bị và ngân sách quốc phòng trên dưới 1.4 tỉ USD trong năm 2004. Lực lượng lục quân của QĐNDVN có khoảng 412,000 quân trong đó có 61 sư đoàn và 45 đơn vị chiến xa với số lượng chiến cụ gồm 2,800 xe tăng và thiết vận (AFV) cộng súng pháo, phòng không và tên lửa. Lực lượng không quân của QĐNDVN có khoảng 30,000 quân với 2 trung đoàn máy bay chiến đấu/tấn công gồm 65 chiếc, 6 trung đoàn máy bay tấn công gồm 124 chiếc, và 29 trực thăng vũ trang. Lực lượng hải quân của QĐNDVN có khoảng 42,000 quân với 2 tiềm thủy đĩnh rất nhỏ SSI, 6 tàu hộ tống, 42 tàu tuần, 6 tàu đổ bộ và 10 tàu rà phá mìn. Ngoài lực lượng chính quy, Việt Nam còn có 40,000 quân công an biên phòng và khoảng 16 triệu dân trong lứa tuổi 18-49 đầy đủ điều kiện sức khỏe để tham gia nghĩa vụ quân sự nếu cần.

Tuy có một quân đội khá hùng hậu, phòng thủ một chu vi dài 8,083 km với một lãnh thổ rộng 329,560 km vuông và một lãnh hải rộng 123,700 km vuông không phải là một việc nhẹ nhàng hoặc ít tốn kém cho Việt Nam. Về mặt địa hình Việt Nam có một số bất lợi.

Thứ nhất, Việt Nam không có được chiều dầy địa hình lý tưởng. Một vài mũi nhọn tấn công theo hướng Tây-Đông hoặc Đông-Tây có thể cắt đứt Việt Nam ra nhiều đoạn. Nếu trường hợp này xảy ra, bộ tham mưu chỉ huy chiến tranh sẽ bị vô hiệu hóa và chiến lược toàn diện khó có thể triển khai được.

Thứ hai, với sự bành trướng của lực lượng hải quân Trung Cộng trong toàn vùng biển Nam Hải, áp lực từ mặt biển Đông ngày càng gia tăng. Nếu có xung đột quân sự, lực lượng hải quân yếu ớt của Việt Nam không những không bảo vệ nỗi lãnh hải mà ngay cả việc bảo vệ lãnh thổ cũng không đủ sức.

Thứ ba, phía Tây của Việt Nam là hai quốc gia tuy có phần thân thiện nhưng quá yếu ớt về mọi mặt. Sườn che của Việt Nam do đó trở thành “quá mỏng” và buộc nó phải phân tán lực lượng để phòng thủ cũng như buộc nó phải xen vào hoặc khống chế nội bộ của những quốc gia này để bảo vệ cho chính nó.

Về mặt thực lực quân sự Việt Nam cũng đang đối diện với một số bất lợi.

Thứ nhất, tuy trước đây là một quân đội thiện chiến nhưng thế hệ có kinh nghiệm chiến trường đã già nua và thay thế bởi một thế hệ trẻ hơn không thực sự từng trải chiến trường.

Thứ hai, vũ khí đang sử dụng là những thứ đã “quá lạc hậu.”

Thứ ba, Việt Nam hình như vẫn lẩn quẩn với khái niệm chiến tranh du kích, sở trường duy nhất và cố hữu, nên chưa chuẩn bị sẵn một loại hình chiến đấu mới có thể đáp ứng nhu cầu của thời điểm hiện tại.

Thứ tư, Việt Nam khó có thể hiện đại hóa lực lượng quân sự vì sự e ngại của các quốc gia chung quanh.

Thực trạng cần tìm ra lối thoát: thực lực của QĐNDVN đang tuột dốc nhanh chóng và cùng lúc hiệu quả phòng vệ lãnh thổ của QĐNDVN ngày càng tệ vì chiến cụ của những quốc gia lân cận đều được hiện đại hóa với tốc độ nhanh chóng.

Cao Miên có tất cả là 2,572 km biên giới trong đó 1,228 km là biên giới Miên-Việt; 541 km là biên giới Miên-Lào; 803 km là biên giới Miên-Thái; cộng vào đó là 443 km bờ biển. Quân Đội Hoàng Gia Cao Miên (Royal Cambodian Armed Force) có khoảng 140,000 quân và ngân sách quốc phòng khoảng 120 triệu USD cho năm 2000. Lực lượng lục quân của QĐHGCM có khoảng 90,000 quân trong đó có 22 sư đoàn không đủ cấp số với số lượng chiến cụ gồm 180 xe tăng, súng pháo, phòng không và tên lửa. Lực lượng hải quân của QĐHGCM có khoảng 3,000 quân, trong đó có 1,500 là lính bộ, với 4 chiếc tàu tuần ven biển. Lực lượng không quân của QĐHGCM có khoảng 2,000 quân với một phi đội máy bay chiến đấu gồm 19 chiếc Mig-21, trong số 24 máy bay chiến đấu hiện có, và 15 máy bay trực thăng. Ngoài lực lượng chính quy, Cao Miên có khoảng 1.8 triệu dân trong lứa tuổi 18-49 đầy đủ điều kiện sức khỏe để tham gia nghĩa vụ quân sự nếu cần.

Thực trạng cần tìm ra lối thoát: lực lượng quân sự của Cao Miên đứng riêng rẽ không đủ sức để phòng vệ một chu vi dài 3,015 km với một lãnh thổ rộng 181,041 km vuông chưa nói tới lãnh hải và không đủ sức để chống lại bất cứ một cuộc xâm lược nào bất kể từ đâu tới.

Lào có tất cả là 5,083 km biên giới trong đó 235 km là biên giới Lào-Miến; 541 km là biên giới Lào-Miên; 423 km là biên giới Lào-Trung; 1,754 km là biên giới Lào-Thái; và 2,130 km là biên giới Lào-Việt. Quân Đội Nhân Dân Lào (Lao People’s Army) có khoảng 28,000 quân và ngân sách quốc phòng trên dưới 20 triệu USD cho năm 2004. Quân cụ trang bị gồm có khoảng 260 xe tăng và xe thiết vận, 12 chiếc máy bay, súng pháo, phòng không và tên lửa. Ngoài lực lượng chính quy, Lào có khoảng 954 ngàn dân trong lứa tuổi 18-49 đầy đủ điều kiện sức khỏe để tham gia nghĩa vụ quân sự nếu cần.

Thực trạng cần tìm ra lối thoát: với một quân đội quá nhỏ bé mà phải phòng vệ một chu vi dài 5,083 km và một lãnh thổ rộng 236,800 km vuông, Lào gần như bỏ ngỏ.

Nếu VML [Việt, Miên, Lào] kết hợp thành một quần thể LBĐNAC [Liên Bang Đông Nam Á Châu], chưa nói tới sự gia nhập của MTM [Mã, Thái, Miến] về sau, tổng cộng chu vi phòng vệ của LBĐNAC sẽ là 8,383 km với 742,880 km vuông lãnh thổ và 132,200 km vuông lãnh hải. Quân đội của LBĐNAC lúc đó có hơn nửa triệu quân; 3,180 xe tăng và xe thiết vận; 225 máy bay chiến đấu/tấn công; 44 máy bay trực thăng; 2 tàu lặn SSI; 6 tàu hộ tống; 46 tàu tuần; 6 tàu đổ bộ; và 10 tàu rà phá mìn. Thêm vào đó là 40,000 quân công an biên phòng; 3-4 triệu quân trừ bị và 18.8 triệu người dân trong lứa tuổi 18-49 đầy đủ điều kiện sức khỏe để tham gia nghĩa vụ quân sự.

Tuyến phòng vệ mạn Bắc dọc Trung Quốc lúc đó sẽ là 1,704 km chiều dài, chỉ có 423 km dài hơn tuyến phòng thủ mạn Bắc của VN đứng một mình, nhưng bù lại tựa lưng là một chuỗi cao điểm có lợi thế phòng thủ vững chắc và không phải phân tán lực lượng để phòng bị tuyến bên hông như trước. Tuyến phòng thủ ven biển lúc đó sẽ là 3,887 km, chỉ dài hơn 433 km so với tuyến phòng thủ ven biển của VN trước đây, nhưng bù lại bờ biển Cao Miên được phòng thủ kín hơn để ngăn chận một cuộc đổ bộ tập kích chí tử vào mạn Nam.

Thêm vào đó, bất cứ một mũi dùi tấn công nào từ mạn Bắc đánh xuống hoặc hoặc mạn Đông đánh vào hoặc mạn Nam đánh lên, LBĐNAC sẽ có đủ chiều dầy địa hình để triệt thoái và làm tiêu hao lực lượng địch. Với tình trạng què quặt hiện tại, ngay cả Việt Nam cũng chưa có được khả năng bay xa thọc sâu (projection capability) để có thể đẩy tuyến phòng thủ ra xa hơn hoặc có thể thọc sâu vào hậu phương của địch. Thiếu khả năng này, VML hoàn toàn thụ động trên chiến trường và cũng vì thế yếu tố chiều dầy địa hình lại càng trở nên quan trọng hơn.

Nhưng lợi ích lớn nhất trong tất cả những lợi ích quân sự, nếu LBĐNAC thành hình, có lẽ là cơ hội hiện đại hóa quân đội liên bang để tái lập sự thăng bằng quân sự cho toàn vùng. Một LBĐNAC nằm trong vòng đai BVTC [bao vây tiếp cận] phải có đủ thực lực nhằm bảo đảm hiệu quả của chiến lược BVKCLBTQ [bao vây, kềm chế, làm bể Trung Quốc]. Vì thế, Hoa Kỳ và đồng minh trợ giúp LBĐNAC để nhanh chóng cải thiện khả năng tự vệ của nó là một điều đương nhiên sẽ phải xảy ra. Đây là một cơ hội hiếm có cho VML.

Hiểm Họa Mêkông – Con sông Mekong (còn có tên là Dza Chu, Lan Trường Giang, Mea Nam Không, Tonle Thom, và Cửu Long) dài 4,350 km là tài sản chung của 7 quốc gia trong đó có VML. Tuy được xếp hạng thứ mười một về chiều dài, Mekong được xếp hạng nhì về sự phong phú sinh thái. Từ độ cao 4,975 m chảy xuống, Mekong mang theo dòng nước một số lượng phù sa khổng lồ và một tiềm năng thủy điện to lớn.

Trung Quốc ở đầu nguồn, chiếm một nửa chiều dài của con sông, đã ngang nhiên xây nhiều đập thủy điện bất chấp thiệt hại kinh tế và môi sinh của các quốc gia phía dưới nguồn. Đập Manwan (Man Loạn) xây xong từ năm 1993 tại Lancang. Đập Dachaosang (Đại Chiến Sơn) khởi công năm 1996 và đã hoàn tất. Đập Jinghong (Cảnh Hồng) hoàn tất vào tháng 6 năm 2003. Đập Xiaowan (Tiểu Loan) khởi công năm 2001 dự trù hoàn tất vào năm 2010. Ganlanba, Gongguoqiao, Mensong và Nuozhadu là 4 đập còn lại, trong số 8 đập nằm trong kế hoạch từ thập niên 1970, cộng thêm 6 đập dọc chính lưu và 13 đập nằm ở những phụ lưu cũng sẽ lần lượt được thực hiện.

Nhóm Songkhram Conservation Group của Thái đã báo cáo là tại Lào và bắc Thái mực nước Mekong xuống tới mức thấp nhất và số lượng cá cũng xuống tới mức thấp nhất, từ trước cho tới giờ mà người ta còn ghi nhớ trong ký ức. Chuyên gia nhiều kinh nghiệm cũng cho rằng những dự án này sẽ làm hại Biển Hồ của Cao Miên (Cambodia’s Great Lake) và hại đến đồng bằng nam bộ của Việt Nam. Biển Hồ cung cấp 100,000 tấn cá một năm, tức cung cấp tới 80% lượng protein cần thiết, cho dân Cao Miên.

Làm hại Biển Hồ tức là làm bể nồi cơm của dân Miên. Dòng Mekong hàng năm cung cấp phù sa cho đồng bằng nam bộ để sản xuất khoảng 14 triệu tấn lúa gạo nuôi sống trên 80 triệu dân Việt và còn dư để xuất khẩu. Làm thiệt hại đồng bằng nam bộ là làm bể nồi cơm của dân Việt. Mekong là nguồn sống của 65 triệu người trong vùng hạ lưu. Làm thay đổi sinh thái của Mekong là bóp chết sự sống của họ. Có 76 tổ chức của 25 quốc gia đã từng lên tiếng nhưng Trung Cộng bất chấp lời khuyên và sự phản đối.

He Daming, một nhà nghiên cứu của Trung Quốc tại Yunan, đã biện hộ là những cái đập thủy điện này có ích cho việc điều hòa lượng nước của Mekong bằng cách giữ lại lượng nước trong mùa lụt và xả nước trong mùa khô. Những lời này của He Daming hé lộ cho thấy một điều đáng sợ vì tính cách chiến lược của những đập thủy điện mà Trung Quốc đang xây hoặc sắp xây.

Đó là (a) nó cho Trung Cộng khả năng để làm nên những trận lụt giả tạo và những hạn hán giả tạo đối với những vùng đất thấp nằm cuối nguồn Mekong như là Việt Nam, Cao Miên, Thái Lan và Lào; (b) nó cho Trung Cộng quyền quyết định mạng sống và sự sống của 65 triệu người trong 4 quốc gia Việt, Miên, Lào, Thái; và từ đó (c) nó cho Bắc Kinh cây “gậy đánh chó” để buộc những quốc gia nằm trong tầm ảnh hưởng phải nhượng bộ những yêu sách của nó.

Trong mùa lụt năm 2000, tính chung cho cả hai nước Việt Nam và Cao Miên, đã có tới 800 người bị mất mạng, thiệt hại 430 triệu USD, và 8 triệu người bị ảnh hưởng. Chỉ với cái đập thủy điện Manwan thôi mà ba nướcVML đã khổ sở và thiệt hại vì nó không ít. Nếu Trung Cộng thực sự thực hiện tất cả những dự án của nó thì liệu VML sẽ ra sao?

Chưa hết, nhiều chuyên gia còn báo động là nước thải công nghệ từ khu vực Yunnan (Vân Nam) ra Mekong, nếu không kiểm soát, sẽ biến Mekong thành ống cống lớn và Biển Hồ thành bồn chứa nước dơ. Những thiệt hại môi sinh này liệu những người lãnh đạo yếu hèn của VML có thể gánh nổi và ngẫng mặt nhìn thế hệ mai sau?

MRC (Mekong River Commision) đã nhiều lần mời Trung Quốc gia nhập để có thể bàn cãi biện pháp “sử dụng con sông này một cách có trách nhiệm hơn” thì bị Trung Cộng thẳng thừng từ chối. Điều đáng buồn là trong lúc các NGOs và các nước khác quan tâm cho môi sinh của các quốc gia có dòng Mekong đi ngang qua bị làm hại bởi những quyết định “du côn” của Trung Quốc thì ba quốc gia VML hình như không dám tích cực lên tiếng, nhất là VN.

Nếu VML chuyển hóa và kết hợp thành một quần thể LBĐNAC nhân bản, dân chủ, pháp trị thì nhất định không ai, kể cả Trung Cộng, có thể tự tung tự tác làm hại môi sinh của nhân loại và chắc chắn giải pháp cho việc khai thác tiềm năng của dòng Mekong sẽ tốt đẹp hơn nhiều. Đó là chỉ mới nói tới một dòng Mekong chứ chưa nói tới những tài nguyên khác, thí dụ như rừng của VML bị tàn phá để lấy gỗ bán cho thị trường chế biến Trung Quốc và thú rừng bị lùng bắt đến độ diệt chủng để cung cấp cho thị hiếu ăn uống của người Tàu.

Hiểm Họa Nội Trị Và Ngoại Giao – Chưa hết, trong lúc đất nước đang bị Trung Cộng lũng đoạn chính trị, đánh phá kinh tế, thôn tính văn hóa và lấn chiếm lãnh thổ thì kèm theo đó áp lực chính trị và ngoại giao tiếp tục gia tăng.

WTO, WB, ADB đang thúc hối phải cải tổ nhanh hơn và sâu rộng hơn. USAID, UNICEF, WHO, NGOs phát biểu lo ngại về tình trạng bất bình đẳng ngày càng cách xa và tình trạng nghèo đói bệnh tật của dân Việt ở vùng sâu vùng xa.

Những tổ chức của quốc tế, của người Việt hải ngoại trên khắp thế giới và quốc hội Hoa Kỳ đang ầm ĩ tố cáo đòi hỏi quyền tự do tôn giáo và tự do ngôn luận cho người dân trong nước.

Những nhân vật cộng sản phản tỉnh đang móc nối thành phần thứ ba và thành phần cấp tiến đứng lên đòi dân chủ hóa bộ máy cầm quyền.

Những dân tộc Thượng vùng cao nguyên đang ra mặt chống trả sự áp bức bất công và đòi ly khai Việt Nam để thành lập một quốc gia DEGAR độc lập.

Nông dân nhiều nơi biểu tình và đánh nhau với công an vì bất mãn những lạm dụng qui hoạch cướp đoạt đất đai của họ.

Chưa hết, nhiều bằng chứng cho thấy bên trong guồng máy nhà nước và đảng (a) thành phần chóp bu đang đấm đá nhau để tranh giành quyền lực và quyền lợi, (b) những cánh tay kinh tế của nhà nước và đảng choảng nhau thường xuyên để dành địa bàn hoạt động, (c) cán bộ nhà nước và cán bộ điều hành công ty quốc doanh từ trên xuống dưới đua nhau hoang phí phá tán của công, nạo hút máu mỡ của dân, gạ bán tài nguyên của nước, rồi tìm cách chuyển tài sản ra hải ngoại đầu tư và đưa con du học. Tất cả những tệ trạng này đe dọa đến sự mất còn của chế độ. Và dường nhiều người đang âm thầm chuẩn bị cho một cuộc “di tản chiến lược ra hải ngoại” phòng hờ nếu chế độ bị sụp đổ.

Hiểm Họa Lực Lượng Lao Động Bị Băng Hoại – Trong tất cả những hiểm họa, ngoài hiểm họa bị Tàu hóa, có lẽ hiểm họa con người bị băng hoại là đáng sợ hơn cả. Nhìn vào lực lượng lao động tại Việt Nam, từ thượng tầng tới hạ tầng, từ trái qua phải, từ trong ra ngoài, từ công sở nhà nước tới nông trường tới xí nghiệp tới cửa hàng tới bến xe, từ trí thức tới bình dân, đâu đâu cũng thấy có vết đen kém khuyết đức tính tốt mà một người nhân viên cần phải có.

Đánh cắp vật liệu, đánh cắp thời gian, đánh cắp tiền bạc, đánh cắp tin tức, đánh cắp phương tiện, đánh cắp giao kèo, đánh cắp dịch vụ, đánh cắp danh tiếng, đánh cắp công trình, đánh cắp sáng tạo, đánh cắp bản quyền, gian lận báo cáo, gian lận hồ sơ, gian lận bằng cấp học vị, lừa gạt khách hàng, khiếm nhã với người chung quanh, thiếu thiện chí phục dịch . . . hoặc nhận thức rõ hoặc không nhận thức rõ về hành vi của mình, hoặc không vui hoặc hả hê về hành vi của mình.

Hiểm họa một lực lượng lao động thiếu những đức tính tốt hoặc đi xa hơn là một lực lượng lao động bị băng hoại nhân cách sẽ đe dọa trực tiếp tới tiềm năng sản xuất và nội lực của Việt Nam.

Hiểm Họa Lực Lượng Trẻ Bị Dồn Nén – Nhìn vào giới trẻ, những rường cột của đất nước trong tương lai, thì lực lượng thanh niên thanh nữ của Việt Nam quả thực là một một tiềm lực lớn, một biển hỏa nham dưới lòng đất cần có chỗ để phát tiết năng lực và năng lượng. Thông minh, hiếu học, muốn tiến thân, có kiến thức, sáng tạo, quyền biến, đa năng đa dạng, thực tế và lãng mạn hiện diện cùng một lúc trên bản thân để thể hiện sức sống mang nét nhân bản . . . là một số đặc tính đáng ngưỡng mộ của tuổi trẻ Việt Nam.

Tuy nhiên, trong một môi trường què quặt hãm bức như hiện nay, biển hỏa nham này thực sự không có hướng đi và không có chỗ để phát tiết. Nhiều hiện tượng tiêu cực được ghi nhận như là nghiện ma dược, nghiện coi phim tình dục, tập trung ở những tụ điểm trụy lạc, băng đảng phá phách, đua xe sống chết trên đường phố, làm thơ “siêu ấn tượng” tình dục, tự kết liễu cuộc sống.

Hoặc hành nghề giải quyết sinh lý cho các mệnh phụ, làm gái gọi có nhãn hiệu người mẫu hay hoa hậu, đóng phim tình dục, làm vợ hờ cho sếp lớn, làm gái ôm đủ loại đủ kiểu, làm vợ ngoại kiều, bán thân cho Tàu . . . để kiếm tiền hưởng thụ theo kiểu Mỹ [một sự ngộ nhận đáng tiếc!].

Những hiện tượng tiêu cực diễn ra ở một diện rộng đến độ báo chí trong nước phải lên tiếng báo động và phê phán là chủ nghĩa vật chất đang thống trị giới trẻ Việt Nam hoặc đạo đức của họ đang bị băng hoại. Có lẽ sự phê phán nặng lời này cũng không sai.

Tuy nhiên, những hiện tượng tiêu cực cần phải được hiểu là những dấu hiệu tiền báo của một sự thật cực kỳ quan trọng: một biển hỏa nham không có hướng đi, chưa có lối phát tiết và sẵn sàng tìm khe hở để bộc phát. Và khi nó bộc phát, hậu quả sẽ khó lường.

Hiểm Họa Phân Cách Giữa Ba Miền – Ba miền Bắc-Trung-Nam tuy cùng một đất nước nhưng luôn luôn nhìn nhau với con mắt “phân cách” hoặc ngấm ngầm hoặc biểu lộ. Từ khi Chúa Nguyễn Hoàng vào đất Quảng Trị mở ra giai đoạn Nam Bắc phân tranh, cho đến khi con cháu được đất ở phương Nam, cho đến giai đoạn chống Pháp, cho đến cuộc chiến tranh Việt-Mỹ chia đôi hai miền Nam Bắc và cho đến nay thái độ phân cách giữa ba miền luôn luôn tồn tại.

Thái độ phân cách này không phải do người Pháp tạo ra vì nó đã hiện hữu suốt và hơn 4 thế kỷ, người Pháp chỉ lợi dụng vào cái sẵn có. Thái độ phân cách phát sinh không phải vì khối dân tộc Việt mang bản chất chia rẽ hay oán ghét nhau nhưng vì những va chạm đến từ hai nguyên do chính.

Thứ nhất, phần lớn là do “một cái mền chính sách” đắp lên cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc. Cái mền có thể làm ấm áp thoải mái dân Bắc nhưng làm nóng nực dân Nam và khó chịu dân Trung. Không thể đắp chung một cái mền chính sách vì quần chúng trong ba vùng mang ba bản chất khác nhau và có những nhu cầu khác nhau. Không may là từ trước đến nay chế độ nào cũng vấp phải lỗi lầm này.

Thứ hai, phần khác là do cái nhìn cục bộ, thiếu cảm thông, thiếu tin tưởng và muốn áp chế của những người cầm quyền. Không may từ trước đến nay chế độ nào cũng đi vào con đường u tối này.

Chính sách “siết chặt” của Lê Duẩn, từ 1975 cho đến gần đầu thập niên 1990, là một chính sách hình thành do sự thúc đẩy bởi cái nhìn thiếu thiện cảm đối với dân miền nam vì cho rằng “dân miền nam thiếu kỷ luật, khó dạy” và bởi cái thái độ hạ cấp “con chúng ta sai, vợ chúng ta xài, nhà chúng ta ở.”

Thử nhìn lại lịch sử và con người. Một phần đất trong cái gọi là miền nam thì nam bộ là một vùng đất mới “mượn” được từ tay của người Miên không lâu, từ khi Chúa Sải Nguyễn Phước Nguyên gã công chúa Ngọc Vạn cho quốc vương Chey Chetta II năm 1620 rồi lợi dụng quan hệ với con rể mượn đất Prey Nokor [Sàigòn-Chợ Lớn] và Kas Krobey [Bến Nghé] để lập trạm thuế năm 1623 mở đường cho cuộc nam xâm.

Đến khi Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào nam kinh lược Cao Miên năm 1668 thì vùng đất nam bộ đã có sẵn hơn 4 vạn hộ và lập nghiệp hàng trăm năm rồi. Ngoài những bộ tộc cố cựu như Mạ, Chu Ru, Stiêng, Rơ Giai còn lại đa số là người Việt. Nguyễn Hữu Cảnh chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai đặt làm huyện Phước Long dựng Trấn Biên [Biên Hòa], lấy xứ Sài Côn [Sài Gòn] dựng Phiên Trấn [Gia Định] rồi chiêu mộ dân phiêu bạt từ Bố Chánh trở vào trong nam đưa về ở cho đông đảo thêm đồng thời thiết lập hệ thống hành chánh để thu thuế và bắt lính.

Như vậy cha ông của nhân dân miền nam trước đây là một tập hợp của nhiều sắc tộc gồm một phần là những hảo hán Việt đi khai phá vùng đất mới, một phần là những người Khmer còn bám đất ở lại trước sự bành trướng của người Việt, một phần khác là những người Chàm khẩn hoang định cư và người Thượng từ miền cao bị bán hoặc tự nguyện tìm đến làm gia nô cho những người giàu có. Người Minh Hương tị nạn chính trị cũng hòa vào dòng sống đó.

Nhóm Trần Thượng Xuyên phát triển đất Đồng Nai, nhóm Dương Ngạn Địch phát triển đất Mỹ Tho, nhóm Mạc Cửu phát triển đất Kiên Giang, Long Xuyên và Cà Mau.

Những người Việt hảo hán này, những người Khmer, Chàm yêu đất này, những người Thượng với bản tính ít đố kỵ bỏ sơn cước xuống đồng bằng này, những người Minh Hương giỏi buôn bán này . . . tất cả đã đổ mồ hôi xương máu đóng góp vào cái gọi là lãnh thổ Việt Nam.

Họ mới chính là những người mở cõi cho Việt Nam, không phải là vua chúa hoặc triều thần nhà Nguyễn như những sử gia triều đình đã cho quá nhiều credit và quên mất một sự thật là chính những bàn tay, những khối óc, những con tim, những giọt máu và mồ hôi của quần chúng miền nam đã làm nên nó.

Chính họ, quần chúng nam bộ, làm nên miền nam của Việt Nam.

Dân miền nam là một khối hợp chủng đến từ mọi miền đủ mọi giai cấp hòa vào dòng sống nam bộ. Họ nhiệt tình và dễ dãi. Con cháu họ về sau mang truyền thống “chịu chơi, không màu mè và không đố kỵ” trong máu. Nhờ quá trình đó cộng một thời gian dài giao tiếp với người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp, Mỹ dân miền nam vốn dĩ đã ít cục bộ càng thêm phóng khoáng.

Dầu vậy, dân miền nam vẫn là dân nam thủy chung của đất nước.

Dân quê miền nam yêu miền nam sông nước của họ. Họ sống với lũ. Họ làm nhà sàn ngay trên nước. Họ sống đời gạo chợ nước sông. Họ trôi nổi bềnh bồng trên sóng nước theo ghe thương hồ. Họ chăn vịt, nuôi cá tôm, trồng lúa sạ trên ruộng đồng trắng nước.

Dân thành miền nam thì chưng diện bảnh bao. Tiêu xài rộng rãi. Giao lưu mọi giới, mọi cấp, mọi nơi “thượng vàng hạ cám” đều có đủ. Tất cả đều muốn xuề xòa xí xóa cho xong chuyện.

Dầu quê hay thành, dân nam đều mang nặng bản sắc “giang hồ tứ hải giai huynh đệ.” Dân nam hâm nóng keo sơn gắn bó dân tộc từ trong mỗi hớp rượu đế cho đến từng gấp cá nướng truôi. Dân nam ôm ấp tự tình dân tộc một cách không chải chuốc trong trái tim và thể hiện cũng bình dị, như câu hò ca dao như tiếng hát cải lương trên miệng họ.

Tập đoàn Lê Duẩn không hiểu được sức mạnh này và có ý nghi ngờ đố kỵ nên muốn hủy diệt cách sống rộng mở của miền nam để áp đặt “văn hóa Bắc Hà nặng son phấn Bắc Kinh” và “giáo điều lai căn” lên miền nam. Chính vì những áp chế này, và những áp chế tương tự, mà những xung đột trầm trọng nảy sinh.

Nói về trung bộ của miền nam, từ khi Chúa Tiên Nguyễn Hoàng lìa Thanh Hóa vào đàng trong dấy nghiệp cho đến đời Chúa Nguyễn Phước Chu thì trung bộ hình thành trọn vẹn.

Lãnh thổ của đàng trong dưới thời Nguyễn Hoàng là một phần đất đã lấy từ tay của dân tộc Chămpa. Vào thế kỷ thứ 11, Vua Chế Củ của Chămpa đem quân xâm lấn Đại Việt bị vua Lý Thánh Tông bắt được nên dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính [Quảng Bình, Quảng Trị] để chuộc mạng.

Đến đầu thế kỷ thứ 14 Vua Chế Mân của Chămpa dâng hai châu Ô, Lý [Thuận-Quảng: Thừa Thiên, Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng] cho Vua Trần Nhân Tông làm sính lễ cưới Huyền Trân Công Chúa.

Sau đó dân Việt tiến xuống phương nam lấy nốt phần đất còn lại của Vương Quốc Chămpa lập thành tỉnh huyện sát biên giới Cao Miên.

Năm 1611 quân Chămpa từ Đồ Bàn kéo ra xâm phạm Thuận Quảng, Chúa Tiên sai tướng đánh dẹp, đẩy quân Chămpa lùi về tận Diên Ninh, lấy đất mới lập thành Phủ Phú Yên.

Năm 1653 Vua Bà Tấm của Chămpa đem quân xâm phạm Phú Yên bị đánh bại nên dâng đất Ninh Hòa và Diên Khánh chuộc mạng. Chúa Tiên cho lập thêm Phủ Thái Khang và Phủ Diên Ninh, địa giới mở rộng tới Phan Rang bây giờ.

Đến năm 1692, Vua Bà Tranh của Chămpa kéo quân đánh phá Phủ Diên Ninh. Quốc Chúa Nguyễn Phước Chu sai quân đánh dẹp, bắt được Bà Tranh, đổi tên Phủ Diên Ninh thành Trấn Thuận Thành rồi thành Phủ Bình Thuận.

Từ đó dân Chămpa trở thành một sắc tộc thiểu số của dân Việt và toàn bộ đất đai của người Chămpa biến thành lãnh thổ trung bộ của Việt Nam.

Xét về mặt địa lý, miền trung là một tập hợp của 4 khu vực đồng bằng không được phì nhiêu so với đồng bằng bắc bộ và đồng bằng nam bộ: khu vực đồng bằng Bình-Trị-Thiên, khu vực đồng bằng Nam-Ngãi-Định, khu vực đồng bằng Phú Yên-Khánh Hòa, khu vực đồng bằng Ninh Thuận-Bình Thuận. Mỗi khu vực địa lý từ bắc trung bộ cho đến nam trung bộ đều có những nét chung và riêng về mặt cấu tạo địa hình, địa lý lẫn khí hậu. Xét về mặt sinh hoạt và nguồn gốc văn hóa, trung bộ là vùng đất hội nhập của nhiều nền văn minh: Sa Huỳnh, Chămpa và Việt.

Quốc Chúa Nguyễn Phước Chu mong muốn trở thành là một nước độc lập nên luôn luôn cải cách phát triển nội trị, ngoại giao, giáo dục, võ bị theo một qui mô riêng mang tính miền nam. Về mặt tính tình, có lẽ một chuỗi dài đấu tranh và khai phá đất mới đã làm cho dân trung huân tập nhiều quán tính tốt như là cần mẫn, tiết kiệm, luôn tìm kiếm và nắm lấy cơ hội, phấn đấu, chịu đựng, kiên trì, bao bọc che chở nhau, pha trộn với một chút lãng mạn. Thêm vào đó dân trung sâu sắc và kín đáo hơn dân nam. Tất cả những đặc tính vừa nêu đã làm cho dân trung không giống dân nam và cũng chả giống dân bắc.

Tập đoàn Lê Duẩn không hiểu được sức mạnh này và có ý nghi ngờ đố kỵ nên muốn hủy diệt cách sống rất Trung của dân Trung để áp đặt “văn hóa Bắc Hà nặng son phấn Bắc Kinh” và “giáo điều lai căn” lên miền trung bộ. Chính vì những áp chế này, và những áp chế tương tự, mà những xung đột trầm trọng nảy sinh.

Tóm lại, hoặc vì một cái mền chính sách đắp chung cho cả ba miền hoặc vì cái nhìn cục bộ của thành phần nắm quyền lực điều hành đất nước đã tạo nên thái độ phân cách giữa ba miền. Điều này đe dọa đến sự ổn định quốc gia và đến sự sống còn của chế độ.

Hiểm Họa Chèn Ép Dân Tộc Thiểu Số – Nhằm lợi dụng những dân tộc thiểu số, theo lệnh của Hồ Chí Minh, hai khu vực tự trị đã được khai sinh vào giữa thập niên 1950.

Khu tự trị Thái Mèo gồm hai tỉnh Sơn La và Lại Châu nằm ở góc Tây Bắc ba biên giới Lào-Việt-Hoa với dân số 1.8 triệu dưới sự chỉ đạo của một ủy ban gồm 23 ủy viên, trong đó có hai người kinh, đã ra đời ngày 29 tháng 4 năm 1955.

Khu tự trị Tày Nùng gồm 4 tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn sát biên giới Đông Bắc Việt-Hoa với dân số 1.9 triệu dưới sự chỉ đạo của một ủy ban gồm 72 ủy viên, đứng đầu là tướng Chu Văn Tấn gốc Nùng, đã ra đời ngày 10 tháng 8 năm 1956.

Cũng trong khoảng thời gian đó, trong năm 1957, thì tại Tây Nguyên những người trẻ trong bốn bộ lạc Bhanar, Jarai, Rhade và Koho đã đứng ra thành lập Phong Trào BAJARAK tại buôn Ale A nằm trong thị xã Buôn Mê Thuột của tỉnh Daklak, do Y-Bham Enoul làm chủ tịch.

Lúc đầu tổ chức này chỉ nhằm mục đích vận động đồng bào Thượng xuống đường để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm (a) đã hủy bỏ qui chế tự trị với những đặc quyền dành cho người Thượng trong vùng đất Cao Nguyên có từ thời vua chúa nhà Nguyễn và (b) đã áp dụng chính sách đồng hóa/diệt chủng (assimilative/genocidal program) đối với người Thượng.

Sau đó BAJARAK lôi kéo được nhiều bộ lạc khác tham gia và cuối cùng đã xuống đường biểu tình. Họ đã lên tiếng tố cáo là chế độ Ngô Đình Diệm đã: (a) đốt sách, dẹp trường học, dẹp tòa án, tịch thu vũ khí săn bắn. ..nhằm hủy diệt văn hóa và phong tục Thượng; (b) đưa 850,000 người di cư từ Bắc vào Nam lên vùng Cao Nguyên để chiếm đất canh tác của những dân tộc Thượng trong vùng và đẩy họ vào vùng sâu; (c) vu cáo họ theo VC để bắt giam, tra tấn, giết chết, và cho máy bay ném bom tàn phá buôn làng của họ. . . nhằm diệt chủng.

Đáp lại lời tố cáo của dân tộc Thượng, chế độ Ngô Đình Diệm đã phản ứng mạnh bằng cách điều động lực lượng vũ trang để đè bẹp cuộc biểu tình của phong trào BAJARAK vào ngày 15 tháng 9 năm 1958. Nhiều người bị giết chết và nhiều thủ lãnh của phong trào bị bắt giam trong đó có Y-Bham Enuol, Paul Nur, Nay Luet, YThih Eban, Siu Sip Y-Du Eban, Touneh Yoh.

Từ đó BAJARAK phải hoạt động chui và trở thành lực lượng du kích chiến đấu đòi quyền tự trị cho người Thượng tại Tây Nguyên.

Tin vào lời hứa trả lại quyền tự trị Tây Nguyên cho người Thượng của Hồ Chí Minh, những thủ lãnh BAJARAK đang chiến đấu trong rừng – trong đó có Nai Der, Nai Phin, R’com Briu, Y-Bhi Aleo, Y-Ngong Nie Kdam – chấp nhận liên minh với Bắc Việt, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, trong buổi lễ ra mắt quần chúng ngày 20 tháng 12 năm 1960, đã long trọng cam kết quyền tự trị của các dân tộc thiểu số. Theo đó Mặt Trận Giải Phóng Tây Nguyên đã ra đời ngày 19 tháng 5 năm 1961, do Y-Bhi Aleo gốc Rhade làm chủ tịch.

Một mặt khác, cũng trong năm 1961, CIA đã hối hả chiêu mộ và vũ trang cho dân Thượng theo chương trình Phòng Vệ Bản Làng (village defense program) và chương trình Thám Báo (Commando program). Tin vào lời hứa trả lại quyền tự trị của CIA, người Thượng đã làm chấp nhận làm việc cho Hoa Kỳ.

Thế là dân tộc Thượng hoàn toàn bị cuốn hút vào cuộc chiến Việt Nam.

Với sự khuyến khích của Pháp và của Norodom Sihanouk, ngày 20 tháng 9 năm 1964 lực lượng FULRO (Front Unifié de Libération des Races Opprimées/ United Front for the Liberation of Oppressed Races) đã ra đời tại Phnom Penh do Tướng Y-Bham Enuol gốc Rhade lãnh đạo. Mục tiêu của FULRO là đòi quyền tự trị cho DEGAR (danh xưng cho người Thượng Tây Nguyên được sử dụng lần đầu tiên từ miệng Enuol trong Hội Nghị Đông Dương tổ chức tại Phnom Penh).

Cũng trong ngày 20 tháng 9 năm 1964 năm trại lính Thượng thuộc chương trình CIDG (Civilian Irregular Defense Group) tại Buôn Sar Pa, Muôn Hô, Buôn Mega . . . thuộc tỉnh Daklak đã đồng loạt nổi loạn, giết chết 5 sĩ quan và 27 hạ sĩ quan người kinh của Lực Lượng Đặc Biệt.

Trước đó 3 tuần lễ trại Buôn Mega đã nổi loạn bắt giam trưởng trại là một đại úy người kinh. Đại Tá Trần Cửu Thiên (lúc đó là Thiếu Tá) chỉ huy trưởng Lực Lượng Đặc Biệt đã nhảy dù vào trại để điều tra. Nhiều cuộc thương thuyết đã diễn ra trong khoảng thời gian một năm, cho tới khi đạt thỏa hiệp vào tháng 9 năm 1965.

FULRO đã đòi quyền tự trị, có quốc kỳ riêng, và có lực lượng vũ trang riêng với 50,000 quân. VNCH không đáp ứng những đòi hỏi này đồng thời lên tiếng chỉ trích biến cố này là âm mưu của CIA.

Tuy nhiên, hai bên cuối cùng cũng đã đồng ý một số giải pháp. Nhà cầm quyền Miền Nam Việt Nam cho thành lập bộ phát triển dân tộc thiểu số để chăm lo kinh tế, xã hội và giáo dục cho đồng bào Thượng và ban hành một số quy chế đặc biệt dành cho đồng bào Thượng. Và, lực lượng FULRO không liên hiệp với cộng sản.

Sau 1975, tình trạng của những dân tộc thiểu số càng đáng thương hơn. Trong đợt cải tổ hành chánh ban hành ngày 25 tháng 2 năm 1976, khu tự trị Thái Mèo và khu tự trị Tày Nùng bị khai tử, không khác cái chết âm thầm của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam và Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên.

Những cột trụ gốc dân tộc thiểu số, điển hình là Thượng Tướng Chu Văn Tấn hoặc Lê Quảng Ba bị giam cầm và thủ tiêu. Những điều hứa hẹn dành cho dân tộc thiểu số trước đây đều là bánh vẽ. Bên Cao Miên thì Khmer Rouge đã xử tử Y-Bham Enoul cùng với vợ con ông ta và khoảng 100 quân FULRO.

Năm 1986, khoảng 200 quân FULRO vượt biên giới qua Thái xin tỵ nạn chính trị và sau cùng định cư tại North Carolina. Năm 1992 thêm 400 quân FULRO ra trình diện với LHQ tại tỉnh Mondukiri và cuối cùng đã sang định cư tại North Carolina. Phong trào FULRO chính thức bị khai tử từ năm đó.

Riêng tại Tây Nguyên, cũng từ sau năm 1975, với khoảng 40,000 người Thượng đã từng là quân nhân hoặc cán bộ phục vụ cho Hoa Kỳ, dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã là đối tượng của những chính sách thiếu khoan dung. Giống như tình trạng của những quân nhân và cán bộ VNCH, họ đã bị giam cầm trong những trại học tập cải tạo. Một số bị tra tấn và bị giết.

Nhưng bất hạnh của những người DEGAR không phải chỉ có thế. Chương trình định canh định cư đã cưỡng đoạt quyền sống của họ một cách thô bạo. Chương trình di dân Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tỉnh từ miền bắc vào Tây Nguyên đã cưỡng đoạt đất sống của họ một cách trắng trợn. Chương trình cưỡng bức kế hoạch hóa gia đình đã cố ý triệt khả năng sinh đẻ của họ để diệt chủng dần dà (creeping genocide) một cách thâm độc. Thêm vào đó họ còn bị cầm tù, bị hãm hiếp, bị tra tấn và bị giết hại một cách tàn ác chỉ vì theo đạo Tin Lành DEGAR.

Rồi trong tháng 2 năm 2001, một cuộc biểu tình lớn đã nổ ra tại Dak Lak. Hàng chục ngàn người Thượng đã tập trung về thị xã Buôn Mê Thuột để phản đối nhà cầm quyền CSVN đã đối xử tàn tệ với họ. Cuộc biểu tình bị đàn áp và dẹp tan bằng vũ lực. Tiếp theo đó là những đợt bắt bớ, tra tấn và giết hại. Hàng ngàn người Thượng đã bỏ trốn vào rừng và vượt biên giới sang Cao Miên. Dọc biên giới, công an và bộ đội CSVN đã mở những cuộc hành quân săn đuổi và bắn giết họ như là săn giết những con thú nơi hoang dã. Con số tử vong thực sự có lẽ cao hơn rất nhiều so với những con số đã được những tổ chức quốc tế báo cáo.

Rồi ngày 20 tháng 4 năm 2004 một cuộc biểu tình khác, quy mô hơn và nhịp nhàng hơn, đã nổ ra tại Tây Nguyên. Hàng trăm ngàn người Thượng đã tập trung biểu tình tại nhiều nơi: Buôn Mê Thuột, Ayunpa, Dak Mil, Cu Jut, Phước Long, Kon Tum. Dầu những người tham dự biểu tình đã có chủ trương không bạo động, máu vẫn đổ dưới sức ép của bạo quyền. Hàng trăm người bị thiệt mạng và hàng trăm người khác bị đã thương. Cũng như lần trước, sau khi đàn áp và dẹp tan cuộc biểu tình là những đợt càn quét, bắt bớ, tra tấn, và giết hại một cách dã man. Điển hình là trường hợp của nạn nhân Y-Rung Nie, một người đàn ông của buôn Kna tham dự biểu tình, đã bị công an xử tử tại một vườn cà phê bằng cách đóng đinh lên một thập tự giá với 4 cây đinh lên hai chân, 4 cây đinh lên hai tay, 1 cây đinh lên ngực và 2 cây đinh lên đầu.

Có thể nói một cách khẳng định, những lời hoa mỹ “bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các sắc tộc” lập đi lập lại trong những kỳ đại hội đảng lần 7 và 9 đều là những lời dối trá.

Tây Nguyên có khoảng 3 triệu người Thượng dưới thời Pháp trị. Đến nay chỉ còn lại khoảng 1.1 triệu người. Trong đó Jarai chiếm 320,000; Rhade chiếm 258,000; Bahnar chiếm 181,000; Stieng chiếm 66,000; Koho chiếm 122,000; và Mnong chiếm 89,000. Hơn 40 sắc tộc đã bị xóa tên.

Đứng trước âm mưu diệt chủng của chế độ, đứng trước tình trạng bất công và áp bức của giới cầm quyền, đứng trước tình trạng quyền sống căn bản của con người bị tước đoạt thô bạo, người Thượng Tây Nguyên không thể không đứng dậy để đấu tranh và chắc chắn là sẽ tiếp tục đứng dậy để đấu tranh.

Những chính sách thiếu độ lượng, những tham lam quá đáng, những ứng xử thất đức và kém cỏi đã làm cho đại thể dân tộc của đất nước Việt Nam bị rạn nứt trầm trọng. Chỉ một tác lực từ bên ngoài, đúng lúc và đúng tần số, cái gọi là khối dân tộc Việt Nam đó có thể sẽ vở ra thành nhiều mảnh.

LBĐNAC Là Một Lối Thoát Tốt Đẹp Duy Nhất Cho Việt Nam

Nếu muốn hóa giải những đe dọa triền miên vừa nêu, một sự chuyển hóa kịp lúc để đưa đến những thay đổi tận gốc rễ là một lộ trình phải thực hiện. Nhu cầu này có thể khẳng định được. Vấn đề chỉ là làm thế nào. Trên căn bản đó, LBĐNAC là một giải pháp tốt đẹp cho Việt Nam.

Tốt đẹp vì nó mở ra một cơ hội hiếm hoi và tuyệt vời để thực hiện một cuộc chuyển hóa nhịp nhàng và khá ổn định.

Tốt đẹp vì tiết kiệm được xương máu.

Tốt đẹp vì bảo vệ được quyền lợi của mọi phía.

Tốt đẹp vì mở ra một tiền đồ đầy hứa hẹn cho dân tộc.

Tốt đẹp vì xua được bóng tối của một thời.

Tốt đẹp vì thể hiện một tình thương lớn.

Và dĩ nhiên là tốt đẹp vì những lợi ích chung.

Một Việt Nam hiện tại nên được tách thành nhiều tiểu bang trong tương lai, và nếu cần thiết cứ cho lập lại những khu vực tự trị. Nhiều tiểu bang độc lập và những khu tự trị cùng nằm trong quần thể LBĐNAC – bảo đảm bởi một hiến pháp tốt đẹp – để ước vọng mỗi miền, nhu cầu mỗi miền, phong tục văn hóa mỗi miền được đáp ứng đúng mức và đáp ứng một cách hiệu quả [tránh tình trạng một chiếc mền đấp cho cả ba miền Trung, Nam, Bắc hoặc đấp chung cho người kinh lẫn thượng].

Giải Pháp Lâu Dài: Trói & Thịt Con Rồng Đỏ!
Liên Bang Đông Nam Á Châu, nếu thành hình, sẽ khai phóng mạnh mẽ tiềm năng của những tiểu bang để đạt tới sức mạnh kinh tế, ngoại giao và quân sự xứng đáng gọi là cường quốc với một tốc độ kỷ lục; thành quả mà mỗi thành viên trong khối nếu tiếp tục duy trì hình thái quốc gia đơn lẻ như hiện giờ sẽ không thể đạt tới được.

Theo đà lớn mạnh đó, tương lai của sáu quốc gia VMLMTM sẽ được bảo đảm hơn. Như vậy, nếu thành hình, LBĐNAC sẽ là một bảo hiểm tốt cho sự sinh tồn lâu dài của sáu dân tộc VMLMTM và những dân tộc thiểu số khác sống trong quần thể này ở thiên niên kỷ mới. Cũng theo đà lớn mạnh đó, LBĐNAC sẽ gánh vác tích cực hơn và hiệu quả hơn việc duy trì an ninh cho chính nó và cho những quốc gia lân cận. Như vậy, nếu thành hình, LBĐNAC sẽ là một lá chắn an ninh cho toàn vùng Đông Nam Á.

Là một phần của vòng đai bao vây tiếp cận, LBĐNAC sẽ là một mảng của mạng thiên la địa võng trong chiến lược BVKCLBTQ [bao vây, kềm chế, làm bể Trung Quốc] do Hoa Kỳ chủ động thực hiện. Sự hình thành, lớn mạnh và hiệu quả của LBĐNAC có thể ngăn chận kịp thời không để cho những hiểm họa trước mắt trở thành thảm trạng thực sự cho vùng Đông Nam Á và cho toàn thế giới.

Những Lợi Ích Chung Cho VML Nếu LBĐNAC Thành Hình

Như đã trình bày, nền móng cho sự hình thành một LBĐNAC gồm trọn vẹn sáu nước VMLMTM nằm ở chỗ trước tiên ba quốc gia lân cận VML phải hợp tác và chuyển hóa để tiến tới việc thành hình một quần thể liên bang nhân bản, dân chủ, pháp trị rồi sau đó các nước Miến Điện, Mã Lai và Thái Lan mới tuần tự gia nhập. Chỉ với một LBĐNAC sơ khởi, trong đó gồm 7 tiểu bang và một đặc khu hành chánh hình thành từ ba quốc gia VML, chưa nói tới sự gia nhập của Miến Điện, Thái Lan và Mã Lai sau đó, cũng đã cho nhiều lợi ích to lớn và thiết thực về mặt quốc phòng, kinh tế và nội trị. Lợi ích quốc phòng đã được đề cập trong phần Hiểm Họa Quốc Phòng và Hiểm Họa Mêkông.

Lợi Ích Kinh Tế

Yếu Tố Dân Số – Lãnh thổ Việt Nam chiếm 329,560 km vuông với một khối dân số là 83.5 triệu người, hay là 253.5 người trên một cây số vuông. Lãnh thổ Cao Miên chiếm 176,520 km vuông với một khối dân số là 13.6 triệu người, hay là 77.09 người trên một cây số vuông, tỷ lệ 3.29:1 so với mật độ dân số của Việt Nam. Lãnh thổ Lào chiếm 236,800 km vuông với một khối dân số là 6.2 triệu người, hay là 26.25 người trên một cây số vuông, tỷ lệ 9.66:1 so với mật độ dân số của Việt Nam. Thực trạng cần tìm ra lối thoát: Cao Miên và Lào thiếu yếu tố dân số để giúp cho việc phát triển kinh tế của quốc gia.

Yếu Tố Dân Trí – Tính từ 15 tuổi trở lên, Việt Nam có đến 90.3% của 83.5 triệu dân là biết đọc và viết. Trong khi đó Cao Miên chỉ có 69.4% trong số 13.6 triệu dân và Lào chỉ có 66.4% trong số 6.2 triệu dân là biết đọc và biết viết.

Thực trạng cần tìm ra lối thoát: Cao Miên và Lào thiếu yếu tố dân trí để giúp cho việc phát triển kinh tế của quốc gia.

Yếu Tố Lực Lượng Lao Động – Lực lượng nhân công của Việt Nam lên đến 42.98 triệu, theo ước tính 2004, với 63% của tổng số đó phục vụ trong khu vực nông nghiệp và 37% phục vụ trong khu vực kỹ nghệ và dịch vụ. Khoảng 60% của dân số có tuổi dưới 30 và khoảng 1.5 triệu người mới gia nhập vào lực lượng nhân công mỗi năm. Việt Nam có một tiềm năng nhân sự rất lớn và trẻ trung. Lực lượng nhân công của Cao Miên được 7 triệu, theo ước tính 2003, với 75% của tổng số phục vụ trong khu vực nông nghiệp. Lực lượng nhân công của Lào, theo ước tính năm 2001, được 2.6 triệu, với 80% của tổng số phục vụ trong khu vực nông nghiệp. Nếu tính mật độ nhân công, Việt Nam có 129.9 người lao động trên mỗi km vuông mặt đất trong khi đó Cao Miên chỉ có 39.66 người trên mỗi km vuông và Lào chỉ có 10.98 người trên mỗi km vuông.

Thực trạng cần tìm ra lối thoát: Cao Miên và Lào không đủ nhân lực lao động để giúp cho việc phát triển kinh tế của quốc gia.

Yếu Tố Hiệu Năng Sản Xuất – vào năm 2004, tổng lượng kinh tế của Việt Nam là 227.2 tỉ ID (International Dollars), GDP tính theo PPP. Chia đều tổng lượng kinh tế của quốc gia cho 42.98 triệu người của lực lượng nhân công, mức sản xuất bình quân của mỗi nhân công lao động là 5,286 ID một năm. So với Cao Miên, ước tính 2003, mức sản xuất bình quân của mỗi nhân công lao động là 3,658 ID một năm và so với Lào, ước tính 2001, mức sản xuất bình quân cho mỗi nhân công lao động là 3,784 ID một năm.

Thực trạng cần tìm ra lối thoát: hiệu năng sản xuất của Cao Miên và Lào còn quá thấp và điều này không có lợi cho việc phát triển kinh tế của quốc gia.

Yếu Tố Vận Chuyển – Với hệ thống vận chuyển trên bộ Việt Nam có được tất cả là 93,300 km đường xe, trong đó 23,418 km đã tráng nhựa và 69,882 km chưa tráng nhựa. Cộng thêm 2,600 km đường sắt, trong đó 178 km đường có chiều ngang 1.435 mét đúng tiêu chuẩn, 2,169 km đường có chiều ngang 1.00 mét hẹp hơn tiêu chuẩn và 253 km đường kép. Cao Miên có được tất cả là 12,323 km đường xe, trong đó 1996 km đã tráng nhựa và 10,327 km chưa tráng nhựa. Cộng thêm 602 km đường sắt có chiều ngang 1.00 mét hẹp hơn tiêu chuẩn. Lào có được tất cả là 21,716 km đường xe, trong đó 9,664 km đã tráng nhựa và 12,052 km chưa tráng nhựa.

Với hệ thống vận chuyển trên nước Việt Nam có tất cả là 17,702 km đường sông và trong đó 5,000 km chỉ thích hợp cho thuyền nhỏ từ 1.8m chiều ngang trở xuống; 3,444 km bờ biển; 9 cảng bốc dỡ [Cam Ranh, Đà Nẵng, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Hạ Long, Quy Nhơn, Nha Trang, Vinh, Vũng Tàu]; 194 thương thuyền có tải trọng trên 1,000 GRT (gross registered tonage) với trọng tải tổng cộng là 1.17 triệu tấn. Cao Miên có được 2,400 km đường sông chính yếu là theo dòng Mekong; 443 km bờ biển; 6 cảng bốc dỡ và bến neo [Kampong Saom, Kampot, Krong Kaoh Kong, Phnom Penh, Sre Ambol, Keo Phoh Port]; 479 thương thuyền có tải trọng trên 1,000 GRT với trọng tải tổng cộng là 1.91 triệu tấn. Lào có được tất cả là 4,600 km đường sông trong đó chính yếu là dòng Mekong và phụ lưu; cộng thêm 2,897 km đường nước có lúc đi được có lúc không đi được cho ghe nhỏ lường sâu dưới 0.5 mét; không có cảng bốc dỡ; và chỉ có 1 thương thuyền có tải trọng 2,370 GRT.

Với hệ thống vận chuyển trên không Việt Nam có tất cả là 24 phi cảng trong đó 21 có phi đạo trải nhựa và 3 có phi đạo chưa trải nhựa. Trong số 21 phi cảng có phi đạo trải nhựa thì 6 có phi đạo dài trên 3,047 mét; 5 có phi đạo dài từ 2,438 mét tới 3,047 mét; 9 có phi đạo dài từ 1,524 mét cho tới 2,437 mét; và 1 có phi đạo dài từ 914 mét cho tới 1,523 mét. Trong số 3 phi cảng có phi đạo chưa trải nhựa thì 1 có phi đạo dài từ 1,524 mét cho tới 2,437 mét; 1 có phi đạo dài từ 914 mét cho tới 1,524 mét; và 1 có phi đạo ngắn dưới 914 mét. Cao Miên có tất cả là 20 phi cảng trong đó 6 có phi đạo trải nhựa và 14 có phi đạo chưa trải nhựa. Trong số 6 phi cảng có phi đạo trải nhựa thì 2 có phi đạo dài từ 2,438 mét tới 3,047 mét; 2 có phi đạo dài từ 1,524 mét cho tới 2,437 mét; và 2 có phi đạo dài từ 914 mét cho tới 1,523 mét. Trong số 14 phi cảng có phi đạo chưa trải nhựa thì 2 có phi đạo dài từ 1,524 mét cho tới 2,437 mét; 11 có phi đạo dài từ 914 mét cho tới 1,524 mét; và 1 có phi đạo ngắn dưới 914 mét. Lào có tất cả là 44 phi cảng trong đó 9 có phi đạo trải nhựa và 35 có phi đạo chưa trải nhựa. Trong số 9 phi cảng có phi đạo trải nhựa thì 1 có phi đạo dài từ 2,438 mét tới 3,047 mét; 5 có phi đạo dài từ 1,524 mét cho tới 2,437 mét; và 3 có phi đạo dài từ 914 mét cho tới 1,523 mét. Trong số 35 phi cảng có phi đạo chưa trải nhựa thì 1 có phi đạo dài từ 1,524 mét cho tới 2,437 mét; 13 có phi đạo dài từ 914 mét cho tới 1,524 mét; và 21 có phi đạo ngắn dưới 914 mét.

Với hệ thống vận chuyển đường ống Việt Nam có tất cả 851 km đường ống trong đó 432 km đường ống dẫn khí đốt dạng lỏng; 210 km đường ống dẫn khí đốt dạng hơi, 3 km đường ống dẫn dầu; và 206 km đường ống dẫn sản phẩm tinh chế. Cao Miên không có đường ống. Lào có 540 km đường ống dẫn những sản phẩm tinh chế.

Với hệ thống vận chuyển tin tức Việt Nam có tất cả là 4.4 triệu đường điện thoại dây; 2.74 triệu đường điện thoại di động; 101 trạm phát sóng radio trong đó gồm 65 trạm AM, 7 trạm FM và 29 trạm SW; 7 trạm phát sóng TV và 13 trạm trung chuyển (repeaters); 340 ISPs với 3.5 triệu người sử dụng internet thường xuyên. Cao Miên có tất cả là 35.4 ngàn đường điện thoại dây; 380 ngàn đường điện thoại di động; 19 trạm phát sóng radio trong đó gồm 2 trạm AM và 17 trạm FM; 7 trạm phát sóng TV; 818 ISPs với 30 ngàn người sử dụng internet thường xuyên. Lào có tất cả là 61.9 ngàn đường dây điện thoại dây; 55.2 ngàn đường điện thoại di động; 17 trạm phát sóng radio trong đó gồm 12 trạm AM, 1 trạm FM và 4 trạm SW; 4 trạm phát sóng TV; 937 ISPs với 15 ngàn người sử dụng internet thường xuyên.

Thực trạng cần tìm ra lối thoát: những hệ thống vận chuyển của Cao Miên và Lào còn quá thiếu thốn, và đôi khi bị giới hạn vì điều kiện địa dư, thí dụ như Lào không có bờ biển để lập cảng bốc dỡ hàng hóa, điều này không có lợi cho việc phát triển kinh tế của quốc gia.

Yếu Tố Năng Lượng – Việt Nam sản xuất tất cả là 34.48 tỉ kWh điện trong một năm, tính vào năm 2002; 1.3 tỉ thước khối khí đốt, tính vào năm 2001; 359400 thùng dầu thô mỗi ngày, tính vào năm 2004. Cao Miên sản xuất tất cả là 122 triệu kWh điện trong một năm, tính vào năm 2003; không có dầu hỏa; không có khí đốt. Lào sản xuất tất cả là 3.56 tỉ kWh điện trong một năm, tính vào năm 2002; không có dầu hỏa; không có khí đốt.

Thực trạng cần tìm ra lối thoát: Cao Miên quá thiếu thốn năng lượng và Lào chưa tận dụng tiềm năng của thủy điện và những điều này sẽ hạn chế việc phát triển kinh tế của quốc gia.

Cơ Hội – Dưới điều kiện hiện nay của Cao Miên và Lào, muốn trở thành một quốc gia phát triển là điều rất khó. Thêm 30 năm nữa, dầu không có chiến tranh xảy ra, Cao Miên và Lào cũng chưa chắc đã thoát khỏi cảnh nghèo đói lạc hậu. Với tốc độ phát triển càng lúc càng nhanh của những quốc gia lân cận, vì kinh tế của những quốc gia này đã có đà để bốc lên, khoảng cách giữa Cao Miên và Lào với những quốc gia đó có lẽ càng ngày sẽ càng xa hơn. Đây là một thảm kịch đối với dân tộc Miên và Lào. Đồng thời là một đe dọa tới sự tồn vong của hai quốc gia này.

Việt Nam tuy vẫn là một quốc gia lẹt đẹt so với những quốc gia khác trong khối ASEAN, như Thái Lan hoặc Mã Lai, nhưng nó có một tiềm năng nhân sự rất lớn. Đồng thời những hệ thống vận chuyển người, vận chuyển vật liệu hàng hóa, vận chuyển tin tức, vận chuyển tài chính cũng đã hình thành khá đầy đủ. Thêm vào đó, một bờ biển dài 3,444 km cho nó một vị thế vô cùng thuận lợi trong việc vận chuyển đường biển, chưa nói đến nguồn tài nguyên dồi dào trong lòng biển và dưới đáy biển.

Với tiềm năng nhân sự to lớn của Việt Nam; với ưu thế mặt tiền nhìn ra biển Đông của Việt Nam; với nguồn dầu hỏa và khí đốt của Việt Nam; với ưu thế mặt tiền nhìn ra vịnh Thái Lan của Cao Miên; với tiềm năng cung ứng thủy điện và cung ứng nước cho nông nghiệp và kỹ nghệ của dòng Mekong trên đất Cao Miên và Lào chưa được khai thác; với một lãnh thổ rộng 742,880 km vuông có nhiều tài nguyên trên mặt đất và dưới lòng đất chưa được khai thác; với một thị trường trên 100 triệu dân . ..cộng với tình trạng an ninh trở nên ổn định hơn, với môi trường chính trị hoàn toàn cởi mở và tự do; với không khí lạc quan có sức thu hút vốn đầu tư của ngoại quốc (FDI) nhiều hơn, với tiềm năng mượn vốn lớn hơn, với sức mạnh ngoại giao có tầm vóc hơn, với nguồn sinh lực mới chưa bao giờ có . . . ba nước VML, nếu kết hợp để khai thác trọn vẹn những yếu tố hỗ tương này, thì nhất định tiền đồ kinh tế sẽ sáng hơn nhiều.

LBĐNAC, nếu thành hình, sẽ khai phóng mạnh mẽ tiềm năng kinh tế của ba nước để đạt tới sức mạnh xứng đáng gọi là cường quốc với một tốc độ kỷ lục; thành quả mà mỗi thành viên trong khối nếu tiếp tục duy trì hình thái quốc gia đơn lẻ như hiện giờ khẳng định là sẽ không bao giờ đạt tới được.

Lợi Ích Nội Trị

Về mặt hành chánh Việt Nam có tất cả 59 tỉnh lỵ và 5 đô thị. Mức công thu hàng năm là 10.66 tỉ USD và mức công chi hàng năm là 13.09 tỉ USD, tính vào năm 2004. Về mặt chính trị Việt Nam chỉ có một đảng duy nhất đó là Đảng Cộng Sản Việt Nam (Communist Party of Việt Nam), tổng bí thư hiện thời là Nông Đức Mạnh. Quốc Hội Việt Nam có tất cả 498 ghế với nhiệm kỳ 5 năm. Đảng viên chiếm 447 ghế và 51 ghế còn lại chiếm bởi ứng cử viên không có đảng tịch nhưng họ được đảng đồng ý để cử. Tuy là bỏ phiếu tuyển cử nhưng tất cả ứng viên đều do đảng tuyển chọn để đưa ra. Kỳ bầu cử vừa rồi là vào ngày 19 tháng 5 năm 2002 và kỳ bầu cử kế sẽ được tổ chức vào năm 2007. Hiện thời Chủ Tịch Nước là Trần Đức Lương [nắm chức vụ từ ngày 24 tháng 9 năm 1997 cho đến nay]; Thủ Tướng là Phan Văn Khải [nắm chức vụ từ ngày 25 tháng 9 năm 1997 cho đến nay]; và các vị Phó Thủ Tướng là Nguyễn Tấn Dũng [nắm chức vụ từ ngày 29 tháng 9 năm 1997 cho đến nay], Phạm Gia Khiêm [nắm chức vụ từ ngày 29 tháng 9 năm 1997 cho đến nay] và Vũ Khoan [nắm chức vụ từ ngày 8 tháng 8 năm 2002 cho đến nay].

Về mặt hành chánh Cao Miên có tất cả 20 tỉnh lỵ và 4 đô thị. Mức công thu hàng năm là 548.2 triệu USD và mức công chi hàng năm là 836.7 triệu USD, tính vào năm 2004, trong số đó 291 triệu USD là chi cho tư bản thực hữu (capital expenditure) với 75% là do nước ngoài tài trợ. Về mặt chính trị Cao Miên có tất cả 3 chính đảng đang hoạt động trong nước: CPP (Đảng Nhân Dân Cao Miên/ Cambodian Pracheachon Party/ Cambodian People’s Party), chủ tịch đảng là Chea Sim; FUNCINPEC (National United Front for an Independent, Neutral, Peaceful, and Cooperative Cambodia), chủ tịch là Hoàng Tử Norodom Ranariddh; và SRP (Sam Rangsi Party/ Đảng Sam Rangsi), chủ tịch là Sam Rangsi. Trong số 123 ghế tại Quốc Hội thì CPP nắm 73, FUNCINPEC nắm 26 và SRP nắm 24. Trong số 61 ghế tại Thượng Nghị Viện thì CPP nắm 31, FUNCINPEC nắm 21 và SRP nắm 7. Kỳ bầu cử cuối cùng vào ngày 27 tháng 7 năm 2003 và kỳ bầu cử tới dự trù vào tháng 7 năm 2008. Hiện thời Quốc Vương là Norodom Sihamoni [vừa lên ngôi ngày 29 tháng 10 năm 2004]; Thủ Tướng là Hun Sen [nắm giữ chức vụ từ ngày 14 tháng 1 năm 1985 cho tới nay] và các vị Phó Thủ Tướng là Sar Khen [nắm chức vụ từ ngày 3 tháng 2 năm 1992 cho tới nay], Norodom Sirivudh, Sok An, Lu Lay Sreng, Tea Banh, Hor Namhong, Nhek Bunchhay [mới nắm chức vụ từ ngày 16 tháng 7 năm 2004).

Về mặt hành chánh Lào có tất cả 16 tỉnh thành, 1 đô thị và 1 đặc khu. Mức công thu hàng năm là 284.3 triệu USD và mức công chi hàng năm là 416.5 triệu USD, tính vào năm 2004. Về mặt chính trị, Lào chỉ có một đảng duy nhất là Đảng Cách Mạng Của Nhân Dân Lào (Lao People’s Revolutionary Party or LPRP) và chủ tịch đảng là Khamtai Siphadon. Tất cả những đảng phái đối lập đều chạy ra hải ngoại từ 1975. Quốc Hội Lào có tất cả 109 ghế với nhiệm kỳ 5 năm. Tuy là bỏ phiếu tuyển cử nhưng tất cả ứng viên đều do ĐCSL tuyển chọn để đưa ra. Kỳ bầu cử vừa rồi là vào ngày 24 tháng 2 năm 2002 và kỳ bầu cử kế sẽ được tổ chức vào năm 2007. Hiện thời Chủ Tịch Nước là Tướng Khamtai Siphadon [nắm giữ chức vụ từ ngày 26 tháng 2 năm 1998 cho đến nay]; Phó Chủ Tịch Nước là Tướng Choummali Saignason [nắm giữ chức vụ từ ngày 27 tháng 3 năm 2001]; Thủ Tướng là Boungnang Volachit [nắm giữ chức vụ từ ngày 27 tháng 3 năm 2001] và các vị Phó Thủ Tướng là Bouasone Bouphavanh [nắm giữ chức vụ từ ngày 3 tháng 10 năm 2003], Tướng Asang Laoli [nắm giữ chức vụ từ tháng 5 năm 2002], Thongloun Sisolit [nắm giữ chức vụ từ ngày 27 tháng 3 năm 2001] và Somsavat Lengsavat [nắm giữ chức vụ từ ngày 26 tháng 2 năm 1998]

Thực trạng cần tìm ra lối thoát: Cơ chế điều hành quốc gia của ba nước VML hiện thời là những cơ chế được xây dựng trên nền tảng bạo quyền. Bạo quyền luôn luôn hấp dẫn bạo lực! Những bàn cải nội trị xoay quanh xu hướng bạo lực. Những thiện chí cải thiện nội trị bị ngăn cản bởi bạo lực. Những giải pháp nội trị đi quanh rồi cũng quay về với bạo lực. Bạo lực rình rập khắp mọi nơi trong mọi khía cạnh của đời sống. Mọi người đều trở thành là nạn nhân của một guồng máy khống trị thành hình từ bạo quyền.

Cái vòng bạo lực lẩn quẩn ngu muội ấy, nếu không tìm cách thoát ra, sẽ tiếp tục giam hãm tiềm năng của đất nước, sẽ tiếp tục giam hãm đời sống của nhân dân trong bóng tối buồn tẻ, sẽ tiếp tục giam hãm tâm thần của những người đang nắm quyền khống trị trong không khí nhiễm độc; sẽ tiếp tục đẩy đất nước gần tới bờ vực diệt vong.

Cơ hội: Sở dĩ người ta [kẻ đang khống trị lẫn kẻ đang bị khống trị] phải sử dụng đến bạo lực để thay đổi một cơ chế điều hành đất nước là tại vì hiến pháp của đất nước đó không cho người dân một con đường nào khác. Nếu một hiến pháp thật sự cho phép thay đổi một cơ chế điều hành đất nước trong trật tự và ổn định thì không có một lý do gì người ta phải sử dụng bạo lực. Sở dĩ người ta [kẻ đang khống trị lẫn kẻ đang bị khống trị] phải sử dụng bạo lực vì họ lo sợ bị bạo lực tàn hại. Nếu một cơ chế điều hành đất nước được kiến tạo trên nền tảng của một hiến pháp dân chủ, nhân bản, pháp trị thì không có lý do gì người ta phải lo sợ đến độ phải sử dụng bạo lực để chống trả.

VML chuyển hóa và kết hợp thành một quần thể LBĐNAC nhân bản, dân chủ, pháp trị thì nhất định tình hình nội trị sẽ ổn định và sáng sủa hơn nhiều.

Việt Nam Sẽ Phải Chuyển Hoá, Không Có Sự Chọn Lựa Khác!
Như đã nói nếu muốn hóa giải những đe dọa triền miên đã nêu, một sự chuyển hóa kịp lúc để đưa đến những thay đổi tận gốc rễ là một lộ trình phải thực hiện. Nhu cầu này có thể khẳng định được. Vấn đề chỉ là làm thế nào.

Một Sự Chuyển Hóa Tự Nguyện — Chính quyền Việt Nam phải thấy cửa sổ cơ hội hiếm hoi chỉ mở ra trong một thời gian ngắn và phải chộp lấy trước khi nó vuột mất. Chính quyền Việt Nam phải quay lại với chính nghĩa dân tộc để thẳng thắn và mạnh dạn liên minh với Hoa Kỳ và đồng minh chống lại Trung Quốc.

Muốn thực hiện bước tiến “180 độ” [ngược] này chính quyền Việt Nam phải bất ngờ nhanh chóng “vô hiệu hóa” thành phần xxxxxxxx đang lặng lẽ giám sát trong bóng tối và bất ngờ nhanh chóng “lọc máu” để khai trừ cán bộ tình báo Trung Cộng đội lốt người Việt ẩn trong số cán bộ đảng viên cao cấp. Ngoài hai việc mạnh tay cần thiết vừa nêu, tất cả đều phải được duy trì cho đến khi chuyển đổi sang cơ chế LBĐNAC, nhất là duy trì quân đội và những ngành an ninh không cho đất nước rớt vào tình trạng hỗn loạn để bảo vệ nội lực của đất nước hầu chống lại vũ lực Trung Quốc có thể giáng xuống bất cứ lúc nào.

Một sự chuyển hóa cần phải thực hiện nhanh chóng và quyết liệt trước khi chiến tranh trong vùng bùng nổ. Một pháp lệnh “không truy xét quá khứ” áp dụng cho tất cả đảng viên, cán bộ nhà nước và quân nhân các cấp phải được ban hành đúng lúc và một cam kết thực hiện chính sách đại đoàn kết phải được công bố rộng rãi. Đảng CSVN tuy không bị buộc phải giải tán nhưng phải tách rời khỏi cơ chế nhà nước đồng thời đảng viên được phép ly khai và trả lại đảng tịch. Nhà nước phải trở về với vai trò chủ động trong công việc điều hành đất nước, không để cho đảng CSVN tiếp tục khống chế. Quân đội phải trở về với vai trò chủ động trong sứ mạng bảo vệ lãnh thổ, không để cho đảng CSVN tiếp tục khống chế. Công an phải quay trở về với vai trò chủ động trong công tác giữ gìn an ninh công cộng, không để cho đảng CSVN tiếp tục khống chế. Song song, Việt Nam phải gấp rút tiến hành thực thi giải pháp LBĐNAC.

Khối người Việt ở hải ngoại, vì sự sinh tồn của dân tộc và vì an ninh cho toàn vùng, có nhiệm vụ phải hỗ trợ và dồn mọi nỗ lực để giúp đỡ cho sự chuyển hóa kịp thời này và cùng liên kết chống kẻ thù Trung Quốc. Khối người Việt hải ngoại phải hiểu rõ nếu chính quyền Việt Nam bị tan rã [thay vì chuyển hóa], nhất là trong tình trạng lực lượng quân sự và an ninh không còn nguyên vẹn, một cơ hội sẽ mở ra cho Trung Quốc mang quân chiếm đóng Việt Nam và theo đó là một cuộc tàn sát đẫm máu, nhưng là máu của dân Việt, cho quyền lợi và tham vọng của Trung Quốc vươn lên cao hơn. Thêm vào đó, điều mà khối người Việt hải ngoại muốn nhìn thấy là một sự chuyển hóa tận gốc rễ đưa đến một cơ chế điều hành đất nước nhân bản, dân chủ và pháp trị cho toàn dân. Nếu cán bộ, quân nhân và quần chúng quốc nội quay mình lại với chính nghĩa dân tộc để đi theo con đường vừa nói thì không có lý do gì khối người Việt hải ngoại không tận lực hỗ trợ.

Các chính đảng đang hoạt động trong và ngoài nước cũng phải tự kềm chế lấy tham vọng chính trị, không lợi dụng tình hình để khuấy thành những biến động “nồi da xáo thịt.” Điều mà mọi người muốn là một giải pháp tốt đẹp cho đất nước chứ không phải cho tham vọng ích kỷ của cá nhân hoặc đảng phái, cũng không nhằm mục đích vay trả ân oán, lại càng không phải để khôi phục bất cứ một chế độ nào đã qua. Điều mà mọi người nên làm là tập trung mọi nỗ lực để hỗ trợ cho việc thành hình một LBĐNAC nhân bản, dân chủ, pháp trị. Tất cả những tác lực dẫn đến hành động chiếm đóng lãnh thổ của Trung Quốc đều đi ngược lại quyền lợi dân tộc và sẽ bị kết tội.

Một Sự Chuyển Hóa Do Bị Cưỡng Bức — Các chuyên viên và lý thuyết gia kinh tế lẫn chính trị hy vọng vào cái quái thai gọi là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có thể dân chủ hóa được Trung Quốc và Việt Nam đã dần dần nhận ra một sự thật là họ đã lầm và lầm lớn. Họ đã hy vọng là kinh tế thị trường sẽ làm nảy sinh một tầng lớp tư sản trung lưu rộng lớn và tầng lớp này từng bước sẽ đẩy tiến trình dân chủ hóa để người dân trong đất nước được điều kiện sống tốt đẹp hơn và tự do hơn. Kinh tế thị trường quả thực, đúng như họ ước đoán, đã làm nảy sinh ra một tầng lớp tư sản trung lưu. Nhưng tầng lớp tư sản trung lưu trong một đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa không nhất thiết muốn dân chủ hóa, điều này họ ước tính sai.

Không muốn và không thể dân chủ hóa được vì một lý do rất đơn giản: giai cấp này mọc ra từ cơ chế đang cầm quyền và nuôi dưỡng bởi cơ chế đang cầm quyền. Dưới điều kiện như vậy, một hiệp ước cùng hiện hữu và cùng thống trị giữa tầng lớp doanh nhân và tầng lớp cầm quyền là một điều đương nhiên.

Và trong trường hợp của Việt Nam, trên 20 tổng công ty và 4,846 công ty doanh nghiệp được điều hành bởi nhân viên của đảng và chính quyền đưa qua, tầng lớp doanh nhân và tầng lớp cầm quyền chính là một thực thể hai khuôn mặt. Giai cấp này “được đặc quyền hoang phí phá tán của công, nạo hút máu mỡ của dân, gạ bán tài nguyên của nước” nhanh hơn và dễ hơn. Giai cấp này là công cụ để thế giới nhìn thấy một sự “phồn thịnh ảo” và che dấu một số lượng tài sản khổng lồ tập trung vào tay của một thiểu số “anh chị cầm quyền đảng và nhà nước” và trong tay của “anh chị đứng tên cho anh chị cầm quyền đảng và nhà nước.””

Giai cấp này gốc vốn là những con hỗ háo ăn dữ tợn đã chui qua một cái lồng ảo thuật của đoàn xiếc để biến thành những chàng/nàng hiền hậu dễ thương. Khán giả [quốc tế] tham dự ngây ngất vỗ tay tán dương và quên luôn là chúng thích thịt sống và đã ngốn rất nhiều thịt sống. Chỉ có đại đa số quần chúng là gánh chịu thua lỗ và chịu khổ. Tất cả những sự chỉ trích và phơi bày ồn ào đệ đạt từ phía “giai cấp doanh nhân con đẻ của định hướng xã hội chủ nghĩa” bất quá chỉ là tranh tụng nhau vì tranh ăn hoặc là đánh “phấn son dân chủ” để cho thế giới thưởng thức. Khi sự mất còn của chế độ bị đe dọa quyết liệt, có thể chính họ sẽ bao quanh bảo vệ chế độ.

Thiếu một lực lượng doanh nhân tư sản trung lưu “rộng lớn và độc lập” thêm vào đó là sự vắng mặt của (a) những công đoàn và một tổng liên đoàn lao động độc lập thực sự đại diện cho quyền lợi của giai cấp lao động thành thị; (b) một tầng lớp địa chủ không mọc ra từ chính quyền; và (c) một giai tầng nông dân có trình độ và được tổ chức thành một thực lực . . . tiến trình dân chủ hóa nhẹ nhàng không hy vọng có thể xảy ra tại Việt Nam.

Như vậy, cái còn lại để hy vọng, một động lực cho sự cải tổ chính trị của Việt Nam phải là một xung đột phát sinh từ bên trong giai cấp cầm quyền. Một xung đột mạnh mẽ tới mức độ đủ làm vỡ toàn bộ hệ thống hiện hữu (to shatter the whole system) để tái lập một hệ thống mới ở cấp độ cao hơn hoặc thấp hơn (to reorganize at a higher or lower order). Tái lập một hệ thống mới ở cấp độ cao hơn hoặc thấp hơn tùy thuộc vào số lượng mới của năng lực được bơm vào hệ thống đó.

Những cán bộ đảng viên cao cấp đang nắm quyền hạn lớn bên trong hệ thống đảng và nhà nước Việt Nam có thể thực hiện được những mâu thuẫn sâu sắc để gây nên động lực này. Những cán bộ tình báo Trung Cộng đang trá hình cán bộ đảng viên Việt Nam và đang nắm quyền hạn lớn bên trong hệ thống đảng và nhà nước cũng có thể thực hiện được những mâu thuẫn sâu sắc để gây nên động lực này. Nếu đảng và nhà nước Việt Nam không muốn thực hiện hoặc không thể thoát khỏi sự khống chế của Bắc Kinh để thực hiện một cuộc chuyển hóa nhẹ nhàng, một sự chuyển hóa cưỡng bức có thể xảy ra. Lực lượng người Việt hải ngoại trên toàn thế giới, nếu thực sự đấu tranh cho lý tưởng nhân bản dân chủ và được hướng dẫn theo một sách lược thống nhất để biến thành ngàn mũi nhọn, cũng có thể thực hiện những mâu thuẫn sâu sắc để gây nên động lực này. Và, Hoa Kỳ chắc chắn là có đủ mọi điều kiện để thực hiện ước muốn này cũng như có đủ điều kiện bơm vào một số lượng năng lực mới để tái lập một hệ thống mới ở cấp độ cao hơn.

Chỉ không may là một sự chuyển hóa cưỡng bức có thể dẫn tới những biến động ngoài dự liệu và đổ nhiều máu, những giọt máu cần được tiết kiệm để đối đầu với Trung Quốc.

Tiếp Tục Đi Con Đường Đang Đi: Một Viễn Ảnh Cực Kỳ Đen Tối — Viễn ảnh đáng sợ hơn cả cho tiền đồ của đất nước là nhân dân Việt Nam tiếp tục đi trên con đường đang đi một cách im lặng nhận chịu và nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục bám víu vào những gì đang có . . . cho đến khi đất nước hoàn toàn rớt vào tay Trung Cộng một cách “thân thiện.”” Một sự chuyển hóa tự nhiên. Nhưng, sự chuyển hóa này cũng đồng nghĩa với sự tiêu hóa và đối tượng bị tiêu hóa trong dòng sống Tàu chính là lãnh thổ, nòi giống và văn hóa Việt. Chọn không hành động gì cả tức là đã trực tiếp chọn một hành động và hành động đó sẽ đưa đến hậu quả không như ý muốn.

Nếu sự tiêu hóa đó có mang lại hạnh phúc thực sự cho 83.5 triệu dân Việt và những dân tộc khác trong vùng thì cũng tạm chấp nhận được. Nhưng với tham vọng “Hán hóa địa cầu, chiếm lĩnh kinh tế, thống nhất đại Trung Quốc” thì e rằng toàn dân Việt sẽ chỉ còn lại “khúc xương kinh tế” để nhai và vài triệu con em Việt sẽ phải làm lính cho Tàu để đánh chiếm thiên hạ cho Đại Trung Quốc giúp họ hoàn thành giấc mơ nhất thống thế giới.

Một khi chủ quyền đất nước đã lọt vào tay Trung Cộng, đòi lại là một chuyện . . . cứ nhìn vào Tây Tạng và Tân Cương sẽ thấy rõ câu trả lời.

Cần Vượt Qua Những Thành Kiến Bất Lợi
Hình thành LBĐNAC là một phần của chiến lược BVKCLBTQ. Tham dự vào chiến lược là chấp nhận làm đồng minh của Hoa Kỳ. Làm đồng minh của Hoa Kỳ là một ý kiến làm “bứt rứt” một số người không ít. Họ bứt rứt vì một số thành kiến cố hữu.

Định Kiến Thứ Nhất: Không Thể Tin Được Hoa Kỳ Vì Họ Đã Từng Bỏ Rơi Đồng Minh — Đặc tính “phản bạn” được gán cho Hoa Kỳ là một nhận xét “có căn bản” hay chỉ là “phản ảnh thất vọng” hoặc chỉ là “một ấn tượng hàm hồ” vì thiếu sự hiểu biết chín chắn về cơ chế dân chủ của Hoa Kỳ, về truyền thống dân chủ của đất nước Hoa Kỳ, về đặc tính thẳng thừng và cách làm việc dân chủ của người dân Hoa Kỳ?

Năm xưa, ngày 23 tháng 3 năm 1774, Henry Patrick đã tuyên bố “cho tôi tự do hoặc là cho tôi cái chết;” năm xưa, ngày 4 tháng 7 năm 1776, tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ đã tuyên bố “rằng tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng được Thượng Đế ban cho một số quyền không thể phân ly, rằng trong số đó là quyền tự do, quyền sống và quyền theo đuổi hạnh phúc” và đồng thời tuyên bố “rằng khi một cơ chế điều hành đất nước, dầu dưới dạng thể nào, hủy diệt những cứu cánh tối thượng đó thì người dân có quyền thay đổi hoặc hủy bỏ chính quyền đó;” năm xưa, ngày 20 tháng 1 năm 1961, Tổng Thống Kenedy đã tuyên bố “chúng ta sẽ trả bất cứ giá nào, sẽ chịu bất cứ gánh nặng nào, sẽ đáp lại bất cứ khó khăn nào, sẽ ủng hộ bất cứ bạn hữu nào, sẽ chống lại bất cứ kẻ thù nào, để bảo đảm cho sự sống còn và thành công của tự do” . . . thì cho đến ngày hôm nay Hoa Kỳ vẫn chưa bao giờ thay đổi lập trường của nó.

Hơn bao giờ hết, Hoa Kỳ ngày hôm nay có lòng tin mãnh liệt “những giá trị của tự do là đúng là chân lý cho mọi người, trong mọi xã hội –và trách nhiệm bảo vệ những giá trị này chống lại kẻ thù của chúng là một sứ mạng thiêng liêng của những người yêu chuộng tự do khắp nơi trên địa cầu và suốt mọi lứa tuổi–.””

Đúng là Hoa Kỳ đã từng bỏ rơi một vài đồng minh của nó. Nhưng Hoa Kỳ chỉ bỏ rơi những đồng minh lạm dụng lòng tốt và không thật tình chiến đấu cho tự do và những giá trị nhân bản, trong đó có miền nam Việt Nam, chứ chưa bao giờ bỏ rơi những bạn hữu.

Những chữ “bạn hữu của Hoa Kỳ” phải hiểu là chỉ dành cho những dân tộc yêu chuộng tự do thực sự và tranh đấu cho tự do thực sự và phải hiểu là chỉ dành cho những dân tộc yêu chuộng nhiệt tình và tranh đấu nhiệt tình để tiến tới một xã hội nhân bản, dân chủ, pháp trị.

Và hai chữ Hoa Kỳ phải được hiểu là “quần chúng Hoa Kỳ” đồng thời cũng phải hiểu là “quần chúng Hoa Kỳ có đủ thực quyền để giải thể chính quyền của họ” nếu cần thiết chứ đừng nói chi đến chuyện buộc chính quyền của họ phải “quay lưng” với những chính quyền đồng minh lợi dụng sự trợ giúp rồi nương vào đó củng cố cơ chế độc tài; nuôi dưỡng tệ trạng mua quan bán tước, bè phái, tham nhũng, hoang liêu, áp bức; hút lấy máu mở của dân mình và bám lấy vú sữa Hoa Kỳ để trục lợi.

Người ta thất vọng vì không hiểu rõ sự khác biệt giữa bạn hữu với đồng minh. Đồng minh là những quốc gia cùng chia sẻ gánh nặng hoặc lợi ích trên một chiến tuyến nào đó. Bạn hữu là những quốc gia cùng chia sẻ lý tưởng và giá trị cốt lõi làm nên đặc tính của đất nước. Bạn hữu thường là đồng minh, nhưng đồng minh không hẳn là bạn hữu.

Người ta thất vọng vì người ta muốn Hoa Kỳ cư xử như một “quân tử Tàu” chết sống cho đến cùng dầu đúng hay sai. Phải hiểu Hoa Kỳ là một quốc gia hoạch định và thực hiện mọi chính sách của nó dưới ánh sáng dẫn đường của lý tưởng và những giá trị cốt lõi — freedom, democracy, and free enterprise– và cho quyền lợi của công dân Hoa Kỳ chứ không hoạch định và thực hiện chính sách của nó để làm vừa lòng đồng minh.

Người ta thất vọng vì muốn Hoa Kỳ là một bà mẹ vạch vú mớm bầu sửa cho bú mỗi ngày. Một đồng minh là một đồng minh chứ không phải là một đứa con mà Hoa Kỳ phải cưu mang cho đến chết, nhất là đứa con hư hỏng.

Người ta thất vọng vì không chịu trưởng thành và không chịu chấp nhận một sự thật hiển nhiên là không có một quan hệ nào vĩnh viễn trường tồn. Hiểu rõ những điều này thì người ta mới thấy Hoa Kỳ có định hướng và có nguyên tắc ứng xử hẳn hòi. Hiểu rõ điều này thì mới thấy Hoa Kỳ không xấu như những thành kiến thiếu thiện cảm. Thiết nghĩ làm bạn với một quốc gia có lập trường rõ ràng và bất di bất dịch suốt hơn 200 năm hơn không phải là một điều khó. Nó chỉ khó vì chúng ta không hiểu hoặc cố tình không muốn hiểu.

Định Kiến Thứ Hai: Không Nên Liên Kết Với Một Nước Hoa Kỳ Có Nhiều Kẻ Thù Vì Hay Can Thiệp Vào Nội Bộ Nước Khác — Đúng là Hoa Kỳ có nhiều kẻ thù trên thế giới. Nhưng những quốc gia nào là kẻ thù của Hoa Kỳ? Phải chăng những quốc gia cộng sản? Phải chăng những quốc gia độc tài? Phải chăng những quốc gia đang bị khống trị bởi những tên đao phủ thủ? Phải chăng những quốc gia đang bị khủng bố bởi những tên lãnh chúa chiến tranh? Phải chăng những quốc gia đang bị lũng đoạn bởi những tên lãnh chúa ma dược? Phải chăng những quốc gia đang run sợ vì nhìn thấy chung quanh thể chế phi dân chủ, phi nhân bản đang sụp đổ và đe dọa tới chúng? Nếu là vậy chúng ta muốn nhìn thấy Hoa Kỳ có nhiều kẻ thù hơn để cho những dân tộc tội nghiệp đang bị kẹt trong móng sắt của những cơ chế bạo ngược có cơ hội thoát ra và vươn mình hít thở không khí tự do.

Định Kiến Thứ Ba: Không Chơi Được Với Dân Mỹ Vì Họ Rất Xấc Xược — Dân Mỹ xấc xược hay vì chúng ta gắn bó quá lâu với “thái độ thập thò lo sợ, cách suy nghĩ méo mó cùn mằn, cách nói năng vòng vo uẩn khúc, cách hành sử lấp lửng nửa vời” theo quán tính tự cho là “khôn ngoan Á Đông” nên không chịu nổi cái sức mạnh đàn áp từ “thái độ thẳng thừng tự tin, cách suy nghĩ cởi mở thách thức, cách ăn nói rõ ràng khúc chiết, cách hành sử minh bạch rốt ráo” của người người Hoa Kỳ?

Mấy chữ khôn ngoan Á Đông phải đổi lại là khôn ngoan kiểu Tàu thì đúng hơn. Vì có nhiều dân tộc Á Châu không chia sẻ những đặc tính “ngụy quân tử” này của dân Tàu. Có phải chúng ta đã bị Hán hóa mất rồi nên mới tin vào cái khuôn mẫu “đạo đức phong kiến” kiểu Tàu?

Hay là chúng ta muốn nương vào đó để dễ che dấu tự ái hẹp hòi, kiến thức nông cạn, âm mưu đen tối, muốn chức quyền danh dự nhưng sợ gánh trách nhiệm? Bằng chứng cho thấy một lá thơ phàn nàn của một người tiêu thụ, không cần biết lý lịch của người đó, gởi lên cấp lãnh đạo của một công ty kinh doanh Hoa Kỳ trị giá vài chục tỉ USD chỉ một vài tuần sau là nhận được một lá thơ hồi đáp với những lời xin lỗi vô cùng lễ độ do chính ông Giám Đốc Toàn Quyền của công ty viết tay gởi tới. Bằng chứng cho thấy một lá thơ của một em học sinh gởi đến Tổng Thống Hoa Kỳ chỉ một vài tuần sau là được phúc đáp với lời lẽ ngọt ngào do chính tay vị nguyên thủ quốc gia viết gởi, không cần biết đứa trẻ đó là con của một người di dân hay con của một công nhân nghèo. Với những bằng chứng như vậy, người Mỹ có thực sự xấc xược? Ngược lại, chỉ với một chức vụ cỏn con trong chính quyền, có một chút tài sản nho nhỏ, được một chút học vị kha khá, khoát một cái áo công an vàng vàng lên người là đã muốn buộc bá tánh phải quỳ lạy mình. Những bằng chứng như vậy trong một quốc gia độc tài, thí dụ như Việt Nam, thể hiện cho thái độ gì nếu không là xấc xược?

Những phản bác trên nếu nói là luận điệu bênh vực cho Hoa Kỳ thì không đúng hẳn. Phải nói cho đúng hơn là bênh vực cho cung cách hành sử dân chủ của khối quần chúng Hoa Kỳ cũng như bất cứ khối quần chúng nào trong những quốc gia yêu chuộng tự do dân chủ trên mặt địa cầu; bênh vực cho sự thật và công lý.

Những phản bác trên cũng không là luận điệu cố ý làm thương tổn hòa khí, xúc phạm những người trưởng thượng, hoặc bôi nhọ một chế độ. Chúng được đưa ra ánh sáng để buộc chúng ta phải đánh giá lại một cách đúng đắn về những lập luận không thân thiện đối với Hoa Kỳ. Chúng ta phải giữ công lý trong trái tim và chúng ta phải hiểu đối tượng để từ đó chúng ta có thể tiến về tương lai với những bước đi vững chắc.

Hiện nay có hơn hai triệu người VML đang sống tại hải ngoại và đa số là tại Hoa Kỳ. Sau một thời gian dài “thao dợt” trong dòng sống dân chủ, họ đã là một khối người có một trình độ hiểu biết về qui luật của cuộc chơi dân chủ trên đất nước Hoa Kỳ và có đủ khả năng để “giành banh” trên sân bóng đá của Hoa Kỳ. Dựa vào lực lượng này cộng với khối người VML có mặt trên khắp địa cầu ngày hôm nay, có thể nói khối ba dân tộc VML không còn là một khối người ngờ nghệch như 30 năm trước. Tại sao không tin vào sức mạnh vô giá này?

Định Kiến Thứ Tư: Chơi Với Trung Quốc Vẫn Hơn Vì Trung Quốc Ở Gần, Vả Lại Là Người Á Đông, Còn Hoa Kỳ Ở Xa Và Là Dân Mắt Xanh Mũi Lỏ — Không còn một luận điệu nào sai lầm hơn, về mặt chiến lược! Có thực sự Trung Quốc ở gần sát bên là một may mắn cho VMLMTM, hay ngược lại? Có thực sự chính quyền Trung Cộng là dân Á Đông mà VMLMTM có tiện nghi hơn, hay ngược lại?

Không phải ông Hồ Chí Minh đã từng “đi gần về xa” hay sao? Hồ Chí Minh đã từng kết thân với Trung Cộng lúc đầu [đi gần] để rồi nhận ra cái thực sự đáng sợ là vì tên đàn anh này “vừa thâm vừa độc vừa gần bên” cho nên cuối cùng đã nhất quyết gạt tên đàn anh ở gần qua một bên để kết thân với tên đàn anh Liên Xô ở xa cho chắc ăn [về xa].

Không phải chính Trung Cộng đã cung cấp vũ khí cho lực lượng Khmer Rouge và để cho tên đàn em Polpot thảm sát hơn 1/3 dân số Khmer hay sao?

Tuy là ở gần nhưng có bao nhiêu người biết rõ những gì đang diễn biến tại Tử Cấm Thành Bắc Kinh?

Tuy là dân Á Đông nhưng chính quyền Trung Cộng không ngần ngại giết chết hàng chục triệu người của dân mình không nháy mắt và cả nước đều yên lặng tới độ không dám thở thì liệu cái Á Đông của họ có lợi gì cho những dân tộc nhỏ bé VMLMTM?

Tuy là ở xa nhưng hầu như bất cứ chuyện gì xảy ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ tất cả thế giới đều biết, ngay cả những cuộc hội họp nội bộ rất quan trọng, ngay giây phút nó đang diễn ra.

Tuy là mắt xanh mũi lỏ nhưng bất cứ một người dân vô tội nào trên thế giới bị tù đày tra tấn dã man hoặc một dân tộc nào bị đối xử bất công họ đều lên tiếng can thiệp, có lúc bảo vệ cho cả quyền sống và nhân vị cho chính kẻ thù của đất nước Hoa Kỳ. Liệu cái cách sống quân tử Tàu của Trung Quốc có dám quân tử tới mức đó hay không?

Định Kiến Thứ Năm: Không Chơi Với Trung Quốc Mà Cũng Chả Chơi Với Hoa Kỳ — Không chơi với ai cả tức là đã chơi và chơi một cách ngu xuẩn. Ngày hôm nay những chữ độc lập, tự chủ, tự cường chỉ dành để trang trí và không có nhiều thực dụng. Khi mà toàn quả địa cầu được gọi là “làng” thì không một quốc gia nào có thể thoát ra khỏi sự quan hệ với những quốc gia khác.

Với những quốc gia nhỏ bé kém phát triển, nói không chơi với Trung Quốc cũng không chơi với Hoa Kỳ là một điều khôi hài. Càng khôi hài hơn khi những quốc gia nhỏ bé kém phát triển này nằm sát biên giới Trung Quốc.

Nếu đã có cái nhìn “đại bàng và mảnh long đang rình rập con mồi nằm giữa” và chính mình là con mồi, tuyên bố không chơi với ai cả tức là tuyên bố hai bên cứ mặc tình cấu xé tôi, bên nào cũng được. Nếu đại bàng và mảnh long đều muốn tranh mồi thì con mồi còn có cơ hội sinh tồn. Chỉ e rằng, vì bản chất dân chủ, đại bàng sẽ đập cánh bay đi để lại sau lưng con mồi và mảnh long đang thèm thịt.

Định Kiến Thứ Sáu: Chơi Với Cả Hai Nhưng Không Mật Thiết Với Hoa Kỳ, Vì Sợ Trung Quốc Nổi Giận Hoặc Vì Chỉ Muốn Sự Có Mặt Của Hoa Kỳ Để Hạn Chế Bớt Quyền Lực Trung Quốc — Một sách lược ngoại giao hình thành trên căn bản của định kiến thứ sáu này nghe có vẽ hợp lý. Nhưng suy nghĩ kỷ thì có một cái gì đó không ổn. Thử lắng nghe lời thì thầm này của một cô gái: “Anh Hoa Kỳ vô vàn yêu quí của em ơi. Em yêu tiền anh. Em yêu sức mạnh của anh. Em yêu ngay cả cái cốt lõi của anh [tự do dân chủ]. Nhưng em không muốn trở thành bạn đường của anh. Em không muốn cái cốt lõi của anh xâm nhập và làm hư cái cốt lõi của em [độc tài cộng sản]. Em chỉ muốn anh thương yêu em, bảo vệ em, và cung phụng cho em, vô điều kiện. Chưa hết, người mà em trao thân hàng đêm đích thị là anh hàng xóm tên Trung Quốc, kẻ đang đe dọa anh. Nhưng anh không được quyền bóp cổ hắn. Chỉ được quyền hù hắn thôi. Anh có hiểu sự “bức xúc” tình lý của em không?” Nếu đây là suy nghĩ và lời nói của một cô gái thì chắc chắn cô ta sẽ làm cho người nghe nôn mửa và phán cho một câu rất dứt khoát “cái con đ. ng. này mày nghĩ mày là ai?” Hàm ý trong bao nhiêu đó chắc cũng đã đủ chứ không cần phải triển khai xa hơn.

Định Kiến Thứ Bảy: Chơi Với Cả Hai Và Giữ Thăng Bằng Thế Lực Giữa Trung Quốc Và Hoa Kỳ — Sách lược hình thành trên định kiến thứ bảy này có thể nói là đứng đắn nhưng không khả thi. Không khả thi vì hai lý do. Thứ nhất, cái gọi là giữ thăng bằng thế lực (equilibrium) chỉ hiện hữu khi nội lực của chủ thể đủ mạnh so với sức mạnh của những khách thể rồi tùy theo hoàn cảnh mượn tác lực thuận [có lợi] của một trong hai khách thể cộng với nội lực của chủ thể để triệt tiêu hoặc giảm bớt tác lực nghịch [bất lợi] của khách thể kia, tiếp tục duy trì sự thăng bằng. Nói một cách khác, muốn giữ thăng bằng thế lực “phải có đủ sức mạnh” để làm chuyện cân bằng thế lực hầu duy trì sự thăng bằng trong tư thế chủ động. Nếu không có được sự chủ động đó, sách lược giữ thăng bằng thế lực trở thành là sách lược chơi đánh đu giữa hai thế lực. Thứ hai, sách lược chơi đánh đu –một tay nắm Trung Quốc và một tay nắm Hoa Kỳ– cũng sẽ là không khả thi chỉ vì một bên đưa tay cho nắm chính là Trung Quốc. Chơi đánh đu càng lâu thì những vòi mực của Trung Cộng sẽ càng siết chặt cho đến lúc hoàn toàn không còn khả năng thoát ra. Nếu Hoa Kỳ cũng thả những vòi mực và siết chặt y như Trung Cộng, sách lược chơi đánh đu sẽ nhanh chóng dẫn đến cảnh bị cấu xé đến tan nát.

Nhưng nếu giữ thăng bằng được thì sao? Quần chúng tiếp tục sống dưới một cơ chế điều hành đất nước què quặt? Tiếp tục chấp nhận những lạm dụng và bất công? Tiếp tục nhìn thấy những cảnh bạo hành diễn ra trước mắt? Tiếp tục làm ngơ để tham ô hoành hành? Tiếp tục hít thở không khí của môi trường đầy ô nhiễm?

Cái mà LBĐNAC tìm kiếm là hạnh phúc và thịnh vượng thực sự cho khối dân tộc VMLMTM; thứ hạnh phúc và thịnh vượng chỉ mọc trên mảnh đất nhân bản, dân chủ, pháp trị.

Cái mà LBĐNAC tìm kiếm là sự sinh tồn lâu dài về sau cho khối dân tộc VMLMTM; một điều chỉ thực hiện được với thực lực toàn diện [kinh tế, ngoại giao, quân sự] của chính nó đến từ sự chọn lựa một hướng đi khôn ngoan [chứ không phải từ sự chọn lựa thuận tiện tạm bợ cho qua buổi] để đạt tới thực lực đó.

Đi tới một chọn lựa khôn ngoan không phải là một việc làm tùy thuộc vào cảm tính. Phải nhìn thấy rõ tốc độ, cường độ và trường độ của mọi chiều lực, thuận và nghịch, đã, đang và sẽ tác động lên bối cảnh vận hành (force fields analysis). Phải nhìn thấy rõ hiểm họa, cơ hội, sức mạnh và yếu điểm (swot analysis) của chủ thể và của những khách thể. Phải nhìn thấy rõ những cái “nếu” để tiên liệu hậu quả và dự bị hành động (what if analysis). Phải nhìn thấy rõ đâu là nhân đâu là quả (causual analysis). Phải nhìn thấy rõ khuynh hướng tụ tán của những chiều lực (spectral analysis). Phải nhìn thấy rõ cái nào là chân thực bền vững và cái nào là giả tạo tạm thời.

Và trong số những chọn lựa gọi là khôn ngoan, những chọn lựa đặt trên nền tảng của định kiến thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy chắc chắn là không nằm trong đó.

Lời Cuối
Hiểm họa Trung Cộng, ngay bây giờ và nhiều năm về sau, là một thực trạng không thể chối cãi và rất đáng sợ. Những quốc gia kém phát triển nằm cận kề Trung Quốc không thể tiếp tục chơi trò đánh đu và không thể nhân nhượng với Trung Quốc. Vì chơi đánh đu càng lâu thì những cánh tay mực tuột của Trung Cộng càng siết chặt cho đến lúc hoàn toàn không còn khả năng thoát ra. Cái gọi là sách lược “cân bằng ảnh hưởng giữa hai thế lực Hoa Kỳ và Trung Quốc” sẽ không thực hiện được. Còn cơ hội để làm quyết định “không thể nhân nhượng” Trung Quốc chỉ hiện hữu trong vòng một thời gian ngắn nữa thôi. Khi mà Trung Quốc đã thực hiện xong việc hiện đại hóa bộ máy chiến tranh của nó, khi mà thực lực kinh tế của nó đã lên tới đỉnh cao, khi mà đạo quân thứ năm và những đạo quân ma quỷ của nó đã trèo cao thọc sâu ở những quốc gia khác trên thế giới, khi mà Hoa Kỳ và những cường quốc của khối tự do đều ngần ngại thư hùng quân sự với nó . . . thì lúc đó không còn ai có thể đủ sức để ngăn chận bàn tay của Trung Cộng thò ra để lấy những gì nó muốn lấy. Viễn ảnh đó cũng không xa lắm đâu.

Rồi những thảm họa do Trung Quốc gây ra sẽ đổ ập xuống như những cơn bão lớn. Những dân tộc nhỏ bé sẽ bị tiêu hóa trong dòng thác người, lãnh thổ sẽ bị biến mất trong bước tiến nhất thống Đại Trung Quốc, tài nguyên sẽ bị hút cạn để phục vụ cho Hán tộc. Dầu thảm họa có thực sự xảy ra hay không, chỉ với hai chữ “có thể” cũng đã là một điều quá lớn để tiếp tục ngủ yên.

Thực ra thì thảm họa do Trung Quốc gây ra cho những quốc gia kém phát triển chung quanh đã và đang diễn ra từng ngày với cường độ nhanh hơn tầm ăn dâu. Một mặt Trung cộng thực hiện sách lược “lũng đoạn chính trị, đánh phá kinh tế, thôn tính văn hóa và lấn chiếm lãnh thổ” một mặt khác Trung Cộng rêu rao “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, tiến tới tương lai.” Đối với tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh, hợp tác toàn diện có nghĩa là khống chế toàn diện hoặc hợp lại toàn diện dưới lá cờ Trung Quốc.

Một hy vọng duy nhất, nhờ nương theo cái mạnh của người và vận dụng cái lợi điểm của mình trong bối cảnh đang vận hành, là cố gắng hình thành một LBĐNAC có thực lực để tham dự vào chiến lược BVKCLBTQ. Bao vây, kềm chế và làm bể Trung Quốc thành nhiều mảnh là điều phải làm, và phải làm ngay từ bây giờ. Chỉ có như vậy thì ĐNAC mới không bị nuốt sống, Á Châu mới ổn định và thế giới mới hy vọng tránh được một trận thư hùng vũ lực Hoa-đối-Hoa trong tương lai. Và chỉ có như vậy thì vùng đất VML mới hy vọng không biến thành bãi chiến trường “long tranh hỗ đấu” có thể đẩy ba dân tộc VML đến chỗ diệt vong. Phải nhìn với tầm mắt xa hơn một thế hệ.

Hoa Kỳ không thể đơn độc thực hiện chiến lược BVKCLBTQ. Hoa Kỳ cần những quốc gia đồng minh nằm trong vòng đai BVTC để thực hiện và thực hiện một cách hiệu quả. Và đây chính là cơ hội cho Việt, Miên, Lào, Miến trở mình và Thái, Mã mọc cánh.

Trở mình vì, bên cạnh yếu tố chiến lược, hình thành một LBĐNAC còn là một cách thức tốt đẹp nhất và ổn định nhất để chuyển hóa những cơ chế què quặt lạc hậu, như cơ chế hiện tại của VML, tiến lên một cơ chế mới mang những đặc tính tốt đẹp và cho hiệu năng cao. Nói một cách khác, LBĐNAC có thể trở thành một quần thể và chắc chắn phải là một quần thể nhân bản, dân chủ, và pháp trị. Chỉ có như vậy nó mới có thể khai phóng tất cả tiềm năng hiện hữu trong vòng một thời gian ngắn để tạo dựng một thực lực kinh tế, ngoại giao và quân sự đủ sức đáp ứng cho nhu cầu chiến lược BVKCLBTQ.

Ph. D. Iris Vinh Hayes
***
Ghi Chú:
[1] Hạm đội Bắc Hải, mã số 91283, soái hạm DDG112 Harbin, có tất cả (a) bốn biệt đội tàu lặn (submarines flotillas/detachments) là BĐ1 tại hải cứ Wiangezhuang, BĐ2 mang mã số 92763 tại hải cứ Quindao, BĐ12 tại hải cứ Lushun và BĐ62 không rõ hải cứ; (b) hai hải đội tàu tiêu diệt (destroyer flotillas) mang mã số 92132 và 91381; (c) ba hải đội tàu phóng ngư lôi/hỏa tiễn tấn công (torpedo/missle attack boats flotillas); và (d) một hải đội tàu đổ bộ (amphibious flotilla), một hải đội tàu thả-vớt thủy lôi (mine warfare flotilla), một hải đội tàu tuần tiểu (patrol/speed boat flotilla) và tàu cấp cứu (resue ships). BĐ1 gồm có năm tàu lặn Han và một tàu lặn Xia (Xia-class SSBN type 092) duy nhất trang bị hỏa tiền mang đầu đạn nguyên tử (ballistic missiles w/ nuclear warheads). BĐ2 gồm có mười tàu lặn Romeo. BĐ12 gồm có mười tàu lặn Ming. BĐ62 gồm một tàu lặn Romeo, một tàu lặn Golf và một tàu lặn Song. Lực lượng không quân trực thuộc hạm đội Bắc Hải, mã số 91286, gồm có (a) hai sư đoàn máy bay chiến đấu (fighter divisions); (b) một sư đoàn máy bay đánh bom (bomber division); (c) một trung đoàn máy bay đáp mặt nước (water plane regiment), (d) một trung đoàn huấn luyện (training regiment); (e) một chiến đoàn ra đa (radar brigade); và (f) một đơn vị trực thăng (shipboard helicopter unit). Trường chiến đấu của hạm đội Bắc Hải trải dài từ biên giới Đại Hàn xuống tới ranh giới Shangdong/Jiangsu và trực thuộc quân khu Jinan (Jinan military region order of battle). Tư lệnh của hạm đội Bắc Hải cũng là tư lệnh phó của quân khu Jinan.

2] Hạm đội Đông Hải, soái hạm J302 Chongmingdao, có tất cả (a) hai biệt đội tàu lặn (submarine detachments), BĐ22 tại Xiaqui Dap và BĐ42 tại Xiangshan; (b) ba hải đội tàu tiêu diệt (destroyer flotillas), HĐ3 tại Jiaotu, HĐ6 tại Shanghai và HĐ8 tại Wusong; (c) hai hải đội tàu đổ bộ (amphibious flotillas); (d) một hải đội tàu thả-vớt thủy lôi; (e) hai hải đội tàu tuần tiểu (patrol flotillas), một hải đội mang mã số 91792 biệt hiệu Mosquito đóng tại căn cứ Ningde và hải đội kia, HĐ24, đóng tại Changtu. BĐ22 gồm có mười tàu lặn Romeo. BĐ42 gồm có 4 tàu lặn Kilo và 4 tàu lặn Ming. Lực lượng không quân trực thuộc hạm đội Đông Hải gồm có 2 sư đoàn máy bay, SĐ4 và SĐ6. Trường chiến đấu của hạm đội Đông Hải trải dài từ ranh giới Shangdong/Jiangsu xuống tới ranh giới Fujiang/ Guangdong và trực thuộc quân khu Nanjing. Tư lệnh của hạm đội Đông Hải cũng là tư lệnh phó của quân khu Nanjing.

[3] Hạm đội Nam Hải, soái hạm AOR/AK953 Nanchang có tất cả (a) hai biệt đội tàu lặn là BĐ32 mang mã số 38031 và biệt đội còn lại chưa xác định; (b) ba hải đội tàu tiêu diệt/ hộ tống, một đội mang mã số 91526, còn hai đội kia không rõ; (c) hai hải đội tàu đổ bộ; (d) hai hải đội tàu tuần tiểu, một hải đội đóng tại Guangzhou còn HĐ11 không biết đóng ở đâu; (e) hai chiến đoàn thủy quân lục chiến, CĐ1 mã số 92057 và CĐ2 mã số 92510. BĐ32 gồm có mười tàu lặn Romeo và hơn bốn tàu lặn Ming. Trường chiến đấu của hạm đội Bắc Hải trải dài từ ranh giới Fujiang/ Guangdong xuống tới biên giới Việt Nam và trực thuộc quân khu Guangzhou. Tư lệnh của hạm đội Nam Hải cũng là tư lệnh phó của quân khu Guangzhou. Trong thời chiến tất cả tàu lặn SSBN sẽ nằm dưới sự chỉ huy trực tiếp của hội đồng quân ủy trung ương (Central Military Commission).

[4] Trong số 72 tàu lặn (submarines) gồm (a) 1 SSBN Xia Type 092; (b) 1 SSN Golf Type 031; (c) 1 SSN NewCon Type 093; (d) 5 SSN Han Type 091; (e) 4 SS Kilo; (f) 2 SS Yuan Type 039A; (g) 5 SS Song Type 039; (h) 17 SS Ming Type 035; (i) 35 SS Romeo; và (j) 1 SS Wuhan.[5] Gồm (a) 24 tàu tiêu diệt (destroyers); (b) 45 tàu hộ tống (frigates); (c) 90 tàu phóng hỏa tiễn (guided missle boats); (d) 9 tàu phóng ngư lôi (torpedo boats); (e) 238 tàu tuần (patrol boats); (f) 92 tàu thả-vớt thủy lôi (mine warfare ships); (g) 121 tàu đổ bộ (amphibious warfare ships & carfts); (h) 29 tàu thám thính/ khảo sát (surveillance ships); (i) 134 tàu phụ trợ (support ships); (j) 26 tàu khảo sát.[6] Gồm (a) 68 máy bay đánh bom; (b) 50 máy bay tấn công; (c) 274 máy bay chiến đấu; (d) 51 máy bay diệt tàu lặn; (e) 7 máy bay cấp cứu; (f) 3 máy bay tiếp nhiên liệu trên không; và (g) 74 máy bay vận chuyển.

[7] Thuộc hạm đội Bắc Hải có 3 hải cứ lớn (major bases), 10 hải cứ nhỏ (minor bases), 1 hải cứ tàu lặn, 13 không trạm của hải quân (Navy air stations). Thuộc hạm đội Đông Hải có 3 hải cứ lớn, 10 hải cứ nhỏ, 6 không trạm của hải quân. Thuộc hạm đội Nam Hải có 2 hải cứ lớn, 18 hải cứ nhỏ và 7 không trạm của hải quân.[8] Gồm có 11 xưởng đóng tàu của công ty tư nhân và 15 xưởng đóng tàu của nhà nước.

[9] Trong số 7 quân đoàn không lực gồm có: QĐKL Shenyang, QĐKL Beijing, QĐKL Lanzhou, QĐKL Nanjing, QĐKL Guangzhou, QĐKL Jinan, và QĐKL Chendu.

[10] QĐKL Shenyang gồm có 8 sư đoàn và 4 trung đoàn/chiến đoàn: SĐ1, 4, 16, 21, 30, 39 máy bay chiến đấu; SĐ11, 22 máy bay tấn công; TrĐ4 Biệt Lập máy bay đánh bom; 1 chiến đoàn phòng không (anti-aircrart artillery brigade); 1 trung đoàn ra đa; và 1 chiến đoàn hỏa tiễn. QĐKL Beijing gồm có 10 sư đoàn: SĐ7, 15, 24, 38 máy bay chiến đấu; SĐ50 máy bay tấn công; SĐ34 máy bay vận tải; 1 sư đoàn hỏa tiễn SAM; 2 sư đoàn hỏa tiễn không vệ; và 1 sư đoàn không vệ không rõ thuộc loại nào. QĐKL Lanzhou gồm có 6 sư đoàn và 1 chiến đoàn: SĐ6, 37, 47 máy bay chiến đấu và SĐ25, 36 máy bay đánh bom; SĐ45 máy bay tấn công; và 1 chiến đoàn hỏa tiễn. QĐKL Nanjing gồm có 7 sư đoàn và 4 trung đoàn/chiến đoàn: SĐ3, 14, 26, 29, 49 máy bay chiến đấu; SĐ10 máy bay đánh bom; SĐ28 máy bay tấn công; TrĐ3 Biệt Lập không rõ chức năng, có thể là máy bay đánh bom; 2 chiến đoàn ra đa; và 1 chiến đoàn hỏa tiễn. QĐKL Guangzhou gồm có 9 sư đoàn và 4 trung đoàn/chiến đoàn: SĐ2, 9, 18, 27, 35, 42, 48 máy bay chiến đấu; SĐ8 máy bay đánh bom; SĐ13 vận chuyển; TrĐ2 Biệt Lập không rõ chức năng, có thể là máy bay đánh bom; 1 chiến đoàn SAM; 1 chiến đoàn ra đa; và 1 chiến đoàn hoả tiễn. QĐKL Jinan gồm có 4 sư đoàn và 1 trung đoàn biệt lập: SĐ12, 19, 31 máy bay chiến đấu; SĐ5 máy bay tấn công; và TrĐ1 Biệt Lập không rõ chức năng, có thể là máy bay đánh bom. QĐKL Chendu gồm có 2 sư đoàn và 3 chiến đoàn: SĐ33, 44 máy bay chiến đấu; 1 chiến đoàn ra đa; và 2 chiến đoàn không rõ chức năng

[11] Gồm 120 máy bay đánh bom, 525 máy bay tấn công, 1250 máy bay chiến đấu, 180 máy bay thu lượm tin tức (reconnaissance planes), 14 máy bay tiếp nhiên liệu trên không (tankers), 513 máy bay vận chuyển, 200 máy bay huấn luyện và 100 máy bay trực thăng.

[12] 600 tiểu đoàn hỏa tiển được trang bị với HQ-2, HQ-7, HQ-61, LY-60, PL-9, HY-5 shoulder-launched, QW-1 shoulder-launched, C-300 Liên Xô chế tạo.

[13] Gồm 351 không cảng/không cứ có đường bay trải nhựa (paved runways) và 149 có đường bay không trải nhựa.

[14] Năm 2000.

[15] 426 chiếc năm 1997 dự phóng 5% gia tăng tới năm 2005.

[16] Có 6 loại hoả tiễn phóng từ dưới đất có khả năng mang đầu đạn nguyên tử (land-based nuclear capable ballistic missles) là DF-21/ DF-21X, DF-15, DF-11, DF-5/ DF-5A, DF-4, và DF-3A. Có 40 dàn DF-3/Dongfeng-3 nằm tại Jianshui, Kunming, Yidu, Tonghua, Dengshahe and Lianxiwang và DF-21 đang thay thế cho DF-3 tại Tonghua, Jianshui and Lianxiwang sites. DF-4 là hỏa tiễn có tầm xa hơn (a longer range missile) được đặt tại Da Qaidam, Delingha, Sundian, Tongdao, and Xiao Qaidam. Có 18-26 dàn DF-5A được đặt trong hầm dưới mặt đất hoặc trong hang (deployed in silos and caves) tại Luoning and Xuanhua. DF-5A là hỏa tiển ICBM có tầm xa nhất của Trung Quốc có khả năng phóng tới bất kỳ nơi nào trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Không biết rõ DF-15 and DF-11 được đặt tại đâu. Và, có thể một số lớn hỏa tiễn được cài đặt dọc theo tỉnh Fujian để doạ Taiwan. Phóng từ dưới nước, Trung Cộng có JL-1 là loại hỏa tiễn được lấp vào tàu lặn để phóng (submarine launched ballistic missiles hay là SLBM). Có 12 hỏa tiễn JL-1/Julang-1 lấp vào tàu lặn Xia loại duy nhất của Trung Quốc có khả năng phóng đầu đạn nguyên tử (Xia-class ballistic missile nuclear submarine hay SSBN) và đầu đạn nguyên tử được trữ tại hải cứ tàu lặn Jianggezhuang. Trung Quốc cũng đang chế tạo JL-2, có tầm xa hơn và phỏng theo DF-31 nhưng sử dụng dưới biển.

Trung Quốc và tham vọng làm Hảo Hán

Trung Quốc là một phần năm thế giới. Họ hoàn toàn có lý khi muốn xưng hùng xưng bá với thế giới. TQ muốn làm anh hùng trong thiên hạ, đầu đội trời chân đạp đất, không sợ ai, luôn giúp ích cho đời. Nói theo cách người Tàu: TQ muốn làm Hảo Hán. Tham vọng là thế, nhưng thực tế lại là chuyện khác.

Hơn nửa thế kỷ qua, Bắc Kinh thường xuyên có trong tay 1/5 dân số thế giới. Xứ này cũng là một trong năm cái nôi của nền văn minh cổ đại (cùng với bốn xứ khác là Ai Cập, Ấn Độ, La Mã và Ba Tư).

Năm 1949, Khi Mao Trạch Đông hoàn tất việc đặt ách cai trị lên toàn lãnh thổ, ông đã không dấu diếm tham vọng này. Thoạt tiên là choành choẹ với Liên Xô để làm lãnh tụ của các nước cộng sản. Cũng chính vì vậy, trong suốt những năm 60 của thế kỷ trước, dẫu vẫn leo lẻo: “Bốn phương vô sản đều là anh em” nhưng thực chất quan hệ giữa hai nước đã đóng băng mà đỉnh điểm là cuộc chiến tranh biên giới Xô- Trung diễn ra vào tháng 3/1969, hai bên đã dùng trọng pháo để nói chuyện với nhau khiến hàng ngàn người dân thiệt mạng.

Trong suốt 30 năm đầu của Trung Cộng, dưới cái bóng khổng lồ của Mao, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa bị cuốn vào cơn lốc đấu tranh giai cấp, xem “ai thắng ai” mà hậu quả là gần năm chục triệu người dân vô tội đã phải chết oan ức vì cuộc thí nghiệm vĩ đại đó.

Năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu thâu tóm được quyền lực, đưa học thuyết “Mèo trắng mèo đen” vào đời sống kinh tế, khiến nước này thoát chết, hồi sinh và có da có thịt.

Hơn 30 năm qua, nhờ cái gọi là “Cải cách mở cửa” Trung quốc ngày càng rủng rỉnh tiền bạc, thoả sức chi chác, vung tiền ve vãn các nước đang phát triển. Đầu tiên là tâng bốc Mỹ La tinh, mua chuộc Châu Phi, và không quên thò bàn tay xuống Đông Nam Á.

Với VN, chỉ là bản sao của TQ. Hơn ai hết, Bắc Kinh hiểu Hà Nội như hiểu chính mình vậy. Để mua đứt VN, Trung Quốc chỉ cần chỉ một khoản tiền lẻ để dựng lên một ông Tổng Bí thư thân Tàu.

Điều này giải thích vì sao, năm 1974, TQ cho quân chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của VN. Đặc biệt, năm 1978, cho quân chiếm thêm 9 đảo thuộc quần đảo Trường Sa, khiến hàng trăm bộ đội VN đã đổ máu thảm thương, có người còn không tìm thấy xác. Thế nhưng từ thời anh Mạnh rồi đến anh Trọng vẫn leo lẻo 16 chữ vàng: “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và 4 tốt: “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt,” với TQ. Nếu không ăn tiền của TQ, chẳng ai lại ngu đến thế.

Điều đáng nói là, TQ có thể mua được ông TBT, nhưng với nhân dân VN thì lại là chuyện khác. Với tham vọng xưng hùng xưng bá, khi đã khá giả, Trung Quốc lập tức thay đổi thái độ và hành xử với các quốc gia láng giềng, khu vực. Thái độ TQ là hung hăng, hiếu chiến, nước lớn. Hành động thì ngang ngược, chèn ép, bắt nạt, đe dọa dùng vũ lực.

Tháng 11/2011, Nhật đã bắt giữ thuyền trưởng một tàu đánh cá Trung Quốc vì đã xâm phạm vùng lãnh hải Nhật Bản. TQ đã gầm lên, triệu Đại sứ Nhật Bản tại Bắc Kinh và kịch liệt phản đối, yêu cầu Nhật Bản lập tức thả người và tàu đánh cá, đảm bảo an toàn cho người và tàu Trung Quốc.

Dẫu vẫn nhận hàng trăm tỷ USD vốn ODA từ Nhật Bản mà TQ vẫn ứng xử như vậy, thử hỏi những nước nhỏ khác trong khu vực Trung Quốc coi ra gì. Những quốc gia láng giềng bắt tay thân thiện với TQ đều thấy bất an. Ngoại trừ những kẻ cam chịu làm tay sai cho TQ.

Một nước láng giềng khác nữa của TQ là Triều Tiên. Năm 1953, sau cuộc nội chiến đẫm máu có sự tiếp tay của TQ, nước này bị chia cắt là hai. Nam Hàn dưới sự bảo trợ của Mỹ đã nhanh chóng vượt lên đống tro tàn đổ nát để trở thành một nước công nghiệp mới. Giờ đây, dẫu đang có hàng ngàn dự án FDI vào TQ, dẫu quan hệ thương mại giữ hai nước lên tới hàng chục tỷ USD nhưng Hàn Quốc không thể ngả vào lòng TQ như người anh em phía Bắc.

Riêng Bắc Hàn, vốn là “cùng phe XHCN”, thực chất, Bắc Hàn đang tự cô lập với thế giới, và là nơi để TQ tiêu thụ hàng chất lượng thấp. Bắc Hàn cũng là nơi cung cấp những nguyên liệu quan trọng cho nền công nghiệp TQ. Dẫu là “anh em” nhưng Bắc Hàn cũng đã cảm nhận được sự bất an từ ông anh nhiều tham vọng, từ đó tăng cường quan hệ với Nga để giảm bớt sự lệ thuộc vào TQ.

Đối với các nước Asean, Myanmar là một minh chứng sinh động. Dẫu gần như toàn bộ giới cầm quyền thuộc giới quân đội Myanmar đã bị TQ mua chuộc bằng những đồng tiền hối lộ nhưng khi được thức tỉnh, nước này ngả theo phương Tây đã đành, hơn thế Myanmar còn quyết định ngừng hợp đồng xây thủy điện với TQ khiến ông lớn hàng xóm phản đối quyết liệt.

Với những tham vọng về lãnh thổ, TQ đang mất bạn, láng giềng gần thì tự mình khiến họ xa lánh, cảnh giác, mất lòng tin. Trung Quốc cứu vãn tình thế bằng cách ngăm người này, đe người khác rằng không được theo Mỹ, Nhật…nhưng, đồng tiền mà họ bỏ ra chỉ mua được một vài quan chức chóp bu, còn với dân chúng, người ta trở nên khôn ngoan hơn trong một xã hội mà ngày càng cởi mở thông tin.

Tham vọng làm Hảo Hán của TQ khó trở thành hiện thực khi TQ chưa từ bỏ cách ứng xử áp đặt và tham lam của mình.

Phan Thế Hải

Advertisements
Be the first to start a conversation

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: